(LLCT) - Ngày 6/8/2026, Đảng bộ Viện Lịch sử Đảng, Chi bộ Tạp chí Lý luận chính trị và Chi bộ Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng phối hợp tổ chức buổi sinh hoạt chuyên đề quý III năm 2026 với chủ đề “Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam”.
THÙY LINH

Dự và trực tiếp báo cáo nội dung chuyên đề có PGS, TS Lê Hải Bình, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Giám đốc Thường trực Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Tham dự buổi sinh hoạt có các đồng chí cán bộ lãnh đạo, đảng viên của ba đơn vị.
Phát biểu khai mạc buổi sinh hoạt chuyên đề, PGS, TS Lý Việt Quang, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng nhấn mạnh: Đây là hoạt động thiết thực nhằm kịp thời quán triệt những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp lớn của Nghị quyết số 80-NQ/TW; qua đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn mới.
Trình bày chuyên đề, PGS, TS Lê Hải Bình khẳng định: Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn quan tâm phát triển văn hóa và con người Việt Nam, kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong thời kỳ đổi mới, nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa ngày càng được bổ sung, phát triển; thể chế, chính sách và nguồn lực đầu tư cho văn hóa từng bước được quan tâm, góp phần củng cố niềm tin, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao vị thế, sức mạnh mềm của đất nước.
Trong bối cảnh thế giới đang chuyển biến nhanh chóng, phức tạp, trong đó cạnh tranh giữa các nước lớn không chỉ diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc phòng, khoa học và công nghệ mà còn thể hiện ngày càng rõ trong cạnh tranh giá trị, bản sắc, ảnh hưởng và sức mạnh của các nền văn hóa.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định yêu cầu phải có những chủ trương, quyết sách chiến lược, đồng bộ và đột phá để khắc phục hạn chế, chủ động nắm bắt thời cơ, thúc đẩy văn hóa phát triển. Văn hóa phải đi trước soi đường, thấm sâu vào từng quyết sách phát triển, trở thành nền tảng vững chắc, sức mạnh nội sinh và hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước, hướng tới mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước.
Làm rõ những nội dung cốt lõi của nghị quyết, PGS, TS Lê Hải Bình nhấn mạnh quan điểm phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và hệ điều tiết đối với sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Văn hóa không phải là một lĩnh vực đứng riêng biệt mà phải được gắn kết chặt chẽ, hài hòa và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường đến quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Khái niệm “hệ điều tiết” cho thấy các giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức và tinh thần nhân văn phải được đặt trong từng chủ trương, chính sách, chương trình và kế hoạch phát triển. Phát triển kinh tế phải gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; ứng dụng khoa học, công nghệ phải gắn với trách nhiệm, đạo đức và lợi ích con người; hội nhập quốc tế phải đi đôi với giữ gìn bản sắc, bảo vệ chủ quyền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc.
Đồng chí báo cáo viên đồng thời phân tích mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng văn hóa và xây dựng con người. Phát triển văn hóa hướng tới hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới; ngược lại, con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là động lực trực tiếp kiến tạo, bảo tồn và phát triển văn hóa. Có thể hiểu rằng, nền văn hóa như thế nào sẽ góp phần hình thành những con người tương ứng; đồng thời, phẩm chất, trí tuệ, bản lĩnh và năng lực sáng tạo của con người cũng quyết định diện mạo, sức sống và trình độ phát triển của nền văn hóa.
Nghị quyết tiếp tục khẳng định phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa. Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững, cho tương lai của dân tộc; trong đó, nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, còn nguồn lực xã hội là động lực quan trọng.
Một nội dung đáng chú ý khác được báo cáo viên làm rõ là yêu cầu nhận thức và xử lý hài hòa bảy mối quan hệ nội tại của văn hóa, gồm: giữa “xây” và “chống”; giữa truyền thống và hiện đại; giữa dân tộc và quốc tế; giữa bảo tồn và phát triển; giữa đại chúng và bác học; giữa đời sống thực và không gian số; giữa dữ liệu mở với yêu cầu bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hóa số. Việc xử lý đúng đắn các mối quan hệ này có ý nghĩa quan trọng trong phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, thúc đẩy sáng tạo nhưng không đánh mất bản sắc và nền tảng giá trị.
Về mục tiêu, Nghị quyết xác định đến năm 2030 đẩy mạnh xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng, mang đặc trưng dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học và hiện đại; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội và không gian số; bảo tồn, phát huy giá trị di sản; phát triển công nghiệp văn hóa và chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa.
Tầm nhìn đến năm 2045 là xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và thấm sâu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nghị quyết cũng đặt ra yêu cầu bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa và xây dựng các thương hiệu văn hóa có tầm vóc quốc gia, quốc tế.
Đi sâu phân tích tám nhóm nhiệm vụ, giải pháp, PGS, TS Lê Hải Bình nhấn mạnh, trước hết phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị và xã hội. Phát triển văn hóa phải được đặt ngang tầm với chính trị, kinh tế và xã hội, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người và bảo vệ chủ quyền văn hóa số.
Nhiệm vụ thứ hai là hoàn thiện thể chế, tạo đột phá chiến lược, khơi thông các nguồn lực phát triển văn hóa; tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, quyền tác giả và công nghiệp văn hóa, đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn, bất cập đang cản trở sức sáng tạo của các chủ thể văn hóa.
Nhiệm vụ thứ ba tập trung xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện và môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại. Trong đó, cần triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Nghị quyết nhấn mạnh việc phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”, Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân, mẫu hình “công bộc của dân” và văn hóa nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Đồng thời, phải xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, kiên quyết đấu tranh với thông tin xấu độc, phản văn hóa và các biểu hiện lệch chuẩn trên không gian mạng.
Các nhiệm vụ tiếp theo gồm đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng hệ sinh thái văn hóa; thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và thị trường văn hóa; huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, quảng bá giá trị văn hóa Việt Nam, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
Đề cập nhiệm vụ hội nhập quốc tế về văn hóa, báo cáo viên nhấn mạnh yêu cầu đưa văn hóa trở thành một nội dung quan trọng của hoạt động đối ngoại; mở rộng mạng lưới trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài; phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong quảng bá đất nước, con người và văn hóa Việt Nam. Nghị quyết định hướng hỗ trợ nhân rộng các mô hình khu phố Việt Nam, làng Việt Nam, câu lạc bộ văn hóa, võ thuật, học tiếng Việt tại những quốc gia có đông người Việt Nam sinh sống, qua đó lan tỏa bản sắc và giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Về tổ chức thực hiện, Nghị quyết xác định thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam do đồng chí Thường trực Ban Bí thư làm Trưởng Ban; đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy trong công tác thể chế hóa, quán triệt, tuyên truyền, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát. Nghị quyết được phổ biến đến chi bộ, thể hiện yêu cầu đưa những quan điểm và nhiệm vụ phát triển văn hóa đi sâu vào từng tổ chức đảng, tới từng cán bộ, đảng viên.
Từ những nội dung của Nghị quyết số 80-NQ/TW, PGS, TS Lê Hải Bình gợi mở các cơ quan, đơn vị cần chủ động nghiên cứu, cụ thể hóa và vận dụng phù hợp vào thực tiễn; gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, nâng cao đạo đức công vụ, trách nhiệm nêu gương, tinh thần đổi mới sáng tạo và chất lượng công tác chuyên môn. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ mình vừa là chủ thể sáng tạo, thực hành văn hóa, vừa có trách nhiệm lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong cơ quan, gia đình và xã hội.
Phát biểu tại buổi sinh hoạt, PGS, TS Nguyễn Danh Tiên, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng khẳng định, nội dung chuyên đề có ý nghĩa thiết thực và sâu sắc, giúp cán bộ, đảng viên nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò đặc biệt của văn hóa đối với sự phát triển của mỗi con người, mỗi cơ quan và đất nước. Đồng chí nhấn mạnh, những nội dung được truyền đạt tại buổi sinh hoạt đã làm rõ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của Nghị quyết số 80-NQ/TW; đồng thời đề nghị cán bộ, đảng viên tiếp tục nghiên cứu, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo nghị quyết vào thực tiễn công tác.
Mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao trách nhiệm giữ gìn, thực hành và phát huy các giá trị văn hóa, góp phần xây dựng môi trường cơ quan đoàn kết, nhân văn, kỷ cương và sáng tạo; qua đó hiện thực hóa sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”.
