Tóm tắt: Thông qua phân tích quan điểm về phát triển trong Văn kiện Đại hội XI, XII, XIII, XIV cho thấy nhận thức của Đảng về mô hình tăng trưởng đã vận động theo hướng ngày càng đầy đủ, hệ thống, qua đó phản ánh quá trình bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới. Bài viết nghiên cứu về sự phát triển quan điểm của Đảng về mô hình tăng trưởng qua các kỳ Đại hội XI, XII, XIII và XIV nhằm làm rõ bước phát triển mới về chất của Đại hội XIV trong thời kỳ phát triển mới.
ThS PHẠM VĂN THỊNH
Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Đường lối của Đảng về phát triển kinh tế là quá trình kế thừa, bổ sung và phát triển liên tục qua các kỳ Đại hội, gắn với yêu cầu của từng giai đoạn lịch sử. Nếu giai đoạn đầu của đổi mới chủ yếu là tháo gỡ cơ chế cũ, khơi thông các nguồn lực và xác lập nền tảng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì các kỳ Đại hội sau đó từng bước chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng tăng trưởng, hoàn thiện thể chế, xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, giữa phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất, giữa mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả. Chính trong tiến trình ấy, mô hình tăng trưởng ngày càng được nhận thức như một chỉnh thể động, chịu quy định bởi trình độ thể chế, chất lượng nhân lực, mức độ hiện đại của khoa học - công nghệ, khả năng huy động và phân bổ nguồn lực, cũng như năng lực chống chịu trước các biến động trong nước và quốc tế.
Đại hội XI đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức khi lần đầu tiên đặt vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế như một yêu cầu có tính chiến lược, nhằm khắc phục những hạn chế của tăng trưởng theo chiều rộng, tăng cường hiệu quả và sức cạnh tranh. Đến Đại hội XII, tư duy đó được phát triển sâu hơn, thể hiện sự nhấn mạnh rõ rệt hơn đến năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đồng thời đặt cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng trong tổng thể hoàn thiện thể chế phát triển.
Đại hội XIII tiếp tục nâng tầm nhận thức khi xác lập những động lực tăng trưởng mới, coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là các trụ cột then chốt để tạo ra bước phát triển nhanh và bền vững hơn. Từ đó, tăng trưởng được đặt trong một cấu trúc phát triển rộng hơn, nơi kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế tri thức không chỉ là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu khách quan của mô hình tăng trưởng mới.
Tiếp nối nền tảng lý luận đã được định hình và phát triển qua các kỳ Đại hội trước, Đại hội XIV đánh dấu bước phát triển mới về chất trong tư duy của Đảng đối với mô hình tăng trưởng, khi không chỉ dừng lại ở yêu cầu “đổi mới” mà chuyển mạnh sang “xác lập” mô hình tăng trưởng mới phù hợp với giai đoạn phát triển cao hơn của đất nước. Đại hội XIV thể hiện bước tiến trong nhận thức về vai trò của Nhà nước kiến tạo phát triển hiện đại, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả, tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và phân bổ nguồn lực tối ưu. Mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội tiếp tục được nhận thức sâu sắc hơn, không chỉ ở phương diện điều tiết mà còn ở khả năng dẫn dắt, định hướng và thúc đẩy hình thành các động lực tăng trưởng mới, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao, hạ tầng số và phát triển bền vững.
Bài viết tập trung làm rõ logic phát triển trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế qua các kỳ Đại hội XI đến XIV, qua đó chỉ ra sự chuyển biến từ nhận thức về tăng trưởng theo chiều rộng sang tư duy phát triển dựa trên chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo và bền vững; từ chú trọng khai thác nguồn lực sang nhấn mạnh kiến tạo động lực phát triển mới; từ điều hành tăng trưởng theo các mục tiêu ngắn hạn sang xây dựng mô hình tăng trưởng gắn với tầm nhìn dài hạn, năng lực cạnh tranh quốc gia và yêu cầu phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường. Nhìn tổng thể, sự phát triển quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế phản ánh bước trưởng thành về tư duy lý luận, đồng thời thể hiện bản lĩnh vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tổng kết thực tiễn Việt Nam vào việc xác lập một mô hình tăng trưởng mới phù hợp với bối cảnh phát triển hiện đại.
2. Nội dung
2.1. Tổng quan nghiên cứu, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Hiện nay, các nghiên cứu về mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các hướng: hướng thứ nhất, nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển dịch từ tăng trưởng chiều rộng sang chiều sâu. Một số nghiên cứu của Ngô Đăng Thành (2014) tiếp cận tái cơ cấu nền kinh tế từ góc nhìn hiệu quả sử dụng nguồn lực; Bùi Quang Tuấn (2020) phân tích sâu yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; Bùi Tất Thắng (2024) làm rõ các điểm mới của mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam đến năm 2030, đặc biệt vai trò khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu khác của Nguyễn Khánh Dư (2013) về chuyển dịch cơ cấu ngành cũng khẳng định tái cơ cấu là điều kiện then chốt để nâng cao chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng. Hướng thứ hai, nghiên cứu tập trung vào tăng trưởng theo chiều sâu, năng suất và chất lượng tăng trưởng. Trong đó, McKinsey Global Institute sớm cảnh báo thách thức về năng suất là yếu tố quyết định duy trì tăng trưởng cao (McKinsey Global Institute, 2012); các báo cáo của Ngân hàng thế giới cùng các tác giả trong nước nhấn mạnh cải cách thể chế, nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), phát triển nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh nhằm hướng tới tăng trưởng bền vững và mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045 (World Bank, 2025).
Bên cạnh các công trình trực tiếp về mô hình tăng trưởng, một hướng nghiên cứu khác đi sâu vào sự phát triển tư duy kinh tế của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Nguyễn Thị Túy (2024) và Trần Thị Tuyết Lan (2019) đã góp phần làm rõ quá trình bổ sung, hoàn thiện tư duy lý luận của Đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò kinh tế tư nhân và các động lực phát triển mới. Tuy nhiên, các công trình này thường tập trung vào từng cấu phần riêng lẻ hoặc từng lĩnh vực cụ thể hơn là tiến trình phát triển tư duy về mô hình tăng trưởng như một chỉnh thể gắn với các kỳ Đại hội. Hướng thứ ba, tập trung vào đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế xanh và lực lượng sản xuất mới của các các tác giả như Nguyễn Thị Cẩm Giang (2026) khẳng định kinh tế số và kinh tế xanh đang hội tụ thành “chuyển đổi kép” - động lực cốt lõi cho phát triển bền vững; các công trình trên Tạp chí Lý luận chính trị và Tạp chí Cộng sản nhấn mạnh vai trò của lực lượng sản xuất mới, phương thức sản xuất mới trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0.
Nhìn tổng thể, các nghiên cứu hiện có đã làm phong phú nhận thức về đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu kinh tế, tư duy kinh tế của Đảng và các động lực mới. Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách hệ thống từ Đại hội XI đến Đại hội XIV theo một khung phân tích thống nhất về mô hình tăng trưởng.
Bài viết sử dụng ba tiêu chí để làm rõ bước phát triển trong tư duy của Đảng về mô hình tăng trưởng qua các Đại hội XI, XII, XIII và XIV: sự thay đổi trong cách diễn đạt khái quát; sự phát triển trong nội hàm của mô hình tăng trưởng; và mức độ gắn kết giữa mô hình tăng trưởng với thể chế, cơ cấu lại nền kinh tế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và các động lực phát triển mới. Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích văn kiện, kết hợp so sánh lịch đại, lịch sử - logic và khái quát hóa để làm rõ tính kế thừa và phát triển trong nhận thức của Đảng.
2.2. Từ Đại hội XI đến XIV, những bước tiến trong lý luận về phát triển của Đảng
2.2.1. Đại hội XI, XII hình thành và phát triển tư duy đổi mới mô hình tăng trưởng
Bước ngoặt quan trọng ở Đại hội XI là việc Đảng chính thức đặt ra yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, đồng thời chú trọng hơn đến chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng. Đại hội nêu rõ: “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.404). Điều này cho thấy tư duy về phát triển kinh tế đã có sự chuyển dịch rõ rệt từ chỗ nhấn mạnh mở rộng quy mô sang coi trọng hơn chất lượng tăng trưởng. Ý nghĩa lý luận của bước chuyển này là mô hình tăng trưởng được nhận thức không còn như vấn đề gia tăng sản lượng đơn thuần, mà gắn với yêu cầu nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng nguồn lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Ở Đại hội XI, đổi mới mô hình tăng trưởng không được đặt ra như một nhiệm vụ riêng lẻ, mà gắn chặt với hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cơ cấu lại nền kinh tế. Đại hội đồng thời khẳng định: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.468). Cách đặt vấn đề này cho thấy Đảng đã bắt đầu tiếp cận mô hình tăng trưởng theo hướng hệ thống hơn: tăng trưởng chỉ có thể được đổi mới một cách bền vững khi đồng thời được nâng đỡ bởi thể chế phù hợp và sự điều chỉnh lại cấu trúc của nền kinh tế. Vì vậy, bước phát triển ở Đại hội XI không chỉ nằm ở việc nêu ra yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, mà còn ở chỗ đặt mô hình tăng trưởng trong mối quan hệ hữu cơ với thể chế và cơ cấu lại nền kinh tế.
Đại hội XII tiếp tục phát triển tư duy của Đại hội XI khi khẳng định đổi mới mô hình tăng trưởng là một chủ trương lớn, quan trọng và có tính xuyên tiếp trong quá trình phát triển đất nước. Văn kiện nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế” và nhấn mạnh: “Đây là một chủ trương lớn, quan trọng, được nêu ra từ Đại hội XI của Đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.581). Nếu Đại hội XI chủ yếu đặt ra yêu cầu phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng, thì Đại hội XII đã tiến thêm một bước khi làm rõ hơn những điều kiện và động lực của quá trình đổi mới đó. Đại hội XII nêu rõ định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng phải được thực hiện theo hướng “kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng suất lao động, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới và sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.645). So với Đại hội XI, bước phát triển ở đây là tư duy về mô hình tăng trưởng không chỉ dừng ở yêu cầu chuyển đổi, mà bắt đầu xác định rõ hơn cơ sở tạo ra tăng trưởng chất lượng cao. Đặc biệt, Đại hội nhấn mạnh: “Động lực quan trọng nhất và cũng là điều kiện để đổi mới mô hình tăng trưởng là đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019, tr.581). Nhận thức này cho thấy tư duy của Đảng đã dịch chuyển mạnh hơn từ cách nhìn tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng các yếu tố đầu vào sang cách nhìn tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất.
Như vậy, từ Đại hội XI đến Đại hội XII, tư duy của Đảng về mô hình tăng trưởng đã hình thành và phát triển khá rõ trong logic đổi mới mô hình hiện có, từ đặt ra yêu cầu chuyển đổi, gắn với thể chế và cơ cấu lại nền kinh tế, đến xác định những động lực chủ yếu của tăng trưởng chất lượng cao. Đây là nền móng quan trọng để tư duy về mô hình tăng trưởng tiếp tục được phát triển ở các đại hội sau.
2.2.2. Đại hội XIII hoàn thiện tư duy đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Tại Đại hội XIII, nội hàm của đổi mới mô hình tăng trưởng được mở rộng rõ hơn sang các thành tố gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số và xã hội số. Ngay trong việc xác định các định hướng chiến lược phát triển đất nước thời kỳ 2021 - 2030, Đại hội đã nêu rõ yêu cầu “đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội số” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.37).
So với Đại hội XI và XII, bước phát triển ở đây không chỉ là tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, mà là mở rộng nội hàm của quá trình đó sang những không gian phát triển mới gắn với chuyển đổi số và kinh tế số. Điều này cho thấy tư duy của Đảng về mô hình tăng trưởng đã tiến gần hơn tới cách tiếp cận tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và năng lực thích ứng của nền kinh tế trong bối cảnh mới. Đại hội XIII tiếp tục làm rõ hơn các động lực trực tiếp của tăng trưởng trong giai đoạn phát triển mới. Đại hội nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ và có hiệu quả mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.43). Đồng thời khẳng định: “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.227). Nếu ở Đại hội XII, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được xác định là động lực quan trọng nhất của đổi mới mô hình tăng trưởng, thì đến Đại hội XIII, trục động lực này được phát triển đầy đủ hơn khi gắn trực tiếp với chuyển đổi số, kinh tế số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Ý nghĩa lý luận của bước phát triển này là tăng trưởng không còn được nhìn chủ yếu từ góc độ huy động và sử dụng các nguồn lực truyền thống, mà ngày càng được đặt trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và các động lực phát triển mới.
Đại hội XIII không chỉ mở rộng nội hàm và làm rõ động lực của đổi mới mô hình tăng trưởng, mà còn thẳng thắn chỉ ra những hạn chế của quá trình này trong thực tiễn. Đại hội XIII nhìn nhận: “Hoàn thiện thể chế; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn chậm, chưa tạo được chuyển biến căn bản về mô hình tăng trưởng; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.80). Sự tự đánh giá này có ý nghĩa rất quan trọng, vì nó cho thấy khoảng cách giữa yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và kết quả đạt được vẫn còn lớn. Chính việc nhận diện rõ giới hạn đó đã tạo ra cơ sở thực tiễn và lý luận để tư duy của Đảng tiếp tục phát triển ở một cấp độ cao hơn tại Đại hội XIV.
2.2.3. Đại hội XIV xác lập mô hình tăng trưởng mới
Điểm mới nổi bật ở Đại hội XIV là việc văn kiện chuyển từ cách diễn đạt “đổi mới mô hình tăng trưởng” sang “xác lập mô hình tăng trưởng mới”. Đại hội nêu rõ: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.90-91). Cùng tinh thần đó, Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới tiếp tục khẳng định nhiệm vụ “xác lập mô hình tăng trưởng mới” gắn với đổi mới tư duy và cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.91). So với các Đại hội trước, cách diễn đạt này cho thấy Đại hội XIV không chỉ tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, mà đã đặt vấn đề ở cấp độ khái quát cao hơn.
Nội hàm của mô hình tăng trưởng mới ở Đại hội XIV cũng được xác định rõ hơn nhiều so với trước. Báo cáo chính trị nhấn mạnh mô hình này phải “tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.91). Đại hội XIV tiếp tục triển khai sâu hơn nội dung đó khi nêu nhiệm vụ “Thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất mới, trọng tâm là phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, xây dựng xã hội số, thân thiện với môi trường sinh thái” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.386). Những nội dung này cho thấy mô hình tăng trưởng ở Đại hội XIV được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với các yếu tố mới của phát triển, đặc biệt là dữ liệu, công nghệ số, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và chất lượng nguồn nhân lực.
Một điểm đáng chú ý nữa là Đại hội XIV nhấn mạnh rõ hơn việc xác định các động lực tăng trưởng mới. Đại hội “Xác định các động lực tăng trưởng mới và lấy khoa học công nghệ là trọng tâm để thay thế, thúc đẩy, làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.378). Ở đây, động lực tăng trưởng không chỉ được hiểu là việc phát huy tốt hơn các nguồn lực sẵn có, mà còn là yêu cầu chủ động tạo lập những động lực mới phù hợp với bối cảnh phát triển mới của đất nước.
Đại hội XIV đồng thời đặt mô hình tăng trưởng mới trong chỉnh thể lớn hơn của tư duy phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế : “Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự quản lý của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới...; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.385). Cùng với đó, Đại hội XIV cũng khẳng định: “Tư duy lý luận của Đảng có bước phát triển. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được bổ sung, phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.152-153). Điều này cho thấy vấn đề mô hình tăng trưởng mới ở Đại hội XIV không được đặt như một giải pháp kinh tế đơn lẻ, mà nằm trong tổng thể sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
2.2.4. Lý luận về phát triển của Đại hội XIV, bước phát triển về chất trong tư duy của Đảng về mô hình tăng trưởng
Về cấp độ khái niệm, việc chuyển từ “đổi mới mô hình tăng trưởng” sang “xác lập mô hình tăng trưởng mới” cho thấy tư duy của Đảng không dừng lại ở việc điều chỉnh, hoàn thiện mô hình hiện có, mà đã chuyển sang chủ động định hướng kiến tạo một mô hình tăng trưởng mới. Nếu ở các Đại hội trước, trọng tâm chủ yếu là đổi mới cách thức tăng trưởng, nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng, thì ở Đại hội XIV, mô hình tăng trưởng mới đã được nêu ra như một yêu cầu có tính định hình chiến lược. Vì vậy, sự thay đổi này không chỉ là thay đổi về cách diễn đạt, mà phản ánh bước phát triển về cấp độ nhận thức lý luận.
Về nội hàm, mô hình tăng trưởng mới ở Đại hội XIV không chỉ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, mà còn gắn trực tiếp với “lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất mới”, với kinh tế dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. So với Đại hội XIII, đây là bước phát triển rõ hơn trong việc xác định cấu trúc bên trong của mô hình tăng trưởng mới. Điều đó cho thấy tăng trưởng không chỉ ở sự cải thiện các chỉ tiêu kinh tế truyền thống, mà được đặt trong các chuyển đổi nền tảng của lực lượng sản xuất, công nghệ, dữ liệu, môi trường và tổ chức phát triển.
Về tư duy hệ thống, Đại hội XIV đặt mô hình tăng trưởng mới trong chỉnh thể bao gồm hoàn thiện thể chế, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển lực lượng sản xuất mới, thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế. Cách đặt vấn đề này cho thấy tư duy về mô hình tăng trưởng đã vượt ra khỏi phạm vi của một giải pháp điều hành kinh tế, để trở thành một bộ phận của tư duy lý luận về phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Chính trên cả ba phương diện đó: cấp độ khái niệm, nội hàm mô hình và kiến trúc phát triển, Đại hội XIV đánh dấu sự chuyển dịch từ logic cải thiện mô hình tăng trưởng sang logic kiến tạo mô hình tăng trưởng mới, qua đó thể hiện bước phát triển về chất trong tư duy của Đảng về mô hình tăng trưởng.
2.3. Một số đề xuất
Thứ nhất, việc Đại hội XIV chuyển từ cách diễn đạt “đổi mới mô hình tăng trưởng” sang “xác lập mô hình tăng trưởng mới” cho thấy tư duy của Đảng đã phát triển từ logic điều chỉnh mô hình hiện có sang logic kiến tạo một mô hình phát triển mới phù hợp với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Vì vậy, về phương diện lý luận, cần tiếp tục làm rõ nội hàm, cấu trúc và các điều kiện vận hành của mô hình tăng trưởng mới trong mối quan hệ với lý luận về phát triển nhanh, bền vững, với công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với phát triển lực lượng sản xuất mới và với hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế.
Thứ hai, về phương diện thực tiễn, hạt nhân của mô hình tăng trưởng mới không chỉ nằm ở việc xác định đúng các động lực phát triển, mà còn ở khả năng thể chế hóa các động lực đó thành cơ chế, chính sách và môi trường phát triển cụ thể. Ở Đại hội XIV, mô hình tăng trưởng mới được gắn trực tiếp với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các động lực tăng trưởng mới. Điều đó nhấn mạnh rằng thể chế không chỉ là điều kiện hỗ trợ từ bên ngoài, mà là điều kiện cấu thành của mô hình tăng trưởng mới. Từ góc độ này, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển theo hướng khơi thông các nguồn lực cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực thích ứng của nền kinh tế.
Thứ ba, về phương diện đánh giá và tổ chức thực hiện, cần đổi mới cách đo lường kết quả phát triển theo hướng phản ánh đúng nội hàm của mô hình tăng trưởng mới. Nếu vẫn chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng trưởng, sẽ khó đánh giá đầy đủ chất lượng của bước chuyển trong mô hình tăng trưởng. Vì vậy, cần từng bước xây dựng hệ tiêu chí phản ánh được năng suất, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng nguồn lực, mức độ đổi mới sáng tạo, mức độ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh và khả năng phát triển bền vững của nền kinh tế. Đồng thời, việc tổ chức thực hiện mô hình tăng trưởng mới cũng cần được gắn với yêu cầu phối hợp đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển các động lực tăng trưởng mới, qua đó đưa bước phát triển về nhận thức lý luận ở Đại hội XIV từng bước trở thành kết quả thực tiễn của quá trình phát triển đất nước.
3. Kết luận
Từ Đại hội XI đến Đại hội XIII, tư duy của Đảng về mô hình tăng trưởng chủ yếu vận động trong logic chuyển đổi và đổi mới mô hình hiện có; đến Đại hội XIV, tư duy ấy chuyển thành xác lập mô hình tăng trưởng mới.
Sự chuyển dịch ở Đại hội XIV thể hiện đồng thời ở ba phương diện: cấp độ khái niệm, nội hàm của mô hình tăng trưởng và tư duy hệ thống về phát triển. Vì vậy, có cơ sở để khẳng định Đại hội XIV là bước phát triển về chất trong tư duy lý luận của Đảng về mô hình tăng trưởng.
_________________
Ngày nhận bài: 29-3-2026; Ngày bình duyệt:9/5/2026; Ngày duyệt đăng: 9/7/2026.
Emai tác giả: pv.thinh@hutech.edu.vn
Bùi Quang Tuấn (2020). Một số quan điểm và giải pháp đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Dự báo. https://kinhtevadubao.vn.
Bùi Tất Thắng (2024). Một số điểm mới của mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ đến năm 2030. Viện Chiến lược và chính sách kinh tế - tài chính. https://nief.mof.gov.vn.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2019). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Phần II (Đại hội X, XI, XII). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 2). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
McKinsey Global Institute (2012). Sustaining Vietnam’s growth: The productivity challenge. McKinsey Global Institute.
Nguyễn Khánh Dư (2013). Tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://tapchicongsan.org.vn.
Nguyễn Thị Cẩm Giang (2026). Kinh tế số và kinh tế xanh: Chuyển đổi kép thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam. Báo Hà Nội Mới. https://hanoimoi.vn.
Nguyễn Thị Túy (2024). Tư duy lý luận của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới. Tạp chí Lịch sử Đảng. https://tapchilichsudang.vn.
The World Bank (2025) Việt Nam trồi dậy – Con đường hướng tới tương lai thu nhập cao. World Bank Group.