Nhân vật - Sự kiện

Quá trình hình thành, phát triển đường lối đấu tranh vũ trang của Đảng (1930-1945) và những bài học với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay

22/08/2026 14:35

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1505
Tóm tắt: Đường lối đấu tranh vũ trang là một bộ phận quan trọng trong đường lối cách mạng của Đảng, được hình thành và phát triển phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Từ nhận thức ban đầu về bạo lực cách mạng, Đảng từng bước xác lập chủ trương kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, xây dựng lực lượng, căn cứ địa và chuẩn bị mọi mặt cho khởi nghĩa. Đến năm 1945, những chủ trương đó được hoàn chỉnh, tạo cơ sở để Đảng lãnh đạo toàn dân nắm bắt thời cơ, phát động và giành thắng lợi trong Tổng khởi nghĩa, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công.

TS NGUYỄN LAN DUNG
Viện Sử học
Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

cdn-images.vtv.vn-thumb_w-1200-66349b6076cb4dee98746cf1-2025-09-05-_bac-ho-oc-tuyen-ngon-oc-lap-2-22082161172503106080222.webp
Tranh sơn mài “Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập”_Ảnh: NSCC

1. Mở đầu

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những sự kiện có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử dân tộc thế kỷ XX, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc. Thắng lợi đó là kết quả của nhiều nhân tố, trong đó sự lãnh đạo đúng đắn, chủ động và linh hoạt, sáng tạo của Đảng là nhân tố quyết định. Đặc biệt, đường lối đấu tranh vũ trang từng bước được hình thành, bổ sung qua thực tiễn, với sự kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự, xây dựng lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang, tiến hành khởi nghĩa từng phần và phát triển thành tổng khởi nghĩa khi thời cơ xuất hiện. Từ thực tiễn đấu tranh cách mạng, Đảng từng bước hoàn thiện nhận thức về xây dựng lực lượng, phát triển căn cứ địa, kết hợp các hình thức đấu tranh và lựa chọn thời cơ khởi nghĩa. Những yếu tố đó được vận dụng linh hoạt trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám, góp phần quan trọng vào thắng lợi nhanh chóng trên phạm vi cả nước. Bài viết tập trung nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển đường lối đấu tranh vũ trang của Đảng trong quá trình vận động Cách mạng Tháng Tám 1945, từ đó rút ra những bài học có giá trị tham khảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

2. Nội dung

2.1. Quá trình hình thành và phát triển đường lối đấu tranh vũ trang của Đảng

a) Bước đầu hình thành chủ trương đấu tranh vũ trang

Cuối những năm 1920, sự phát triển của phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Tuy nhiên, sự tồn tại đồng thời của ba tổ chức cộng sản tạo nên tình trạng phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất trong hoạt động cách mạng, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thống nhất các tổ chức cộng sản thành một tổ chức chung. Do vậy, đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc, với tư cách đại diện của Quốc tế Cộng sản đã chủ trì Hội nghị hợp nhất, thống nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt. Các văn kiện xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc, đồng thời khẳng định cách mạng phải dựa vào con đường bạo lực cách mạng và “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp” (ĐCSVN, 2002, tr.4). Đây là những định hướng ban đầu về phương pháp cách mạng, tạo cơ sở để Đảng tiếp tục phát triển nhận thức về đấu tranh vũ trang trong thực tiễn.

Đến tháng 10/1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua Luận cương chính trị, trong đó trình bày tương đối hệ thống những vấn đề cơ bản của cách mạng Đông Dương về tính chất, nhiệm vụ, lực lượng, phương pháp cách mạng và quan hệ với cách mạng thế giới. Trên cơ sở vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm của phong trào cộng sản quốc tế và thực tiễn phong trào công nhân, nông dân (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, 1971, tr.131), Luận cương chính trị xác định cách mạng Đông Dương là cách mạng tư sản dân quyền, có nhiệm vụ đánh đổ đế quốc Pháp và các thế lực phong kiến, thực hiện cách mạng ruộng đất và giành độc lập dân tộc (ĐCSVN, 2002, tr.98).

Về đấu tranh vũ trang, Luận cương chính trị xác định phải vũ trang cho công nông, sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ ách áp bức của thực dân, phong kiến, đồng thời nhấn mạnh vũ trang bạo động phải căn cứ vào tình thế cách mạng và có sự chuẩn bị cần thiết. Khi chưa xuất hiện tình thế cách mạng trực tiếp, đấu tranh vẫn phải được đẩy mạnh thông qua các hình thức như biểu tình, bãi công, thị uy nhằm tập hợp, rèn luyện và chuẩn bị quần chúng cho đấu tranh vũ trang về sau (ĐCSVN, 2002, tr.106). So với các văn kiện đầu năm 1930, nhận thức về đấu tranh vũ trang đã cụ thể hơn, nhất là về vai trò của bạo lực cách mạng, việc vũ trang cho công nông và điều kiện tiến hành khởi nghĩa. Tuy nhiên, vấn đề tổ chức, chuẩn bị và xây dựng lực lượng cho đấu tranh vũ trang vẫn chưa được nhận thức đầy đủ. Do vậy, qua thực tiễn phong trào đầu những năm 1930, Đảng từng bước tích lũy thêm kinh nghiệm về lựa chọn hình thức đấu tranh phù hợp với từng điều kiện cách mạng (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, 1981, tr.157).

Sau cao trào 1930-1931, trước sự đàn áp của chính quyền thuộc địa, Đảng chuyển sang hoạt động bí mật, từng bước khôi phục tổ chức và duy trì cơ sở trong quần chúng. Trong bối cảnh chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh ngày càng gia tăng, tháng 7/1936, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương xác định bên cạnh mục tiêu chiến lược chống thực dân, phong kiến, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng lúc này là đấu tranh chống phát xít, phản động thuộc địa, chống nguy cơ chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Những chủ trương này tiếp tục được bổ sung qua các Hội nghị Trung ương tháng 3/1937 và tháng 5/1938. Từ cuối năm 1938, khi chính quyền thuộc địa gia tăng đàn áp và xóa bỏ những chính sách dân chủ trước đó, Đảng chuyển dần vào hoạt động bí mật, tạo tiền đề cho sự chuyển hướng chiến lược trong giai đoạn tiếp theo.

b) Chuyển hướng và từng bước phát triển chủ trương khởi nghĩa vũ trang

Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, tác động trực tiếp đến tình hình Đông Dương. Trước những biến chuyển mới của tình hình trong nước và quốc tế, Hội nghị Trung ương tháng 11/1939 đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng về đường lối và phương pháp cách mạng. Hội nghị vẫn xác định cách mạng Đông Dương phải giải quyết đồng thời nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, nhưng đặt nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên vị trí trước mắt, với mục tiêu “đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến thối nát, giải phóng các dân tộc Đông Dương làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập” (ĐCSVN, 2000a, tr.539). Sự thay đổi về nhiệm vụ kéo theo những điều chỉnh về hình thức tổ chức và phương thức đấu tranh.

Đối với đấu tranh vũ trang, Hội nghị tháng 11/1939 chưa coi điều kiện khởi nghĩa đã chín muồi. Tuy nhiên, việc chuẩn bị cho một bước phát triển mới của cách mạng đã được đặt ra rõ hơn. Đảng chủ trương mở rộng các hình thức đấu tranh, tập hợp những cuộc đấu tranh riêng lẻ thành phong trào chung, đồng thời “dự bị những điều kiện bước tới bạo động làm cách mệnh giải phóng dân tộc” (ĐCSVN, 2000a, tr.554). Hội nghị đồng thời lưu ý phải tránh những cuộc đấu tranh non, thiếu chuẩn bị. Như vậy, nhận thức về đấu tranh vũ trang ở thời điểm này đã chuyển từ chỗ chủ yếu xác định nguyên tắc và phương pháp sang chú ý nhiều hơn đến điều kiện, quá trình chuẩn bị và khả năng chuyển biến của tình thế cách mạng.

Hội nghị Trung ương tháng 11/1940 tiếp tục phát triển những nhận thức đó trong điều kiện tình hình Đông Dương có nhiều biến động. Hội nghị cho rằng tuy tình thế một cuộc cách mạng trực tiếp chưa đến, nhưng một cao trào cách mạng sẽ xuất hiện và Đảng phải chuẩn bị để lãnh đạo các dân tộc Đông Dương đấu tranh vũ trang giành độc lập (ĐCSVN, 2000b, tr.58). Cùng với đó, những yêu cầu cụ thể hơn về chuẩn bị lực lượng, xây dựng cơ sở cách mạng và căn cứ địa được đặt ra. Việc Hội nghị quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ cũng cho thấy nhận thức ngày càng rõ hơn về yêu cầu phải căn cứ vào điều kiện thực tế và khả năng thành công khi quyết định khởi nghĩa.

Thực tiễn các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến Đô Lương từ tháng 9/1940 đến đầu năm 1941, dù không giành được thắng lợi, nhưng đã cung cấp những kinh nghiệm trực tiếp cho quá trình hoàn thiện nhận thức về đấu tranh vũ trang như chuẩn bị lực lượng, tổ chức khởi nghĩa, lựa chọn thời cơ và khả năng phát triển từ những cuộc đấu tranh cục bộ. Chính thực tiễn đó góp phần làm rõ hơn những yêu cầu đặt ra đối với một cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi rộng.

Tháng 2/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước và trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Hội nghị Trung ương lần thứ tám (5/1941), trên cơ sở đánh giá tình hình trong nước và quốc tế, tiếp tục hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược đã được xác lập từ năm 1939. Hội nghị xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trước tiên của cách mạng Việt Nam, đồng thời chủ trương thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh nhằm tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu nước.

Một bước phát triển quan trọng của Hội nghị Trung ương 8 là việc xác định rõ hơn phương pháp giành chính quyền. Trên cơ sở lý luận về khởi nghĩa vũ trang và tổng kết thực tiễn cách mạng, Hội nghị khẳng định cách mạng Đông Dương phải kết thúc bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang, do đó chuẩn bị khởi nghĩa trở thành nhiệm vụ trung tâm. Nội dung chuẩn bị được cụ thể hóa trên nhiều mặt, từ xây dựng lực lượng cách mạng, tổ chức các đội cứu quốc quân, du kích đến chuẩn bị cơ sở và điều kiện cần thiết để có thể hành động khi thời cơ xuất hiện. Quan điểm phải “luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn mà đánh lại quân thù” thể hiện rõ yêu cầu chủ động chuẩn bị và không bỏ lỡ thời cơ (ĐCSVN, 2000b, tr.131).

Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 8 đã xác định hình thái khởi nghĩa phù hợp với điều kiện Việt Nam: khi thời cơ đến, có thể tiến hành khởi nghĩa từng phần ở từng địa phương, từ đó tạo điều kiện phát triển thành tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000b, 131–132). Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức về phương pháp đấu tranh vũ trang, bởi vấn đề không chỉ dừng ở việc xác định khởi nghĩa vũ trang là con đường giành chính quyền mà còn giải quyết cách thức tổ chức và phát triển cuộc khởi nghĩa, mối quan hệ giữa khởi nghĩa từng phần với tổng khởi nghĩa và việc kết hợp lực lượng với thời cơ. Theo đó, lý luận về khởi nghĩa vũ trang được vận dụng ngày càng cụ thể vào điều kiện Việt Nam, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh trước đó.

Như vậy, từ Hội nghị Trung ương tháng 11/1939 đến Hội nghị Trung ương 8 tháng 5/1941, nhận thức của Đảng về đấu tranh vũ trang đã có bước phát triển rõ rệt. Nếu năm 1939 Đảng mới đặt vấn đề chuẩn bị những điều kiện để tiến tới bạo động, thì đến năm 1940, yêu cầu xây dựng lực lượng và căn cứ cho khởi nghĩa đã được xác định rõ hơn; đến năm 1941, các nội dung cơ bản về mục tiêu, lực lượng, điều kiện, phương thức và hình thái khởi nghĩa đã được xác lập tương đối toàn diện. Đấu tranh vũ trang từ chỗ là một phương thức được đề cập trong đường lối cách mạng đã trở thành một nội dung trọng tâm trong quá trình chuẩn bị giành chính quyền. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng tiếp tục tổ chức lực lượng, xây dựng căn cứ, phát triển phong trào và từng bước đưa đường lối khởi nghĩa vũ trang vào thực tiễn trong những năm tiếp theo.

c) Hoàn chỉnh đường lối khởi nghĩa vũ trang, tiến tới tổng khởi nghĩa

Sau Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), cùng với việc xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trung tâm, Đảng từng bước đưa công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang trở thành nhiệm vụ trọng yếu của toàn bộ phong trào cách mạng. Từ năm 1943, trước những chuyển biến của chiến tranh thế giới và sự suy yếu của các nước phát xít, nhận thức của Đảng về đấu tranh vũ trang tiếp tục được bổ sung và cụ thể hóa trên nhiều phương diện, từ xây dựng lực lượng, phát triển căn cứ địa, lựa chọn hình thức đấu tranh đến vấn đề thời cơ và phương thức giành chính quyền.

Cuộc họp Ban Thường vụ Trung ương tháng 2/1943 đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy chuẩn bị khởi nghĩa. Từ việc tổng kết thực tiễn phong trào, Đảng cho rằng nhiều nơi chưa nhận thức đầy đủ về tính chất khẩn trương của tình hình cách mạng, còn mang tâm lý chờ đợi hoặc chưa chuẩn bị tương xứng với yêu cầu của thời cuộc. Vì vậy, mọi công tác của Đảng phải hướng vào việc chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho khởi nghĩa, từ tuyên truyền, vận động quần chúng đến xây dựng tổ chức và lực lượng vũ trang. Đảng chủ trương đưa quần chúng tham gia đấu tranh dưới nhiều hình thức, đồng thời sẵn sàng chuyển các hình thức đó lên trình độ cao hơn khi điều kiện thuận lợi xuất hiện (ĐCSVN, 2000b, tr.299).

Tháng 5/1944, Chỉ thị Sửa soạn khởi nghĩa tiếp tục cụ thể hóa những nội dung trên. Đảng cho rằng mặc dù khởi nghĩa vũ trang đã được xác định là con đường tất yếu, song công tác chuẩn bị ở nhiều nơi vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, Chỉ thị xác định những nhiệm vụ cấp bách về xây dựng lực lượng, chuẩn bị vũ khí, huấn luyện quân sự và phương thức tác chiến. Đặc biệt, Đảng nhấn mạnh phương pháp du kích chiến phù hợp với điều kiện nước ta, đồng thời chú ý hơn đến vai trò của thời cơ. Theo đó, thời cơ không chỉ là yếu tố khách quan mà còn được tạo ra thông qua quá trình tổ chức và động viên quần chúng, phát triển phong trào cách mạng và thúc đẩy mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương (ĐCSVN, 2000b, tr.500). Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa lực lượng, thế trận và thời cơ cách mạng.

Trên cơ sở những chủ trương đó, công tác chuẩn bị khởi nghĩa được đẩy mạnh trên thực tế. Từ năm 1941 đến cuối năm 1944, căn cứ địa cách mạng được mở rộng; các đội du kích, Cứu quốc quân, cơ sở vũ trang và hệ thống liên lạc được xây dựng ở nhiều địa phương. Hoạt động của lực lượng vũ trang không chỉ nhằm bảo vệ căn cứ, chống khủng bố mà còn góp phần mở rộng ảnh hưởng của Việt Minh, phát triển phong trào quần chúng và từng bước tạo dựng thế trận cách mạng. Việc thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân cuối năm 1944 đánh dấu bước trưởng thành mới của lực lượng vũ trang cách mạng, đồng thời phản ánh sự phát triển trong nhận thức của Đảng về vai trò của một lực lượng quân sự tập trung trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa.

Đến cuối năm 1944, những nội dung cơ bản của đường lối đấu tranh vũ trang đã từng bước được xác lập tương đối hoàn chỉnh. Đảng không chỉ xác định mục tiêu giải phóng dân tộc và con đường khởi nghĩa vũ trang, mà còn làm rõ các vấn đề về lực lượng, căn cứ địa, vũ khí, phương thức tác chiến và sự kết hợp giữa lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang.

Cuộc đảo chính Nhật lật đổ Pháp ngày 9/3/1945 đã tạo ra những biến đổi căn bản trong tình hình Đông Dương. Trước diễn biến mới, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Chỉ thị nhận định cuộc đảo chính đã làm xuất hiện một cuộc khủng hoảng chính trị sâu sắc, tạo điều kiện để khởi nghĩa vũ trang nhanh chóng chín muồi. Kẻ thù trực tiếp và duy nhất của nhân dân Đông Dương được xác định là phát xít Nhật; khẩu hiệu đấu tranh được điều chỉnh phù hợp với tình hình mới (ĐCSVN, 2000b, tr.366).

Điểm nổi bật của Chỉ thị là việc cụ thể hóa hơn nữa các hình thức đấu tranh và chuẩn bị khởi nghĩa. Đảng chủ trương kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang; phát triển lực lượng tự vệ, du kích; xây dựng căn cứ địa; thống nhất các lực lượng quân sự và mở rộng chiến tranh du kích ở những nơi có điều kiện. Đồng thời, Đảng xác định phải chủ động phát động khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở từng địa phương, từng bước mở rộng vùng giải phóng và chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa trong cả nước. Những nội dung đó đã đưa phong trào cách mạng bước sang thời kỳ cao trào kháng Nhật cứu nước, trong đó khởi nghĩa từng phần trở thành hình thức đấu tranh chủ yếu.

Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác chuẩn bị quân sự, Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ (4/1945) tiếp tục giải quyết nhiều vấn đề cụ thể về tổ chức chiến khu, xây dựng căn cứ địa, thống nhất chỉ huy, phát triển lực lượng và chuẩn bị vật chất cho khởi nghĩa. Cùng với sự phát triển của phong trào chính trị quần chúng, nhiều địa phương đã tiến hành khởi nghĩa từng phần, thành lập chính quyền cách mạng và mở rộng các khu giải phóng. Đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị ngày càng gắn bó chặt chẽ, tạo nên một cao trào cách mạng rộng khắp, mang “tính chất tiền khởi nghĩa, đang tiến tới tổng khởi nghĩa một cách gấp rút” (Trường Chinh, 1976, tr.308).

Đầu tháng 8/1945, trước sự đầu hàng của phát xít Nhật và những biến đổi nhanh chóng của tình hình quốc tế, Đảng nhận định thời cơ tổng khởi nghĩa đã xuất hiện. Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào quyết định phát động tổng khởi nghĩa trước khi quân Đồng minh tiến vào Đông Dương. Cùng với việc xác định nguyên tắc chỉ đạo là tập trung, thống nhất và kịp thời, Hội nghị còn đề ra nhiều chủ trương cụ thể về tổ chức chỉ huy, phát triển lực lượng, phân công nhiệm vụ cho các chiến khu và chuẩn bị kế hoạch tác chiến. Quyết định này thể hiện sự phát triển cao nhất trong nhận thức của Đảng về đấu tranh vũ trang: từ chuẩn bị lực lượng, xây dựng thế trận, tạo thời cơ đến phát động và tổ chức tổng khởi nghĩa trên phạm vi toàn quốc.

Từ ngày 14/8/1945, nhân dân cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã chủ động nổi dậy giành chính quyền bằng nhiều hình thức linh hoạt, kết hợp sức mạnh của quần chúng với hoạt động của lực lượng vũ trang. Do vậy, chỉ trong thời gian ngắn, chính quyền cách mạng được thiết lập trên phạm vi cả nước, đưa tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

2.2. Một số bài học với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Như vậy, qua quá trình hình thành, bổ sung và hoàn thiện, đường lối đấu tranh vũ trang của Đảng trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ngày càng phù hợp với yêu cầu và điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Từ nhận thức về vai trò của đấu tranh vũ trang, Đảng từng bước xác định đúng vị trí của lực lượng vũ trang trong mối quan hệ với lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng và căn cứ địa, lựa chọn phương thức đấu tranh phù hợp và chủ động nắm bắt thời cơ để chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang tổng khởi nghĩa. Đường lối đó thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, đồng thời cho thấy năng lực tư duy chiến lược, tổ chức lực lượng và xử lý linh hoạt các điều kiện cách mạng của Đảng. Đây là một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp và đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi.

Từ thực tiễn đó, có thể rút ra một số bài học có giá trị tham khảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trước hết, đó là bài học về sự kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh chính trị và sức mạnh vũ trang. Thực tiễn cách mạng đã chứng minh, đấu tranh vũ trang chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đặt trong tổng thể của phong trào quần chúng rộng lớn, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Trong bối cảnh hiện nay, bài học này được vận dụng thành việc xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, đường lối đấu tranh vũ trang khẳng định vai trò quyết định của lực lượng vũ trang nhân dân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng. Đây là nguyên tắc mang tính bất biến, bảo đảm cho lực lượng vũ trang luôn giữ vững bản chất cách mạng, trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân và với Đảng. Trong điều kiện hiện nay, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là sự kế thừa trực tiếp những kinh nghiệm lịch sử đã được kiểm chứng.

Thứ ba, từ thực tiễn hoàn thiện đường lối đấu tranh vũ trang trước năm 1945 có thể rút ra bài học có tính chiến lược về chuẩn bị lực lượng từ sớm, từ xa. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thành quả của quá trình chuẩn bị lâu dài cả về lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa và thế trận cách mạng. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường hiện nay, bài học này càng có ý nghĩa quan trọng, đòi hỏi phải chủ động xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Bên cạnh đó, đường lối đấu tranh vũ trang còn thể hiện tư duy linh hoạt, sáng tạo trong việc lựa chọn hình thức và phương thức đấu tranh phù hợp với từng giai đoạn. Từ đấu tranh chính trị là chủ yếu đến kết hợp với đấu tranh vũ trang, từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa, tất cả đều phản ánh khả năng nắm bắt và xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lực lượng, thời cơ và phương thức hành động. Trong điều kiện hiện nay, khi các hình thái xung đột và chiến tranh có nhiều biến đổi, việc vận dụng linh hoạt bài học này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bằng các biện pháp tổng hợp, không chỉ về quân sự mà còn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, thông tin.

Cuối cùng, những giá trị lý luận từ đường lối đấu tranh vũ trang của Đảng còn góp phần quan trọng trong việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử. Việc khẳng định vai trò quyết định của đường lối đúng đắn, sáng tạo và sự chuẩn bị chủ động của Đảng là cơ sở khoa học để bác bỏ những luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, tuyệt đối hóa yếu tố khách quan hoặc xuyên tạc bản chất của Cách mạng Tháng Tám. Qua đó, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân vào con đường cách mạng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

3. Kết luận

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, chủ động và sáng tạo của Đảng, trong đó có sự hình thành và hoàn thiện đường lối đấu tranh vũ trang. Qua thực tiễn, Đảng từng bước xác định phương thức đấu tranh phù hợp, xây dựng lực lượng, căn cứ địa, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và chủ động nắm bắt thời cơ. Những yếu tố đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần quyết định vào thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Do vậy, những kinh nghiệm được hình thành trong quá trình đấu tranh giành chính quyền năm 1945 vẫn sẽ là những giá trị tham khảo đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nhất là trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, xây dựng lực lượng vững mạnh và chủ động trước những biến động của tình hình thế giới và khu vực.

Ngày nhận bài: 8/8/2026; Ngày bình duyệt: 21/8/2026; Ngày quyết định đăng: 22/8/2026.

Email: nldunghn@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng (1971). Cách mạng tháng Tám (1945). Nxb Sự thật.

Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (1981). Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Sơ thảo, Tập 1: 1920-1954. Nxb Sự thật.

ĐCSVN (2000a). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia.

ĐCSVN (2000b). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 7). Nxb Chính trị quốc gia.

ĐCSVN (2002). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Quá trình hình thành, phát triển đường lối đấu tranh vũ trang của Đảng (1930-1945) và những bài học với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay