Tóm tắt: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một sáng tạo, bước đột phá lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Bởi vậy, đây là một trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động liên tục xuyên tạc, bóp méo nhằm chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài viết góp phần nhận diện những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, đồng thời đấu tranh phản bác, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc đường lối đổi mới của Đảng, trong đó có đường lối xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
TS NGUYỄN VĂN PHÚ
Trường Chính trị Tô Hiệu, thành phố Hải Phòng
.png)
1.Mở đầu
Nhằm âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tìm mọi thủ đoạn tấn công, chống phá bản chất của Đảng, Nhà nước, các nguyên tắc, cơ chế hoạt động và cơ sở chính trị của hệ thống chính trị. Một trong những thủ đoạn đó là, đưa ra những quan điểm, luận điệu xuyên tạc, nhằm bác bỏ, phủ nhận vai trò, tính chất pháp quyền của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cho rằng, nhà nước pháp quyền là giá trị tiến bộ đã được các nước tư bản vận dụng, xây dựng, thực hiện từ lâu, bây giờ Việt Nam đặt lại vấn đề xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền là đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Chúng xuyên tạc Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ có “đảng trị” chứ không có tính pháp quyền, xã hội không có tự do, dân chủ, nhân quyền. Họ cho rằng chỉ có nhà nước pháp quyền tư bản, không có khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, tuyệt đối hóa mô hình “tam quyền phân lập”. Những âm mưu, thủ đoạn chống phá rất thâm độc, nguy hiểm trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị, đổi mới phương thức, lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển.
Tình hình đó đặt ra yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân cần nhận diện rõ, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ chế độ.
2. Nội dung
2.1. Nhận diện những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Có thể thấy, xuyên xuốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một “trọng điểm” mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn tập trung chống phá. Chúng tìm mọi cách tung ra các luận điệu sai trái, bịa đặt nhằm công kích vào bản chất, vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đài châu Á tự do (RFA) viết: “Tại sao cứ phải gắn “đuôi” xã hội chủ nghĩa vào “Nhà nước pháp quyền”? (Báo An ninh Thủ đô, 2022). Trang https://www.rfa.org đã đăng những thông tin lập lờ và luận điệu sai trái để đặt vấn đề “ở Việt Nam thì cương lĩnh của Đảng là đứng trên Hiến pháp” (Báo An ninh Thủ đô, 2022). Thậm chí, họ còn ngang nhiên xuyên tạc “Cương lĩnh của Đảng đặt trên Hiến pháp, nghĩa là Cương lĩnh được soạn bởi 200 Ủy viên Trung ương Đảng không do dân bầu chọn lại đứng trên cả Hiến pháp” (Báo An ninh Thủ đô, 2022). Cuối cùng, họ mưu toan chống phá đằng sau những luận điệu xuyên tạc khi cho rằng “Việt Nam muốn chứng tỏ hội nhập nhưng lại có xã hội chủ nghĩa đính kèm để làm chỗ dựa khi họ muốn làm điều gì có lợi cho Đảng của họ chứ không phải có lợi cho quốc gia, dân tộc” (Báo An ninh Thủ đô, 2022).
Hùa theo những luận điệu đó, trên một số trang mạng xã hội, các thế lực thù địch đã đăng tải, phát tán nhiều tin, bài, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam. Chẳng hạn như có luận điệu cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật” (Nguyễn Sỹ Họa - Đàm Quang Đức, 2023). Từ luận điệu xuyên tạc đó, chúng đi tới phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, trực tiếp phá hoại, vô hiệu hóa cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Từ đó, gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm tổn hại đến mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Ðảng với Nhà nước và nhân dân; làm suy giảm sút niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Phải khẳng định rằng, tất cả những luận điệu của các thế lực thù địch là vô căn cứ, phản khoa học, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước khác hẳn về “chất” so với nhà nước tư sản và các hình thức nhà nước của giai cấp thống trị, bóc lột đã có trong lịch sử - nhà nước mà quyền lực thuộc về thiểu số giai cấp thống trị, bóc lột (chủ nô, phong kiến, tư sản). Đảng Cộng sản lãnh đạo Nhà nước là đặc trưng bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chỉ có đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trên lập trường giai cấp công nhân, với đường lối đúng đắn thì Nhà nước xã hội chủ nghĩa mới thực sự là Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Với luận điệu cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên Hiến pháp và pháp luật”, hay “Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội là chuyên quyền, độc đoán, vi phạm dân chủ”, về thực chất, các thế lực thù địch đã cố ý xuyên tạc mối quan hệ giữa Đảng và hệ thống chính trị, phủ nhận cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đó là sự bịa đặt vô căn cứ, bởi trong mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đảng giữ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là hạt nhân và là một bộ phận của hệ thống ấy. Về cơ chế vận hành, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vận hành theo cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; các tổ chức đảng, đảng viên không đứng ngoài, đứng trên pháp luật. Đảng kiểm tra các tổ chức của Đảng và đảng viên trong các cơ quan, tổ chức nhà nước về việc chấp hành và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương và các nghị quyết của Đảng trên thực tế. Hoạt động lãnh đạo của Đảng đều được thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước được Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025) quy định rõ trong Điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. (Quốc hội, 2025).
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không chỉ là tất yếu khách quan trên phương diện lý luận mà được minh chứng sống động qua thực tiễn các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam: Từ khi ra đời, Đảng lãnh đạo nhân dân ta thực hiện cuọc cách mạng giải phóng dân tộc, tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất”, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Đảng lãnh đạo nhân dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu” kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Trước năm 1986, khi đất nước vô cùng khó khăn của thời hậu chiến, các thế lực phản động quốc tế chống phá, khủng hoảng kinh tế - xã hội, Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới. Qua gần 40 năm đổi mới, Đảng đã lãnh đạo nhân dân xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đạt được những thành tựu to lớn: Kinh tế phát triển vượt bậc, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân từng bước được xây dựng và không ngừng hoàn thiện; hội nhập quốc tế sâu rộng và uy tín quốc tế gia tăng,…
Như vậy, cả lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam luôn chứng minh tính đúng đắn về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không ai, không thế lực nào có thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên đó.
2.2. Luận cứ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam kế thừa các giá trị phổ biến của lịch sử nhân loại về nhà nước và pháp luật. Nhà nước pháp quyền không phải là sản phẩm riêng biệt của chủ nghĩa tư bản
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã hình thành từ thời cổ đại, gắn với tư tưởng phát triển dân chủ, loại trừ chuyên quyền, độc tài, vô chính phủ, vô pháp luật, được thể hiện trong điểm của các nhà tư tưởng tiêu biểu như: Sokrates (469-399 trước Công nguyên): Ông ủng hộ triệt để nguyên tắc tuân thủ pháp luật và cho rằng, xã hội không thể tồn tại nếu các đạo luật bất lực; giá trị cao nhất là công lý, sự tuân thủ pháp luật của nhà nước. Platon (427-347 trước Công nguyên) nêu luận điểm nổi tiếng: “Tôi nhìn thấy sự sụp đổ mau chóng của nhà nước ở nơi nào mà luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của một ai đó” (Nxb Văn hóa thông tin, 2005, tr.16). Aristoteles (384-322 trước Công nguyên) lại cho rằng: Đạo đức phải phục vụ pháp luật; hành động công bằng là hành động theo pháp luật…
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền thời cổ đại chứa đựng những giá trị cốt lõi như quyền lực nhà nước thuộc về dân; dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, dù khái niệm nhân dân có mang tính lịch sử; những người cầm quyền, dù họ là ai, cũng không có quyền mà chỉ được ủy quyền; người cầm quyền phải biết dựa vào dân...
Quyền lực nhà nước phải được kiểm soát và hạn chế. Những quan điểm, tư tưởng về nhà nước pháp quyền thời cổ đại được tiếp tục phát triển, nhất là trong thời kỳ các cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế, độc tài ở châu Âu thế kỷ XVII, XVIII. Trong thời kỳ này, tư tưởng về nhà nước pháp quyền được phát triển khá phong phú, toàn diện, hình thành hệ thống quan điểm trong các học thuyết chính trị - pháp lý, tiêu biểu là quan điểm của các nhà tư tưởng, lý luận như: Theo John Locke (1632-1704), quyền tự do, bình đẳng và sở hữu là quyền tự nhiên của con người và không thể bị tước đoạt; Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ các quyền của con người, bảo vệ pháp luật và xử lý các hành vi xâm phạm quyền con người. Charles Louis Montesquieu (1689-1755), lập luận về sự cần thiết phải có pháp luật và tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, về sự cần thiết phải phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. J.J.Rousseau (1712-1778) đề cao chủ quyền của nhân dân; quyền lực nhà nước phải có sự phân chia rành mạch giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp; pháp luật phải kết tinh ý chí và lợi ích của nhân dân, phải bảo đảm tính độc lập của tòa án. Trong thời kỳ này, ngoài các nhà lý luận nói trên, nhiều nhà tư tưởng, triết học, luật học khác ở châu Mỹ cũng góp phần phát triển các tư tưởng về nhà nước pháp quyền như Thomas Jefferson (1743-1826) - tác giả của bản Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ (1776); Thomas Paine (1737-1809); John Adams (1735-1826); James Madison (1752-1836)...
Như vậy, các nhà tư tưởng trong thời kỳ này tuy có những cách tiếp cận khác nhau và còn có những hạn chế về thế giới quan nhưng đều đề cập đến vai trò, vị trí, mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật. Họ đều cho rằng, nhà nước phải tuân theo pháp luật, đặt mình dưới pháp luật; pháp luật phải phản ánh được lợi ích và ý chí chung của nhân dân, bảo đảm mọi người bình đẳng trước pháp luật mới bảo đảm được tự do, dân chủ và chủ quyền của nhân dân.
Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng, kế thừa những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Khi nghiên cứu để xây dựng xã hội mới và nhà nước kiểu mới, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã thừa kế và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới. Tư tưởng cốt lõi của nhà nước trong học thuyết Mác - Lênin tập trung vào: (1) Bản chất dân chủ trong nhà nước; (2) Chủ thể quyền lực nhà nước phải thuộc về đa số quần chúng nhân dân; (3) Bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân rộng rãi trong nhà nước pháp quyền; (4) Điều kiện cơ bản để xây dựng nhà nước vô sản.
Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền, xây dựng nhà nước và pháp luật ở nước ta. Mặc dù trong di sản của Người không đề cập đến khái niệm cụ thể “nhà nước pháp quyền”, “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, nhưng xét theo những yêu cầu và nội dung khoa học của nhà nước pháp quyền thì những tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước, pháp luật kiểu mới đã thể hiện khá đầy đủ, sâu sắc những đặc trưng, nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Hồ Chí Minh cho rằng: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm các đặc trưng cơ bản: Một là, Nhà nước Việt Nam mới là nhà nước quyền lực thuộc về nhân dân. Đó là nhà nước mà trong đó các quyền tự do của con người được ghi nhận, được bảo đảm. Hai là, Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân. Ba là, Nhà nước Việt Nam quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Theo Hồ Chí Minh, pháp luật là của nhân dân và để phục vụ nhân dân, mọi quyền hạn, công lý “đều là nơi dân”; pháp luật là công cụ để củng cố nhà nước, duy trì trật tự xã hội.
Ba là, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa luôn gắn liền với tiến trình phát triển đất nước, vừa mang giá trị phổ biến vừa mang tính đặc thù phù hợp với Việt Nam
Cùng với quá trình phát triển nhận thức lý luận, tổng kết kinh nghiệm xây dựng nhà nước, quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được hình thành và phát triển. Từ năm 1986, quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền ngày càng được hoàn chỉnh với việc đẩy mạnh cải cách, mở cửa, hội nhập quốc tế, hướng đến việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã đề ra chủ trương tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước; sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, của chính quyền địa phương các cấp. Tuy về mặt câu chữ, Đại hội chưa nêu rõ xây dựng nhà nước pháp quyền, nhưng về mặt nội hàm thể hiện khá đầy đủ tinh thần chỉ đạo xây dựng nhà nước pháp quyền. Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” và nêu cụ thể, toàn diện những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam: “Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2007, tr.224)
Đại hội VIII, IX, X của Đảng, tiếp tục khẳng định các quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), đã xác định mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng dựa trên 8 đặc trưng và “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” là một đặc trưng cơ bản. Thể chế hóa quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (Quốc hội, 2013).
Đại hội XII của Đảng (năm 2016) nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị” (ĐCSVN, 2016, tr.175). Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) khẳng định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị” (ĐCSVN, 2021, tr.174).
Thực hiện quan điểm trên, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, lần đầu tiên chúng ta đã thống nhất nhận thức về các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là: (1) Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; (2) Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; (3) Quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật; (4) Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; (5) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; (6) Hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, được thực hiện nghiêm minh và nhất quán; (7) Bảo đảm tính độc lập của Tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; (8) Tôn trọng và bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế.
Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt lên hàng đầu quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Quá trình đổi mới tư duy, bổ sung, hoàn thiện cả về lý luận cũng như thực tiễn về xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta đã được xác định ngày càng rõ hơn.
Bốn là, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quy luật phát triển tất yếu của Nhà nước Việt Nam.
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quy luật phát triển tất yếu của Nhà nước Việt Nam, là ước mơ, khát vọng và sự lựa chọn của nhân dân, phù hợp với các xu hướng phát triển nhà nước trên thế giới, đã được Đảng ta cân nhắc kỹ lưỡng. Trong điều kiện bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước có những biến đổi to lớn, toàn diện và sâu sắc hiện nay, cần tập trung xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam để phát huy những giá trị tiến bộ, phục vụ phát triển đất nước.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam khác nhà nước pháp quyền tư sản ở chỗ, pháp quyền dưới chế độ tư bản về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Trong khi đó, về bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm giữ vững và phát huy mạnh mẽ hơn nữa tính nhân dân, tính dân chủ và nhân văn của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tính nhân dân là đặc trưng thể hiện sự khác biệt về mặt bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam so với nhà nước pháp quyền tư sản: “Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân” (Nguyễn Phú Trọng, 2021, tr.29).
Trong bài viết: “Phát huy tính Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, nhân dân là chủ thể của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi công dân tích cực, chủ động tham gia vào công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật, có ý thức thượng tôn pháp luật thì sẽ tạo nên sức mạnh của cả hệ thống chính trị để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” (Tô Lâm, 2024).
Như vậy, chính “tính nhân dân” đã làm cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có được tính dân chủ thực sự và tính nhân văn sâu sắc.
Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích, mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của các mạng Việt Nam.
3. Kết luận
Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị gia tăng các hoạt động chống phá với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, đặc biệt trên không gian mạng. Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn có trách nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch liên quan đến Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là, cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về bản chất, đặc trưng và giá trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quản lý xã hội bằng pháp luật, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Trên cơ sở đó, tuyệt đối tin tưởng, không dao động, hoài nghi trước những luận điệu xuyên tạc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận tính dân chủ, tiến bộ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên chủ động, không ngừng học tập, nghiên cứu lý luận và thực tiễn về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, cần trang bị kỹ năng nhận diện thông tin sai lệch, tin giả. Đồng thời, cần kịp thời cập nhật thông tin chính thống, khách quan về những vấn đề dư luận xã hội quan tâm; so sánh, đối chiếu nguồn tin, từ đó nâng cao khả năng “miễn dịch” trước thông tin xấu độc. Cán bộ, đảng viên tích cực tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đóng góp ý kiến xây dựng cơ chế, chính sách liên quan đến hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc phản bác phải dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, quy định của pháp luật và thực tiễn sinh động của đất nước; qua đó góp phần làm sáng tỏ tính ưu việt, phù hợp của mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thực hiện tốt những trách nhiệm đó, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đóng góp vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
An ninh Thủ đô (15/07/2022). Bóc trần thủ đoạn phủ nhận Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, .
ĐCSVN (2007). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 53). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Phú Trọng (2021). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Sỹ Họa, Đàm Quang Đức (28/03/2023). Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trên hiến pháp và pháp luật” - luận điệu vô căn cứ cần đấu tranh bác bỏ. .
Quốc hội (2025). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quốc hội (2013). Hiến pháp năm 2013.
Tô Lâm (20/10/2024). Phát huy tính đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. https://tapchicongsan.org.vn.
Plato, Nhà nước lý tưởng trong cuốn “101 tác phẩm có ảnh hưởng nhận thức nhân loại” (2005). Nxb Văn hóa thông tin.