DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.2418
Tóm tắt: Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới. Bài viết làm rõ những điểm mới của Nghị quyết về tầm nhìn, mục tiêu phát triển, các trụ cột chiến lược của mô hình phát triển mới.
TS TRẦN BÁ TĂNG
Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp
ThS TRẦN HÙNG PHI
Học viện Chính trị khu vực II

1. Mở đầu
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, là cực tăng trưởng có vai trò dẫn dắt đối với vùng Đông Nam Bộ cũng như nền kinh tế Việt Nam. Trong 40 năm đổi mới đất nước, Thành phố luôn là địa phương tiên phong trong nhiều chính sách cải cách kinh tế, phát triển kinh tế tư nhân, thu hút đầu tư nước ngoài, hội nhập quốc tế và thử nghiệm các mô hình quản trị mới; đồng thời, luôn đóng góp tỷ trọng lớn vào thu ngân sách nhà nước và giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu.
Năm 2025, sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, dân số của Thành phố vượt 14 triệu người, hình thành một siêu đô thị có quy mô dân số lớn nhất, tiếp tục giữ vai trò trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước; với GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.755 USD (Thảo Lê & Châu Tuấn, 2026). Tăng trưởng GRDP Quý I năm 2026 đạt 8,27%, cao hơn bình quân chung của cả nước (Văn phòng Chính phủ, 2026).
Thành phố Hồ Chí Minh hiện là trung tâm đổi mới sáng tạo lớn nhất Việt Nam; là địa phương đầu tiên triển khai chương trình chuyển đổi số toàn diện. Kinh tế số đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới quan trọng nhất của Thành phố, với mục tiêu đóng góp khoảng 40% GRDP vào năm 2030 và khoảng 60% vào năm 2035 (Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, 2026). Đây là một trong những mục tiêu tham vọng, thể hiện định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên dữ liệu, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, mô hình phát triển của Thành phố đang đứng trước những yêu cầu đổi mới căn bản. Mặc dù thuộc nhóm địa phương có năng suất lao động cao nhất cả nước, song tốc độ tăng năng suất lao động đang chịu áp lực trước sự suy giảm hiệu quả của các động lực tăng trưởng truyền thống. Đồng thời, quá trình đô thị hóa nhanh cũng làm xuất hiện hàng loạt thách thức mới. Bên cạnh đó, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc cạnh tranh giữa các quốc gia và đô thị trên thế giới. Trong bối cảnh đó, để duy trì vị thế dẫn đầu, Thành phố Hồ Chí Minh không thể tiếp tục dựa vào các động lực tăng trưởng truyền thống, mà cần chuyển sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu” (ĐCSVN, 2026, tr.91). Ngày 19/5/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, trong đó xác định mục tiêu phát triển Thành phố trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực; từng bước vươn lên trở thành đô thị toàn cầu. Có thể thấy, đây là bước phát triển trong tư duy chiến lược của Đảng đối với vai trò của Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới. Theo Nghị quyết, Thành phố phải trở thành “cực tăng trưởng, cực đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế” (Bộ Chính trị, 2026) của quốc gia; là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển vùng Đông Nam Bộ và cả nước. Nói cách khác, Nghị quyết số 09-NQ/TW định hướng đưa Thành phố Hồ Chí Minh từ vị thế “đầu tàu kinh tế quốc gia” sang vị thế “đô thị cạnh tranh toàn cầu”.
2. Nội dung
2.1. Sự phát triển trong tư duy chiến lược về vị trí, vai trò, mô hình phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh của Đảng qua Nghị quyết số 09-NQ/TW
Thứ nhất, Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị đã thể hiện bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng về vị trí, vai trò và mô hình phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh. Đặt Nghị quyết số 09-NQ/TW trong tiến trình kế thừa và phát triển các chủ trương của Đảng đối với Thành phố, từ Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 18/11/2002 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 10/8/2012 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020, đến Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, có thể thấy rõ sự chuyển biến từ tư duy phát triển một trung tâm kinh tế quốc gia sang tư duy kiến tạo một đô thị toàn cầu có khả năng cạnh tranh quốc tế và dẫn dắt các quá trình đổi mới sáng tạo của đất nước.
Nghị quyết số 20-NQ/TW được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trọng tâm của Nghị quyết là phát huy vai trò đầu tàu kinh tế, xây dựng Thành phố trở thành trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ của khu vực phía Nam và cả nước. Mục tiêu phát triển chủ yếu tập trung vào tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp, dịch vụ và xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị. Tư duy phát triển trong Nghị quyết số 20-NQ/TW chủ yếu dựa trên mô hình tăng trưởng lấy mở rộng sản xuất, thu hút vốn đầu tư và phát triển các ngành kinh tế chủ lực làm động lực chính. Trong giai đoạn này, Thành phố Hồ Chí Minh được nhìn nhận trước hết như một cực tăng trưởng kinh tế quốc gia.
Nghị quyết số 16-NQ/TW tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu của Thành phố, đồng thời bổ sung yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững và tăng cường liên kết vùng. Trong khi Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt trọng tâm vào mở rộng quy mô phát triển thì Nghị quyết số 16-NQ/TW bắt đầu chú ý nhiều hơn đến chất lượng phát triển, hiệu quả quản lý đô thị và giải quyết các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, cách tiếp cận phát triển chủ yếu đặt Thành phố trong không gian phát triển quốc gia.
Đến Nghị quyết số 31-NQ/TW, tư duy phát triển của Đảng đối với Thành phố Hồ Chí Minh đã có bước tiến quan trọng. Nghị quyết xác định mục tiêu xây dựng Thành phố trở thành đô thị văn minh, hiện đại, đầu tàu về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả nước; từng bước vươn tầm khu vực Đông Nam Á. Đây là lần đầu tiên, đổi mới sáng tạo được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển Thành phố. Đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị, tăng cường phân cấp, phân quyền và phát triển Thành phố theo hướng hiện đại, thông minh. Tuy vậy, xét về tổng thể, mục tiêu phát triển vẫn chủ yếu hướng tới việc củng cố vai trò đầu tàu quốc gia và trung tâm kinh tế hàng đầu khu vực.
So với các nghị quyết trước đó, Nghị quyết số 09-NQ/TW đã tạo ra bước phát triển mới về chất trong tư duy chiến lược, nâng tầm vai trò của Thành phố trở thành một cực tăng trưởng, cực đổi mới sáng tạo và cực hội nhập quốc tế của quốc gia. Thành phố không chỉ có trách nhiệm dẫn dắt tăng trưởng kinh tế mà còn phải tiên phong mở đường về mô hình phát triển, thể chế và phương thức quản trị hiện đại cho cả nước.
Thứ hai, Nghị quyết số 09-NQ/TW đã chuyển trọng tâm phát triển từ khai thác lợi thế sẵn có sang kiến tạo lợi thế mới. Các giai đoạn trước, lợi thế cạnh tranh của Thành phố chủ yếu được nhìn nhận từ quy mô dân số, vị trí địa lý, thị trường lớn và khả năng thu hút đầu tư, Nghị quyết số 09-NQ/TW đặt trọng tâm vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và chất lượng thể chế. Đây là sự chuyển đổi từ mô hình phát triển dựa trên các nguồn lực truyền thống sang mô hình phát triển dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo, phù hợp với xu thế phát triển của các đô thị hàng đầu thế giới.
Thứ ba, lần đầu tiên, trong chủ trương của Đảng về Thành phố Hồ Chí Minh, mục tiêu xây dựng đô thị toàn cầu được xác lập một cách rõ ràng và có hệ thống. Nghị quyết số 31-NQ/TW yêu cầu phát triển Thành phố ngang tầm các đô thị lớn trong khu vực Đông Nam Á thì Nghị quyết số 09-NQ/TW đã mở rộng tầm nhìn sang phạm vi toàn cầu. Điều này cho thấy sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển, từ cạnh tranh trong nước và khu vực sang cạnh tranh ở quy mô quốc tế.
Thứ tư, Nghị quyết số 09-NQ/TW thể hiện rõ tư duy phát triển dựa trên thể chế. Trong các văn kiện trước, thể chế chủ yếu được xem là công cụ hỗ trợ phát triển thì Nghị quyết số 09-NQ/TW thể chế được xác định là “đột phá của đột phá”, là điều kiện tiên quyết để giải phóng mọi nguồn lực và tạo lập các động lực tăng trưởng mới. Việc đặt yêu cầu xây dựng Luật Đô thị đặc biệt cho Thành phố Hồ Chí Minh đã cho thấy quyết tâm tạo ra một khuôn khổ “thể chế đột phá, vượt trội” nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của Thành phố.
Thứ năm, Nghị quyết số 09-NQ/TW mở rộng đáng kể tầm nhìn phát triển dài hạn. Cụ thể, Nghị quyết đã xây dựng hệ thống mục tiêu phát triển đến năm 2030, năm 2045 và tầm nhìn đến năm 2075. Đây không chỉ là sự kéo dài về mặt thời gian, mà còn phản ánh cách tiếp cận chiến lược mới, hướng tới việc tái định vị Thành phố Hồ Chí Minh trong mạng lưới các đô thị toàn cầu của thế kỷ XXI.
Như vậy, Nghị quyết số 09-NQ/TW không chỉ bổ sung thêm các mục tiêu phát triển mới, mà sâu xa hơn là sự hình thành một tư duy phát triển mới đối với Thành phố Hồ Chí Minh, đặt nền tảng cho việc xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đô thị toàn cầu, một trung tâm đổi mới sáng tạo, tài chính quốc tế và quản trị hiện đại, có khả năng cạnh tranh ở tầm khu vực và thế giới trong kỷ nguyên mới.
2.2. Tầm nhìn, mục tiêu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị
Thứ nhất, Nghị quyết nhấn mạnh phương châm “Thành phố Hồ Chí Minh vì cả nước, cả nước vì Thành phố Hồ Chí Minh”; đồng thời, “trong kỷ nguyên phát triển mới, Thành phố Hồ Chí Minh cần phát huy vai trò là một đô thị đặc biệt; tiên phong mở đường về mô hình phát triển, thể chế và phương thức quản trị hiện đại; tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước” (Bộ Chính trị, 2026). Với các quan điểm này, vai trò, vị trí chiến lược của Thành phố trong tiến trình phát triển của đất nước đã được làm rõ và sâu sắc hơn. Về bản chất, đây là sự chuyển dịch từ tư duy phát triển địa phương sang tư duy phát triển quốc gia thông qua một đô thị động lực. Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ được xem là một đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, mà còn được nhìn nhận như một trung tâm phát triển có khả năng dẫn dắt quá trình hiện đại hóa, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế của Việt Nam. “Phát huy vai trò của các vùng động lực quốc gia, cực tăng trưởng, các hành lang kinh tế, các đô thị lớn, các trung tâm kinh tế” (ĐCSVN, 2026, tr.97).
Thứ hai, cụ thể hóa quan điểm của Đảng tại Đại hội XIV, Nghị quyết xác lập mô hình phát triển mới cho Thành phố Hồ Chí Minh dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, trung tâm tài chính quốc tế, phát triển xanh, quản trị hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao (Bộ Chính trị, 2026). Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tạo lập các cơ chế, chính sách đặc thù và vượt trội nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của Thành phố trong cạnh tranh quốc tế: “Xây dựng thể chế đột phá, vượt trội phát triển Thành phố trong kỷ nguyên mới” (Bộ Chính trị, 2026).
Thứ ba, Nghị quyết 09-NQ/TW đã xác lập tầm nhìn phát triển dài hạn, toàn diện và có tính chiến lược đối với Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghị quyết xây dựng hệ thống mục tiêu phát triển theo ba tầng nấc chiến lược gắn các mốc đến năm 2030, năm 2045, hướng đến năm 2075 - 100 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong đó, nghị quyết không chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế, mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố chất lượng phát triển, như môi trường sống, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo, hiệu quả quản trị và phát triển bền vững. Điều này phản ánh sự thay đổi căn bản trong quan niệm phát triển của Đảng, từ tăng trưởng đơn thuần sang phát triển toàn diện và bền vững.
Thứ tư, với việc xác lập mục tiêu đến năm 2045 và tầm nhìn đến năm 2075, Nghị quyết số 09-NQ/TW đã vượt ra khỏi tư duy quy hoạch theo nhiệm kỳ hoặc theo kế hoạch trung hạn. Đây là cách tiếp cận chiến lược thường thấy ở các quốc gia và đô thị thành công trên thế giới, nơi mà các mục tiêu phát triển được hoạch định trong thời gian đủ dài để tạo ra những chuyển biến căn bản về thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo. Nếu mục tiêu đến năm 2030 tập trung vào việc củng cố vị thế đầu tàu quốc gia thì mục tiêu đến năm 2045 và 2075 hướng tới việc định vị Thành phố Hồ Chí Minh trong hệ thống các đô thị toàn cầu.
Thứ năm, Nghị quyết số 09-NQ/TW đã chuyển trọng tâm phát triển từ khai thác lợi thế sẵn có sang kiến tạo lợi thế mới. Trong nhiều thập niên, lợi thế cạnh tranh của Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu dựa trên quy mô dân số lớn, vị trí địa lý thuận lợi, khả năng thu hút đầu tư và vai trò trung tâm thương mại. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, các lợi thế đó đang dần bị thu hẹp. Những đô thị dẫn đầu thế giới không còn cạnh tranh bằng quy mô thị trường mà cạnh tranh bằng năng lực đổi mới sáng tạo, chất lượng thể chế, trình độ công nghệ và khả năng thu hút nhân tài. Vì vậy, Nghị quyết số 09-NQ/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của mô hình phát triển mới.
Thứ sáu, Nghị quyết số 09-NQ/TW cho thấy tư duy phát triển tích hợp. Thành phố Hồ Chí Minh không được định hướng trở thành một trung tâm kinh tế đơn thuần, mà là một trung tâm phát triển toàn diện, trong đó kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Đặc biệt, Nghị quyết nhấn mạnh việc xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị “văn minh, hiện đại, nghĩa tình”: “Phát triển toàn diện văn hóa, con người Thành phố văn minh, hiện đại, nghĩa tình, xứng đáng với Thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu” (Bộ Chính trị, 2026). Đây là quan điểm có ý nghĩa sâu sắc, xác định mục tiêu phát triển toàn diện, không chỉ tăng trưởng kinh tế, mà còn hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm các giá trị nhân văn. Trong bối cảnh nhiều đô thị lớn trên thế giới đang đối diện với các vấn đề bất bình đẳng xã hội, khủng hoảng môi trường và suy giảm chất lượng sống, việc đặt con người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển có ý nghĩa lâu dài.
2.3. Những trụ cột chiến lược để Thành phố Hồ Chí Minh “tiên phong mở đường mô hình phát triển”
Chương trình hành động của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW xác định: “Xây dựng mô hình tăng trưởng mới của Thành phố theo hướng kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; phát triển các động lực tăng trưởng mới như kinh tế biển, kinh tế tầm thấp, kinh tế bạc” (Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, 2026).
Thứ nhất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Nghị quyết số 09-NQ/TW xác định Thành phố Hồ Chí Minh phải “tiên phong về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế thế mạnh của Thành phố, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển, kinh tế tầm thấp, kinh tế bạc” (Bộ Chính trị, 2026). Đây là sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong tư duy phát triển. Thời gian qua, tăng trưởng kinh tế của Thành phố chủ yếu dựa vào công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ và đầu tư FDI. Tuy nhiên, các động lực truyền thống này đang có dấu hiệu suy giảm hiệu quả khi năng suất lao động tăng chậm, chi phí sản xuất gia tăng và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Vì vậy, Nghị quyết của Bộ Chính trị đặt trọng tâm vào việc hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh, kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học.
Thứ hai, trung tâm tài chính quốc tế
Kinh nghiệm của Xinhgapo, Hồng Kông, Luân Đôn hay Đubai cho thấy, những trung tâm tài chính thành công đều có tác động lan tỏa rất lớn đến tăng trưởng kinh tế, thu hút nhân tài và nâng cao vị thế quốc gia. Vì vậy, quán triệt quan điểm của Đảng về phát triển một số trung tâm tài chính quốc tế, Nghị quyết số 09-NQ/TW nhấn mạnh việc “xây dựng và vận hành hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế theo hướng thế hệ mới tại Thành phố Hồ Chí Minh” (Bộ Chính trị, 2026).
Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, việc xây dựng trung tâm tài chính quốc tế mang ý nghĩa chiến lược ở nhiều khía cạnh. Một, đây là công cụ huy động nguồn lực cho phát triển trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số ngày càng lớn. Hai, trung tâm tài chính quốc tế sẽ giúp Thành phố kết nối sâu hơn với các dòng vốn toàn cầu. Ba, đây là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của Thành phố trong dài hạn. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, điều kiện tiên quyết là phải xây dựng được hệ thống thể chế có tính cạnh tranh quốc tế, bảo đảm minh bạch, ổn định và khả năng dự báo của môi trường đầu tư.
Thứ ba, thể chế đột phá, vượt trội
Trong toàn bộ nội dung Nghị quyết số 09-NQ/TW, thể chế được xem là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển. Đảng ta đã xác định thể chế là “đột phá của đột phá”, là điều kiện tiên quyết để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển.
Trên cơ sở đó, Nghị quyết của Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội nhằm phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, “xây dựng và ban hành Luật Đô thị đặc biệt nhằm tạo thể chế đặc biệt vượt trội, khung pháp lý đồng bộ, phù hợp, trở thành “đột phá của đột phá”, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho Thành phố Hồ Chí Minh khai thác tối đa hiệu quả tiềm năng, thế mạnh, huy động mọi nguồn lực tăng tốc, phát triển nhanh và bền vững” (Bộ Chính trị, 2026).
Nghị quyết yêu cầu tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị; tăng cường phân cấp, phân quyền; tạo điều kiện để Thành phố chủ động hơn trong quyết định các vấn đề phát triển; đồng thời, xây dựng các cơ chế vượt trội về tài chính, đầu tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thu hút nhân tài. Đây là sự chuyển đổi từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị phát triển hiện đại. Trong đó, chính quyền không chỉ thực hiện chức năng kiểm soát mà còn đóng vai trò dẫn dắt, điều phối và kiến tạo môi trường phát triển.
Thứ tư, kinh tế dữ liệu và kinh tế số
Ngày nay, dữ liệu không chỉ là thông tin, mà còn là nguồn tài nguyên có khả năng tạo ra giá trị gia tăng thông qua phân tích, dự báo và tối ưu hóa các hoạt động kinh tế - xã hội. Vì vậy, Nghị quyết số 09-NQ/TW đã xác định phát triển kinh tế dữ liệu và kinh tế số là một cấu phần quan trọng trong mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Thành phố Hồ Chí Minh. Nghị quyết yêu cầu “triển khai chiến lược dữ liệu, tập trung tạo lập, kết nối liên thông dữ liệu, quản trị Thành phố thông minh trên cơ sở dữ liệu, xây dựng dữ liệu trở thành nguồn lực trong mô hình phát triển Thành phố”; đồng thời, “phát triển mạnh mẽ thị trường khoa học - công nghệ” (Bộ Chính trị, 2026).
Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, lợi thế lớn nhất trong phát triển kinh tế dữ liệu là quy mô dân số lớn, mật độ hoạt động kinh tế cao và hệ thống dịch vụ phát triển mạnh. Thành phố hiện có số lượng doanh nghiệp lớn nhất cả nước, là trung tâm giao dịch tài chính, thương mại điện tử và logistics hàng đầu Việt Nam. Điều này tạo ra một lượng dữ liệu lớn có giá trị cho quản trị và phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế dữ liệu và kinh tế số, về bản chất, là quá trình chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa trên tài nguyên hữu hình sang mô hình tăng trưởng dựa trên tài nguyên số. Trong mô hình này, giá trị không được tạo ra chủ yếu từ khai thác tài nguyên thiên nhiên hay mở rộng quy mô sản xuất mà từ khả năng xử lý, phân tích và ứng dụng dữ liệu.
Thứ năm, đô thị xanh, hạ tầng hiện đại và thích ứng với biến đổi khí hậu
Để giải quyết bài toán sức ép của quá trình đô thị hóa nhanh, Nghị quyết số 09-NQ/TW định hướng phát triển Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng đô thị xanh, thông minh, hiện đại và thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có khả năng kết nối vùng và quốc tế. “Quy hoạch phát triển Thành phố với tầm nhìn dài hạn, ổn định, thích ứng với biến đổi khí hậu... Quy hoạch không gian phát triển thành phố theo tư duy đa cực, tích hợp, kết nối, vận hành theo mô hình quản trị đa trung tâm, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữa phát triển hiện đại và bảo tồn, lưu giữ các giá trị truyền thống” (Bộ Chính trị, 2026). Với diện tích lớn sau sáp nhập, Thành phố được định hướng phát triển theo mô hình đa trung tâm, gắn với giao thông công cộng và sử dụng hiệu quả không gian đô thị.
Trong bối cảnh các đô thị lớn trên thế giới đang phải đối mặt với những thách thức về môi trường và biến đổi khí hậu, phát triển Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng đô thị xanh không chỉ là mục tiêu môi trường, mà còn là một lợi thế cạnh tranh mới. Thành phố có môi trường sống tốt, hạ tầng hiện đại và khả năng thích ứng cao với biến đổi khí hậu sẽ có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư, chuyên gia và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ sáu, phát triển con người, văn hóa và nguồn nhân lực chất lượng cao
Cùng với các mục tiêu về kinh tế, khoa học, công nghệ, và chuyển đổi số, Nghị quyết số 09-NQ/TW xác định xây dựng con người Thành phố Hồ Chí Minh phát triển toàn diện, có bản lĩnh chính trị, năng lực sáng tạo, ý thức công dân và khát vọng cống hiến; đồng thời, phát triển văn hóa trở thành nền tảng tinh thần và nguồn lực nội sinh của phát triển.
Trong nền kinh tế tri thức, một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của một quốc gia nói chung, của một đô thị nói riêng là chất lượng nguồn nhân lực. Nghị quyết số 09-NQ/TW yêu cầu Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng các chính sách đột phá về đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài; phát triển các cơ sở giáo dục, nghiên cứu khoa học đạt trình độ quốc tế; hình thành đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và doanh nhân có năng lực cạnh tranh toàn cầu. “Xây dựng Thành phố thành trung tâm lớn về giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tiệm cận trình độ quốc tế... Chăm lo phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, kỹ năng, hướng tới xây dựng nền giáo dục tiên tiến trong khu vực châu Á trước năm 2030. Có cơ chế, chính sách đột phá, thu hút, đào tạo, ươm mầm, sử dụng hiệu quả nhân tài, chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước” (Bộ Chính trị, 2026).
Cùng với đó, Thành phố còn được định hướng trở thành trung tâm văn hóa lớn của cả nước, phát triển mạnh công nghiệp văn hóa và các ngành công nghiệp sáng tạo: “Tập trung xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân, hình thành hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam với đặc thù Thành phố... Đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” (Bộ Chính trị, 2026). Đây là một định hướng có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh văn hóa ngày càng trở thành nguồn lực kinh tế quan trọng của các đô thị hiện đại.
Như vậy, trong mô hình phát triển mới của Thành phố Hồ Chí Minh, con người là mục tiêu, chủ thể và động lực của phát triển. Điều này phản ánh tư duy phát triển lấy con người làm trung tâm, phù hợp với xu hướng phát triển bền vững đang được nhiều quốc gia và đô thị trên thế giới theo đuổi.
3. Kết luận
Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh và đất nước. Nghị quyết không chỉ xác định các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, mà còn định hình một mô hình phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng thể chế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nghị quyết đã xác lập tầm nhìn, mục tiêu phát triển dài hạn nhằm đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực; trở thành đô thị toàn cầu vào năm 2075. Đây là bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng, thể hiện khát vọng nâng tầm vị thế của Thành phố từ đầu tàu kinh tế quốc gia lên một trung tâm phát triển có sức cạnh tranh quốc tế. Thực hiện thành công Nghị quyết số 09-NQ/TW không chỉ quyết định tương lai của Thành phố Hồ Chí Minh, mà còn góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.
_________________
Ngày nhận: 23/6/2026; Ngày bình duyệt: 7/7/2026; Ngày quyết định đăng: 10/7/2026.
Email tác giả: phith@hcma2.edu.vn
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2026). Chương trình hành động số 21-CTrHĐ/TU ngày 01/6/2026 thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới.
Thảo Lê & Châu Tuấn (07/01/2026). TP.HCM đặt mục tiêu tăng trưởng 10%. https://tuoitre.vn.
Văn phòng Chính phủ (2026). Thông báo số 304/TB-VPCP ngày 15/6/2026 về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.