DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5199
Tóm tắt: Tín ngưỡng dân gian là bộ phận quan trọng của đời sống văn hóa Nam Bộ, là nơi lưu giữ nhiều giá trị lịch sử, bản sắc, đạo lý, tri thức dân gian và gắn kết cộng đồng. Theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, bài viết nhận diện giá trị văn hóa tứ tín ngưỡng, dân gian như một nguồn lực, làm rõ các điều kiện phát huy giá trị thông qua thực hành, trao truyền, sự tham gia của cộng đồng và tổ chức phù hợp; qua đó gắn bảo tồn với phát huy, bảo đảm lợi ích cộng đồng và phát triển bền vững.
NCS NGUYỄN HẠNH QUYỂN
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa, con người là “nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026). Nghị quyết thể hiện bước phát triển trong nhận thức khi nhấn mạnh yêu cầu nhận diện, huy động và phát huy các nguồn lực văn hóa, đồng thời gắn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa với phát triển đất nước.
Giá trị văn hóa từ tín ngưỡng dân gian Nam Bộ được hình thành và phát triển trong quá trình khai phá, định cư và cộng cư, tạo nên một đời sống tín ngưỡng đa dạng, gắn bó với lịch sử, bản sắc và đời sống của các cộng đồng cư dân. Những giá trị văn hóa được lưu giữ trong tín ngưỡng có khả năng đóng góp cho giáo dục truyền thống, xây dựng đời sống văn hóa, củng cố sự gắn kết cộng đồng và phát triển các hoạt động công nghiệp văn hóa, du lịch. Trong bối cảnh đó, vấn đề đặt ra là nhận diện những giá trị văn hóa của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ có khả năng trở thành nguồn lực, làm rõ các điều kiện để phát huy những giá trị đó và xác định phương thức phát huy phù hợp với đặc điểm của từng loại hình, vai trò của cộng đồng và đúng định hướng phát triển văn hóa theo Nghị quyết số 80-NQ/TW.
2.1. Nhận diện nguồn lực văn hóa từ tín ngưỡng dân gian Nam Bộ
a) Tiếp cận lý luận từ “giá trị văn hóa” đến “nguồn lực văn hóa”
Để nhận diện nguồn lực văn hóa từ tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, trước hết cần phân biệt giữa giá trị văn hóa và nguồn lực văn hóa. Giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, được sáng tạo và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, ẩn chứa qua bản sắc, di sản, biểu tượng và các chuẩn mực văn hóa, qua đó góp phần định hướng và điều tiết đời sống xã hội (Ngô Đức Thịnh, 2010). Trong tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, những giá trị này được lưu giữ và biểu hiện qua hệ thống niềm tin, nghi lễ, lễ hội, không gian thờ tự và các tri thức dân gian.
Từ giá trị đến nguồn lực là một quá trình vận động và chuyển hóa. Nguồn lực văn hóa không chỉ là những giá trị văn hóa đang được lưu giữ mà còn là khả năng huy động, tổ chức và phát huy các giá trị đó trong đời sống xã hội. Khả năng này phụ thuộc vào sức sống của thực hành, năng lực của chủ thể, điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường thể chế và phương thức tổ chức (Trịnh Thị Hạnh, 2025). Vì vậy, giá trị văn hóa không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với nguồn lực văn hóa. Một giá trị dù được cộng đồng thừa nhận và lưu giữ vẫn có thể chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng. Giá trị đó chỉ có thể được phát huy như một nguồn lực khi được duy trì trong thực hành, trao truyền và gắn với những điều kiện tổ chức phù hợp với đời sống xã hội.
Quá trình chuyển hóa giá trị thành nguồn lực được thực hiện trước hết thông qua thực hành và trao truyền. Cộng đồng là chủ thể trực tiếp duy trì và tái tạo các giá trị tín ngưỡng; Nhà nước và các chủ thể xã hội tạo lập môi trường, định hướng và hỗ trợ để những giá trị đó được phát huy phù hợp với đời sống đương đại. Trong quá trình này, thực hành và trao truyền là điều kiện trực tiếp để giá trị được duy trì, còn tổ chức và các điều kiện xã hội tạo khả năng để giá trị được huy động và phát huy.
Từ đó, nguồn lực văn hóa từ tín ngưỡng dân gian có thể được hiểu là những giá trị văn hóa gắn với tín ngưỡng đã được duy trì trong thực hành và có khả năng được cộng đồng, cùng với sự hỗ trợ và định hướng của các chủ thể xã hội, huy động, tổ chức và phát huy để tạo ra những đóng góp cụ thể cho đời sống xã hội và phát triển đất nước. Phát huy nguồn lực tín ngưỡng vì vậy cần gắn khả năng tạo ra những đóng góp về kinh tế, xã hội và văn hóa với duy trì sức sống của thực hành, bảo đảm sự trao truyền và tạo điều kiện để các giá trị văn hóa tiếp tục được phát huy trong đời sống đương đại.
b) Những phương diện của nguồn lực văn hóa từ tín ngưỡng dân gian Nam Bộ
Tín ngưỡng dân gian là một không gian văn hóa quan trọng để cộng đồng lưu giữ và biểu đạt những nhận thức về quá trình hình thành và phát triển. Những nhận thức đó được thể hiện qua đối tượng thờ phụng, truyền thuyết, thần tích, nghi lễ, lễ hội và không gian tín ngưỡng. Trong đó, cần phân biệt giữa những sự kiện, nhân vật có cơ sở lịch sử với truyền thuyết, niềm tin và những diễn giải được cộng đồng bồi đắp qua thời gian. Giá trị của tín ngưỡng ở đây thể hiện ở khả năng lưu giữ ký ức về quá khứ, đồng thời góp phần duy trì bản sắc, các giá trị đạo lý và giáo dục truyền thống trong đời sống cộng đồng.
Một là, nguồn lực từ ký ức lịch sử, bản sắc và giáo dục truyền thống. Ở Nam Bộ, những giá trị về ký ức lịch sử, bản sắc và giáo dục truyền thống được lưu giữ và biểu đạt qua nhiều loại hình tín ngưỡng gắn liền với tiến trình khai phá, xác lập chủ quyền, xây dựng cộng đồng và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc qua các thời kỳ lịch sử. Lễ hội Kỳ yên tại các đình làng duy trì việc tri ân Thành hoàng, tiền hiền, hậu hiền và những người có công với cộng đồng hay tín ngưỡng thờ Nguyễn Trung Trực gắn với tinh thần chống ngoại xâm và lòng trung nghĩa. Các giá trị đó được lưu giữ trong thần tích, văn tế và tiếp tục được thể hiện qua nghi lễ, lễ hội cùng sự tham gia của cộng đồng. Thông qua thực hành và trao truyền, cộng đồng tiếp tục duy trì và tái tạo những giá trị lịch sử, đạo lý và bản sắc trong đời sống đương đại.
Giá trị này phù hợp với định hướng của Nghị quyết số 80-NQ/TW gắn với “hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026), “phát huy truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026). Thông qua việc tưởng niệm, tri ân những người có công với cộng đồng, các giá trị yêu nước, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước được duy trì, bồi đắp và trao truyền trong đời sống. Qua đó, các giá trị văn hóa được lưu giữ trong tín ngưỡng có thể góp phần hình thành sức mạnh nội sinh, bồi đắp phẩm chất, đạo đức và ý thức trách nhiệm của con người Việt Nam trong đời sống hiện đại. Việc phát huy nguồn lực từ ký ức lịch sử trong tín ngưỡng cần chú trọng những giá trị lịch sử, nhân văn, đạo lý và bản sắc được cộng đồng lưu giữ, thực hành và trao truyền. Qua đó, ký ức về quá trình hình thành cộng đồng, những người có công và các giá trị đạo lý được tiếp tục phát huy trong giáo dục truyền thống, xây dựng đời sống văn hóa và bồi đắp ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước.
Hai là, nguồn lực cộng đồng và xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương. Nguồn lực cộng đồng của tín ngưỡng thể hiện trước hết ở năng lực tự tổ chức, phối hợp và huy động sự tham gia của người dân trong duy trì các thực hành văn hóa. Việc chuẩn bị nghi lễ, chăm sóc không gian thờ tự và tổ chức lễ hội đòi hỏi sự phối hợp của nhiều chủ thể, qua đó hình thành kinh nghiệm tổ chức, duy trì quan hệ xã hội và thực hiện trách nhiệm đối với công việc chung.
Tại các đình làng Nam Bộ, tiêu biểu là đình Bình Thủy ở Cần Thơ cho thấy vai trò của cộng đồng trong duy trì và tổ chức đời sống tín ngưỡng. Nơi đây, việc tổ chức Lễ hội Kỳ yên có sự tham gia của Ban Quý tế, chính quyền địa phương và các lực lượng xã hội, gắn với các hoạt động văn hóa, thể thao và diễn xướng dân gian, qua đó mở rộng sự tham gia của người dân và gắn thực hành tín ngưỡng với đời sống văn hóa ở cơ sở (Nhật Quỳ, 2026).
Qua thực hành tín ngưỡng, những kinh nghiệm phối hợp, tổ chức và duy trì hoạt động chung được củng cố, góp phần tăng cường quan hệ xã hội và tạo môi trường trao truyền các giá trị văn hóa. Như vậy, nguồn lực cộng đồng không nằm đơn thuần ở số lượng người tham gia mà ở khả năng huy động nhân lực, kinh nghiệm, trách nhiệm và sự phối hợp để duy trì đời sống tín ngưỡng. Đây là nguồn lực xã hội quan trọng giúp các thực hành tín ngưỡng thích ứng với những biến đổi của đời sống và tiếp tục được duy trì trong cộng đồng.
Ba là, nguồn lực sáng tạo và phát triển các sản phẩm, dịch vụ văn hóa. Tín ngưỡng dân gian chứa đựng nhiều giá trị, biểu tượng, câu chuyện, hình tượng, lễ hội và tri thức dân gian có khả năng trở thành chất liệu cho hoạt động sáng tạo văn hóa. Những chất liệu này có thể được lựa chọn, tái tạo và chuyển hóa thành các hình thức biểu đạt phù hợp với đời sống đương đại, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận và lan tỏa các giá trị tín ngưỡng. Khả năng này phụ thuộc vào năng lực sáng tạo, phương thức tổ chức và điều kiện công nghệ, thị trường. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam (An Giang) cho thấy khả năng kết nối thực hành tín ngưỡng với các hoạt động văn hóa, du lịch và dịch vụ, qua đó mở rộng không gian tiếp nhận và phát huy các giá trị văn hóa gắn với lễ hội và địa điểm tín ngưỡng (Hồ Thị Đào & Nguyễn Quốc Bình, 2021). Tuy nhiên, việc gia tăng lượng khách và mở rộng các hoạt động dịch vụ mới chủ yếu phản ánh khả năng khai thác giá trị và không gian di sản, chưa đồng nghĩa với việc hình thành sản phẩm công nghiệp văn hóa theo nghĩa đầy đủ. Để giá trị tín ngưỡng tham gia sâu hơn vào công nghiệp văn hóa, cần có quá trình sáng tạo, tổ chức và chuyển hóa thành những sản phẩm đáp ứng nhu cầu xã hội.
Theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, phát triển công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, du lịch văn hóa thông qua việc “phát triển sản phẩm du lịch mang bản sắc văn hoá, giàu trải nghiệm” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026), tạo thêm không gian để các giá trị tín ngưỡng được phát huy trong đời sống đương đại. Nghi lễ, lễ hội và tri thức dân gian có thể trở thành chất liệu cho văn học, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, truyền thông số và các hình thức trải nghiệm văn hóa. Tuy nhiên, khả năng chuyển hóa này không đồng đều giữa các loại hình tín ngưỡng và phụ thuộc vào đặc điểm của từng cộng đồng, sức sống của thực hành cũng như năng lực sáng tạo và tổ chức.
Bốn là, nguồn lực gắn bảo tồn với phát triển và sinh kế cộng đồng. Tín ngưỡng dân gian có khả năng kết nối giá trị văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng sinh kế. Không gian tín ngưỡng, lễ hội và các hoạt động văn hóa liên quan có thể thu hút du khách, thúc đẩy dịch vụ và tạo thêm cơ hội việc làm cho người dân địa phương. Tại Tây Ninh, Khu du lịch quốc gia Núi Bà Đen năm 2025 đón hơn 4,2 triệu lượt khách, đạt doanh thu gần 1.500 tỷ đồng (Vũ Nguyệt & Quang Khải, 2025). Hoạt động du lịch gắn với lễ hội góp phần thúc đẩy các dịch vụ phục vụ du khách, quảng bá sản phẩm địa phương và mở rộng các hoạt động thương mại, dịch vụ liên quan đến du lịch. Qua đó, không gian tín ngưỡng có thể tạo ra những tác động kinh tế vượt ra ngoài phạm vi cơ sở thờ tự.
Tuy nhiên, lượng khách và doanh thu mới phản ánh quy mô hoạt động kinh tế, chưa đủ để khẳng định hiệu quả phát huy nguồn lực văn hóa đối với cộng đồng. Vì vậy, cần phân biệt giữa hiệu quả kinh tế của điểm đến và khả năng tạo sinh kế cho cộng đồng. Hiệu quả kinh tế chỉ thực sự trở thành một thành tố của nguồn lực văn hóa khi hoạt động phát triển đồng thời tạo điều kiện duy trì giá trị văn hóa và đem lại lợi ích cho cộng đồng gắn với không gian tín ngưỡng.
Cách tiếp cận này phù hợp với Nghị quyết số 80-NQ/TW khi đặt yêu cầu gắn bảo tồn, tôn tạo và phát huy di sản với phát triển bền vững, sinh kế cộng đồng, du lịch văn hóa và kinh tế di sản (Ban Chấp hành Trung ương, 2026). Đồng thời, cần bảo đảm ranh giới giữa khai thác giá trị văn hóa với thương mại hóa các thực hành tín ngưỡng, nhất là đối với những yếu tố mang tính thiêng. Theo đó, phát huy nguồn lực kinh tế từ tín ngưỡng cần hướng tới sự kết hợp giữa bảo tồn giá trị, phát triển sinh kế và tạo lợi ích kinh tế, trong đó lợi ích từ phát triển có khả năng quay trở lại hỗ trợ duy trì thực hành và không gian văn hóa.
Phát huy nguồn lực văn hóa từ tín ngưỡng dân gian Nam Bộ cần bảo đảm sự hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa duy trì tính thiêng, đáp ứng nhu cầu của đời sống đương đại, giữa lợi ích kinh tế giá trị văn hóa, xã hội của cộng đồng. Phát huy nguồn lực không đồng nghĩa với khai thác tối đa mọi yếu tố tín ngưỡng, mà là lựa chọn và tổ chức những giá trị có khả năng đóng góp cho đời sống xã hội trên cơ sở bảo đảm sức sống của thực hành và vai trò chủ thể của cộng đồng. Theo đó, cần hình thành cơ chế trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo thể chế và điều tiết; cộng đồng là chủ thể thực hành, trao truyền và tham gia quyết định việc phát huy các giá trị văn hóa; các doanh nghiệp và lực lượng sáng tạo tham gia tổ chức, phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường trên nền tảng tôn trọng những giá trị cốt lõi của tín ngưỡng. Trên cơ sở đó, cần tập trung vào các giải pháp sau:
Một là, nhận diện đúng giá trị và khả năng phát huy nguồn lực từ tín ngưỡng dân gian. Phát huy nguồn lực tín ngưỡng trước hết phải dựa trên hệ thống tiêu chí nhận diện cụ thể đối với từng loại hình, không gian và cộng đồng. Cần xác định những giá trị cốt lõi cần được bảo vệ và trao truyền; những yếu tố có khả năng phát huy trong giáo dục, xây dựng đời sống văn hóa, sáng tạo và du lịch; đồng thời phân định những thực hành và yếu tố thiêng cần được tôn trọng, bảo lưu trong phạm vi cộng đồng. Việc nhận diện cần đánh giá sức sống của thực hành, khả năng trao truyền, mức độ tham gia của cộng đồng, điều kiện không gian, nhu cầu xã hội và năng lực tổ chức phát huy. Trên cơ sở đó, có thể lựa chọn phương thức phát huy phù hợp với đặc điểm của từng loại hình tín ngưỡng, tránh khai thác dàn trải hoặc áp dụng một mô hình chung cho các cộng đồng khác nhau. Định hướng này phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết số 80-NQ/TW về “nhận diện đầy đủ và khai thác hiệu quả tài nguyên văn hoá; lấy di sản văn hoá là trung tâm... hướng đến việc bảo tồn, phát huy, phát triển bền vững các giá trị văn hoá” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026).
Hai là, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng và bảo đảm tính liên tục của thực hành, trao truyền. Phát huy nguồn lực cộng đồng cần chuyển từ sự tham gia mang tính hưởng ứng sang sự tham gia thực chất vào quản lý, tổ chức và quyết định những vấn đề liên quan đến đời sống tín ngưỡng. Theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, cần “tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia sản xuất, tiêu dùng, phản biện và chia sẻ lợi ích từ tài nguyên văn hoá” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026). Đối với tín ngưỡng dân gian, điều này đòi hỏi hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa chính quyền địa phương với các tổ chức đại diện và cộng đồng thực hành; tăng cường hỗ trợ về chuyên môn, tư liệu, đào tạo và tổ chức; đồng thời phát huy năng lực tự quản của cộng đồng trong những hoạt động phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với các thiết chế tín ngưỡng có tổ chức quản lý cộng đồng như Ban Quý tế, cần tạo điều kiện để lực lượng này tham gia thực chất vào việc duy trì nghi lễ, chăm sóc không gian thờ tự, tổ chức lễ hội và trao truyền các giá trị văn hóa; đồng thời có cơ chế phối hợp rõ ràng với chính quyền trong quản lý và bảo tồn. Cách tiếp cận này vừa phát huy năng lực nội sinh của cộng đồng, vừa hạn chế tình trạng hành chính hóa hoạt động tín ngưỡng. Cùng với đó, cần bảo đảm tính liên tục của quá trình trao truyền giữa các thế hệ. Việc truyền dạy nghi lễ, tri thức dân gian, câu chuyện, nghệ thuật trình diễn và kinh nghiệm tổ chức lễ hội cần được thực hiện bằng những phương thức phù hợp với điều kiện hiện nay, kết hợp truyền dạy trực tiếp trong cộng đồng với giáo dục, truyền thông và ứng dụng công nghệ.
Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định “chuẩn hoá và số hoá toàn diện di sản văn hoá vật thể và phi vật thể” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026) tạo thêm điều kiện tư liệu hóa, lưu giữ và mở rộng khả năng tiếp cận các giá trị tín ngưỡng. Tuy nhiên, số hóa chỉ là phương tiện hỗ trợ; không thể thay thế môi trường thực hành và quá trình trao truyền trực tiếp giữa các thế hệ. Vì vậy, phát huy nguồn lực cộng đồng cần đồng thời tạo điều kiện để cộng đồng tham gia quản lý, củng cố năng lực tự tổ chức và bảo đảm sự tiếp nối của thực hành qua các thế hệ. Đây là cơ sở để nguồn lực văn hóa được duy trì và tái tạo trong đời sống đương đại.
Ba là, đổi mới phương thức phát huy giá trị tín ngưỡng gắn với sáng tạo văn hóa và phát triển du lịch. Trên nền tảng các giá trị được duy trì trong cộng đồng, cần mở rộng phương thức tiếp cận và biểu đạt để tín ngưỡng có thể tham gia vào đời sống văn hóa đương đại. Những tri thức dân gian, kiến trúc, lễ hội và nghệ thuật gắn với tín ngưỡng có thể trở thành chất liệu cho sáng tạo văn hóa, truyền thông số, giáo dục và phát triển các sản phẩm, dịch vụ văn hóa. Phương thức này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW “bảo tồn lễ hội truyền thống và định hướng phát triển các lễ hội mới nhằm phát huy bản sắc văn hoá, gắn với du lịch và phát triển kinh tế” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026). Đối với du lịch, cần chuyển từ khai thác đơn thuần yếu tố tham quan, hành hương sang xây dựng những trải nghiệm giúp công chúng hiểu sâu hơn về lịch sử, ý nghĩa văn hóa và đời sống cộng đồng gắn với không gian tín ngưỡng; qua đó nâng cao giá trị của điểm đến và chất lượng sản phẩm du lịch.
Quá trình này cần gắn với năng lực sáng tạo, công nghệ và tổ chức thị trường để tăng khả năng kết nối “văn hóa với du lịch, thương mại và công nghệ” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026), từng bước hình thành các chuỗi giá trị phù hợp. Tuy nhiên, khả năng sáng tạo không đồng nghĩa với việc tự do chuyển hóa mọi yếu tố tín ngưỡng thành sản phẩm. Những thực hành nội bộ và yếu tố có tính thiêng cần được phân định với những nội dung có thể phổ biến rộng rãi. Hoạt động sáng tạo và du lịch phải mở rộng khả năng tiếp cận, lan tỏa giá trị tín ngưỡng nhưng không làm thay đổi bản chất của thực hành, không biến yếu tố thiêng thành hàng hóa và không tách sản phẩm văn hóa khỏi nền tảng văn hóa của cộng đồng. Theo đó, hiệu quả của đổi mới phương thức phát huy không chỉ được đo bằng khả năng thu hút công chúng hay tạo doanh thu, mà còn ở khả năng làm cho các giá trị tín ngưỡng được hiểu đúng, tiếp nhận rộng hơn và tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại.
Bốn là, hoàn thiện cơ chế quản lý và bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn, phát huy và lợi ích kinh tế. Phát huy nguồn lực tín ngưỡng cần triển khai phương thức quản trị văn hóa hiện đại, lấy hiệu quả và sự tham gia đa trung tâm của Nhà nước, thị trường, xã hội và cộng đồng sáng tạo làm nguyên tắc cốt lõi. Nhà nước giữ vai trò định hướng, hoàn thiện thể chế và điều tiết; chính quyền địa phương tổ chức phối hợp; cộng đồng tham gia quản lý và thực hành; doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo tham gia đầu tư, phát triển sản phẩm và dịch vụ văn hóa. Cùng với cơ chế phối hợp, cần hoàn thiện cơ chế phân bổ và tái đầu tư nguồn lực tài chính từ hoạt động du lịch, dịch vụ và khai thác giá trị văn hóa. Một phần lợi ích thu được cần được dành cho bảo tồn không gian tín ngưỡng, duy trì thực hành, đào tạo và trao truyền, đồng thời hỗ trợ các hoạt động tạo sinh kế cho cộng đồng chủ thể. Tỷ lệ và phương thức phân bổ cần được xác định phù hợp với quy mô hoạt động, điều kiện địa phương và quy định pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch và có sự tham gia của cộng đồng.
Qua đó, cần hình thành cơ chế tái tạo nguồn lực, trong đó việc duy trì và phát huy các giá trị văn hóa tạo ra những lợi ích kinh tế, xã hội; một phần lợi ích đó được tái đầu tư cho cộng đồng, duy trì thực hành, bảo tồn không gian và trao truyền giá trị. Nhờ vậy, các giá trị văn hóa tiếp tục được duy trì và phát huy trong đời sống, tạo cơ sở cho sự gắn kết giữa bảo tồn và phát triển. Hiệu quả của cơ chế cần được đánh giá đồng thời qua sức sống của thực hành, mức độ tham gia và thụ hưởng của cộng đồng, tác động xã hội và hiệu quả kinh tế, qua đó bảo đảm nguồn lực tín ngưỡng được phát huy theo hướng bền vững.
Tín ngưỡng dân gian Nam Bộ chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, bản sắc, đạo lý và tri thức dân gian, đồng thời tạo nền tảng cho giáo dục truyền thống, xây dựng đời sống văn hóa, sáng tạo văn hóa và phát triển sinh kế cộng đồng. Việc phát huy những giá trị này cần được đặt trong một quá trình tổ chức phù hợp, bảo đảm sức sống của thực hành, vai trò chủ thể của cộng đồng và sự tham gia của các lực lượng xã hội.
Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, phát huy nguồn lực tín ngưỡng dân gian Nam Bộ cần gắn bảo tồn với phát triển, bảo đảm sự tham gia và thụ hưởng của cộng đồng, đồng thời phát huy vai trò định hướng, kiến tạo và điều tiết của Nhà nước. Cốt lõi của quá trình này là duy trì thực hành, đổi mới phương thức phát huy và hình thành cơ chế tái tạo nguồn lực, qua đó tạo sự gắn kết giữa giá trị văn hóa, lợi ích xã hội và hiệu quả kinh tế. Đây là cơ sở để tín ngưỡng dân gian tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại và đóng góp vào phát triển văn hóa, kinh tế - xã hội bền vững.
_________________
Ngày nhận bài: 03/9/2026; Ngày bình duyệt: 7/9/2026; Ngày quyết định đăng: 14/9/2026.
Email tác giả: quyennh@hcma2.edu.vn
Tài liệu tham khảo:
Ban Chấp hành Trung ương (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hồ Thị Đào & Nguyễn Quốc Bình (2021). Giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ Bà Chúa Xứ Núi Sam trong phát triển du lịch tỉnh An Giang. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp. DOI: 10.52714/dthu.10.2.2021.853.
Ngô Đức Thịnh (Chủ biên) (2010). Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập. NXB Khoa học xã hội.
Nguyễn Thanh Lợi (2023). Thiết chế tín ngưỡng dân gian vùng biển Nam Bộ. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo.
Nhật Quỳ (2026). Xã Bình Mỹ sẵn sàng cho Lễ hội Kỳ yên Đình Bình Thủy năm 2026. Cổng Thông tin điện tử xã Bình Mỹ (tỉnh An Giang), ngày 22/6/2026, https://binhmy.angiang.gov.vn.
Trịnh Thị Hạnh (2025). Phát huy nguồn lực văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật điện tử. Tháng 5/2025, https://vanhoanghethuat.vn
Vũ Nguyệt & Quang Khải (2025). Núi Bà Đen - động lực phát triển du lịch bền vững của Tây Ninh. Báo Tây Ninh điện tử. Ngày 11/5/2025, https://baotayninh.vn.