Tóm tắt: Nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh phát triển mới. Những năm qua, các tỉnh ủy trong vùng đồng bằng sông Hồng đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực và đạt được một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu; liên kết giữa đào tạo và sử dụng lao động, thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao còn hạn chế. Trên cơ sở phân tích thực trạng và những yêu cầu mới đặt ra, bài viết đề xuất các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay.
ThS TRẦN MINH NHẬT
Văn phòng Học viện,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nguồn nhân lực là yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng nhanh, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia, địa phương. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu đối với chất lượng, cơ cấu và khả năng thích ứng của nguồn nhân lực ngày càng cao. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định yêu cầu tập trung đào tạo nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động, tăng cường năng lực số và phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước (ĐCSNV, 2026, tr.37).
Vùng đồng bằng sông Hồng có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia, là vùng động lực, tập trung nhiều trung tâm công nghiệp, dịch vụ, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra yêu cầu phát huy tiềm năng, lợi thế của Vùng, trong đó chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tuy nhiên, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực của vùng đồng bằng sông Hồng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển mới; liên kết giữa đào tạo và sử dụng lao động, thu hút và trọng dụng nhân tài còn hạn chế. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu các tỉnh ủy phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo công tác phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm nguồn nhân lực thực sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững vùng đồng bằng sông Hồng.
2. Nội dung
2.1. Vai trò của các tỉnh ủy trong phát triển nguồn nhân lực ở vùng đồng bằng sông Hồng
Trong hệ thống chính trị nước ta, tỉnh ủy là cơ quan lãnh đạo của đảng bộ địa phương giữa hai kỳ đại hội, giữ vai trò định hướng chính trị, hoạch định chủ trương và lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở địa phương. Đối với phát triển nguồn nhân lực, vai trò của các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng có ý nghĩa quan trọng, thể hiện trên các phương diện chủ yếu sau:
Thứ nhất, các tỉnh ủy giữ vai trò định hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Thông qua nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh, nghị quyết chuyên đề, chương trình hành động và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các tỉnh ủy xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong từng giai đoạn, tạo cơ sở chính trị để chính quyền thể chế hóa thành cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện.
Những năm qua, nhiều tỉnh ủy trong vùng đã ban hành nghị quyết, chủ trương về phát triển nguồn nhân lực, tập trung vào phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp, thu hút nhân tài và đào tạo nhân lực phục vụ chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ cao. Sự định hướng của tỉnh ủy góp phần bảo đảm phát triển nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đồng thời, tỉnh ủy có vai trò định hướng dài hạn, bảo đảm sự đồng bộ giữa quy hoạch phát triển kinh tế với quy hoạch giáo dục - đào tạo, sử dụng lao động và phát triển đô thị, công nghiệp.
Thứ hai, các tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng hệ thống chính sách phát triển nguồn nhân lực. Sự lãnh đạo của tỉnh ủy thể hiện ở việc chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực. Các tỉnh ủy lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động nông thôn; thu hút sinh viên giỏi, chuyên gia, nhà khoa học; hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; liên kết đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp; xã hội hóa giáo dục - đào tạo.
Trong bối cảnh yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao của các địa phương ngày càng gay gắt, vai trò lãnh đạo của tỉnh ủy đối với việc xây dựng chính sách đột phá càng trở nên cần thiết. Một số địa phương đã bước đầu xây dựng cơ chế ưu đãi về thu nhập, nhà ở, môi trường làm việc và điều kiện nghiên cứu khoa học để thu hút, phát triển nhân tài. Tuy nhiên, chính sách ở một số nơi chưa đủ mạnh để tạo động lực phát triển nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, các tỉnh ủy cần tiếp tục đổi mới tư duy lãnh đạo, hoàn thiện và ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp với yêu cầu phát triển mới.
Thứ ba, các tỉnh ủy lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Nguồn nhân lực khu vực công có vai trò quan trọng đối với hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng phục vụ nhân dân. Vì vậy, các tỉnh ủy có vai trò trực tiếp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín thông qua công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, điều động, đánh giá, bổ nhiệm, kiểm tra và giám sát.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, cải cách hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ không chỉ là năng lực chuyên môn mà còn là tư duy đổi mới, kỹ năng số, năng lực quản trị hiện đại và tinh thần phục vụ nhân dân. Do đó, xây dựng đội ngũ cán bộ tinh gọn, chuyên nghiệp, có khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu mới là một nội dung quan trọng trong lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực của các tỉnh ủy.
Thứ tư, các tỉnh ủy lãnh đạo huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước mà cần sự tham gia của toàn xã hội. Các tỉnh ủy có vai trò lãnh đạo đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục; thu hút doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề; tăng cường hợp tác quốc tế; phát triển quỹ khuyến học, khuyến tài; thúc đẩy liên kết giữa cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu.
Vùng đồng bằng sông Hồng tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ cao, tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp. Phát huy hiệu quả các chủ thể và nguồn lực này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng và hình thành hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển của vùng.
Thứ năm, các tỉnh ủy lãnh đạo kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương phát triển nguồn nhân lực. Kiểm tra, giám sát là chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng, giúp các tỉnh ủy đánh giá hiệu quả thực hiện nghị quyết, chủ trương, chính sách về phát triển nguồn nhân lực; kịp thời phát hiện hạn chế, bất cập để điều chỉnh.
Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc thực hiện các chủ trương của Đảng về giáo dục - đào tạo, đào tạo nghề, sử dụng ngân sách cho phát triển nguồn nhân lực, chất lượng đội ngũ cán bộ và thực hiện chính sách thu hút nhân tài. Thông qua kiểm tra, giám sát, các tỉnh ủy có thể phát hiện những bất cập trong đào tạo nghề, sử dụng lao động và phối hợp giữa các ngành, qua đó kịp thời đề ra giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả phát triển nguồn nhân lực.
2.2. Thực trạng lãnh đạo, chỉ đạo của các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Hồng đối với công tác phát triển nguồn nhân lực
Kết quả đạt được
Quán triệt các chủ trương, nghị quyết của Đảng về phát triển nguồn nhân lực, như Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, các tỉnh ủy ở vùng đồng bằng sông Hồng đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực và đạt nhiều kết quả quan trọng. Quy mô, chất lượng và trình độ nguồn nhân lực từng bước được nâng lên, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Thứ nhất, các tỉnh ủy đã quan tâm lãnh đạo phát triển quy mô nguồn nhân lực, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực. Đồng bằng sông Hồng là vùng có quy mô dân số lớn. Theo Kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, toàn vùng có khoảng 24 triệu người, chiếm 23,7% dân số cả nước (Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê, 2025). Đây là lợi thế quan trọng về nguồn cung lao động, tạo điều kiện phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị hóa.
Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tỷ trọng lao động trong nông - lâm - ngư nghiệp giảm, trong khi lao động công nghiệp - xây dựng và dịch vụ tăng. Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp của vùng khoảng 13,55%, thấp hơn mức 29% của cả nước; khoảng 60,53% lao động làm công hưởng lương, cao hơn mức 52% của cả nước. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm được duy trì ở mức thấp (Báo Công thương, 2023).
Cùng với quá trình phát triển các khu công nghiệp, khu công nghệ cao và các khu kinh tế, nhiều địa phương trong vùng đã hình thành các trung tâm công nghiệp, logistics, công nghệ cao và dịch vụ hiện đại, góp phần tạo việc làm, thu hút lao động kỹ thuật và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng hiện đại.
Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên. Đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng tập trung nguồn nhân lực có trình độ cao của cả nước, gắn với lợi thế của vùng Thủ đô và mạng lưới các trường đại học, viện nghiên cứu, cơ quan quản lý, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ hiện đại. Vùng tập trung khoảng 26% tổng số lao động có trình độ cao đẳng, đại học của cả nước, khoảng 72% số lao động có trình độ trên đại học và gần một phần tư số lao động có trình độ kỹ thuật (Báo Công thương, 2023).
Những phân tích trên cho thấy mức độ tập trung đáng kể của nguồn nhân lực trình độ cao tại vùng đồng bằng sông Hồng, đồng thời phản ánh vai trò nổi bật của Hà Nội trong hình thành và phân bố nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là lợi thế quan trọng để vùng phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, công tác giáo dục nghề nghiệp và đào tạo nghề được đẩy mạnh. Các tỉnh ủy trong vùng đồng bằng sông Hồng đã quan tâm lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng đồng bằng sông Hồng tăng từ 31,7% năm 2020 lên 40,7% năm 2025; bình quân tăng khoảng 1,8 điểm phần trăm/năm. Trong khi đó, tỷ lệ bình quân của cả nước tăng từ 24,1% lên 29,3%, làm khoảng cách giữa vùng và cả nước tăng từ 7,6 điểm phần trăm năm 2020 lên 11,4 điểm phần trăm năm 2025 (Cục Thống kê, 2026).
Bảng 1. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng đồng bằng sông Hồng so với cả nước
Đơn vị: %
| Năm | Đồng bằng sông Hồng | Cả nước | Vùng cao hơn |
| 2020 | 31,7 | 24,1 | 7,6 điểm % |
| 2021 | 36,3 | 26,1 | 10,2 điểm % |
| 2022 | 36,8 | 26,4 | 10,4 điểm % |
| 2023 | 37,5 | 27,2 | 10,3 điểm % |
| 2024 | 39,2 | 28,4 | 10,8 điểm % |
| 2025 | 40,7 | 29,3 | 11,4 điểm % |
Nguồn: Cục Thống kê (2026). Niên giám Thống kê 2025. Nxb Thống kê.
Như vậy, tỷ lệ lao động qua đào tạo của vùng đồng bằng sông Hồng không chỉ tăng mà lợi thế tương đối so với cả nước cũng được duy trì và mở rộng. Đây là cơ sở quan trọng để các tỉnh ủy tiếp tục lãnh đạo đổi mới giáo dục nghề nghiệp, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động.
Thứ tư, công tác quy hoạch, chiến lược phát triển nguồn nhân lực từng bước đi vào nền nếp. Các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Hồng đã bước đầu quan tâm xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương và quy hoạch vùng. Việc xây dựng quy hoạch cơ bản bám sát Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 04/5/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Theo quy hoạch, đến năm 2030, vùng đồng bằng sông Hồng phấn đấu đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ khoảng 48-52%; tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống dưới 10%. Các địa phương cũng từng bước quan tâm xây dựng cơ sở dữ liệu lao động, dự báo nhu cầu nhân lực, kết nối cung - cầu lao động và liên kết đào tạo theo nhu cầu thị trường.
Thứ năm, sự lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển nguồn nhân lực được tăng cường. Những năm qua, các tỉnh ủy trong vùng đồng bằng sông Hồng ngày càng quan tâm lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực; nhiều địa phương đã ban hành nghị quyết chuyên đề, xây dựng đề án phát triển nhân lực chất lượng cao, chỉ đạo đổi mới giáo dục - đào tạo, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Cùng với quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu tăng cường vai trò lãnh đạo trực tiếp của tỉnh ủy đối với cơ sở ngày càng rõ nét.
Các tỉnh ủy chú trọng kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực, sơ kết, tổng kết thực tiễn và điều chỉnh cơ chế, chính sách phù hợp với yêu cầu mới. Qua đó, nhận thức của hệ thống chính trị về vị trí, vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển địa phương từng bước được nâng lên.
Hạn chế, bất cập
Thứ nhất, nhận thức và sự quan tâm lãnh đạo đối với phát triển nguồn nhân lực ở một số tỉnh ủy chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển mới. Mặc dù các tỉnh ủy trong vùng đồng bằng sông Hồng đã quan tâm lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực, nhưng ở một số địa phương, nhận thức về vị trí, vai trò của nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, chưa thật sự đầy đủ và chưa được đặt đúng tầm trong chiến lược phát triển. Việc cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành các chương trình, kế hoạch, cơ chế, chính sách phù hợp với đặc điểm và yêu cầu phát triển của từng địa phương còn chưa đồng bộ. Chất lượng nguồn nhân lực ở một số lĩnh vực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ cao, kinh tế số và hội nhập quốc tế; năng lực đổi mới sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp, ngoại ngữ và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ cao của một bộ phận lao động còn hạn chế.
Thứ hai, công tác lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới giáo dục, đào tạo gắn đào tạo với sử dụng nguồn nhân lực ở một số địa phương chưa thực sự hiệu quả. Việc lãnh đạo xây dựng cơ chế liên kết giữa cơ sở giáo dục, đào tạo với doanh nghiệp và thị trường lao động còn hạn chế; chỉ đạo đổi mới nội dung, chương trình và phương thức đào tạo ở một số nơi chưa theo kịp yêu cầu của công nghệ mới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mối liên kết giữa đào tạo và sử dụng lao động chưa chặt chẽ, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp thiếu lao động kỹ thuật lành nghề trong khi một bộ phận người học sau tốt nghiệp chưa tìm được việc làm phù hợp với chuyên môn. Điều đó cho thấy công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số tỉnh ủy đối với việc dự báo nhu cầu, định hướng đào tạo và kết nối cung - cầu lao động chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn.
Thứ ba, công tác lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu và phân bổ nguồn nhân lực chưa theo kịp yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Quá trình chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ hiện đại, kinh tế số và các ngành công nghệ cao ở một số địa phương còn chậm; lao động phi chính thức vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể. Điều này phản ánh hạn chế trong việc gắn quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và yêu cầu phát triển các ngành, lĩnh vực mới của Vùng.
Thứ tư, lãnh đạo xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng, sử dụng nhân tài ở một số địa phương chưa tạo được sức hấp dẫn và hiệu quả thực chất. Một số tỉnh ủy đã quan tâm lãnh đạo ban hành chính sách thu hút, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhưng việc chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa đồng bộ; chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc, điều kiện nghiên cứu và cơ chế trọng dụng nhân tài chưa thật sự phù hợp. Công tác phát hiện, thu hút, bố trí và phát huy năng lực của đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, nhân lực công nghệ cao chưa được gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển của địa phương. Do đó, việc giữ chân và phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, dữ liệu lớn, logistics thông minh và năng lượng tái tạo, còn gặp nhiều khó khăn.
Thứ năm, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực của một số tỉnh ủy còn chậm đổi mới, năng lực dự báo và quản trị nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển nguồn nhân lực ở một số nơi chưa thường xuyên, chưa gắn chặt với đánh giá kết quả đầu ra. Tầm nhìn chiến lược và năng lực dự báo nhu cầu nguồn nhân lực còn hạn chế; việc xây dựng cơ sở dữ liệu về lao động, dự báo thị trường lao động và quản trị nguồn nhân lực trên nền tảng số chưa được quan tâm đúng mức. Phương thức lãnh đạo ở một số nơi còn thiên về chỉ đạo hành chính, chưa chuyển mạnh sang lãnh đạo bằng chiến lược, cơ chế, chính sách, dữ liệu, kiểm tra và giám sát, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị phát triển trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
2.3. Giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Hồng nhằm phát triển nguồn nhân lực thời gian tới
Thứ nhất, nâng cao nhận thức và trách nhiệm lãnh đạo của các tỉnh ủy về vị trí, vai trò của phát triển nguồn nhân lực
Đây là giải pháp nền tảng, có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và hiệu quả lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực của các tỉnh ủy. Các tỉnh ủy cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về phát triển con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ mới; xác định phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, có ý nghĩa quyết định đối với nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững của địa phương và vùng đồng bằng sông Hồng; đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư cho phát triển. Trên cơ sở đó, nâng cao trách nhiệm của tỉnh ủy trong lãnh đạo, định hướng, cụ thể hóa chủ trương, huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm phát triển nguồn nhân lực được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Khắc phục tình trạng ở một số địa phương còn thiên về phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư mà chưa quan tâm tương xứng đến đầu tư cho con người, các tỉnh ủy cần đưa phát triển nguồn nhân lực trở thành nội dung quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả phát triển nguồn nhân lực của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, tỉnh ủy cần lãnh đạo đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của xã hội về học tập suốt đời, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp và khả năng thích ứng với thị trường lao động hiện đại; định hướng và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan báo chí và hệ thống truyền thông trong tạo đồng thuận xã hội, khuyến học, khuyến tài và thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực.
Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức lãnh đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển nguồn nhân lực
Trong điều kiện mới, phương thức lãnh đạo cần khoa học, hiện đại, hiệu quả, gắn với tầm nhìn dài hạn, mục tiêu cụ thể và giải pháp đồng bộ. Các tỉnh ủy cần xây dựng nghị quyết chuyên đề về phát triển nguồn nhân lực gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương và quy hoạch vùng; bảo đảm nghị quyết được xây dựng trên cơ sở điều tra, khảo sát thực tiễn, dự báo nhu cầu thị trường lao động, phân tích xu hướng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, khắc phục tình trạng nghị quyết chung chung, thiếu tính khả thi hoặc chưa sát thực tiễn.
Đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng chuyển từ chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính sang lãnh đạo bằng chiến lược, cơ chế, chính sách, dữ liệu, kiểm tra, giám sát và chuyển đổi số; tăng cường phân cấp, phân quyền, phát huy tính chủ động, sáng tạo của cơ sở và nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan liên quan.
Các tỉnh ủy cần lãnh đạo xây dựng cơ sở dữ liệu nguồn nhân lực, hệ thống dự báo thị trường lao động, hệ thống quản lý đào tạo và việc làm trên nền tảng số. Đây là cơ sở để kết nối cung - cầu lao động, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và hỗ trợ hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực chính xác, kịp thời hơn.
Thứ ba, tỉnh ủy lãnh đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo và giáo dục nghề nghiệp theo yêu cầu phát triển nguồn nhân lực
Các tỉnh ủy cần tăng cường lãnh đạo, định hướng đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, kiểm tra, đánh giá và ứng dụng công nghệ số trong giáo dục - đào tạo; chú trọng phát triển tư duy sáng tạo, kỹ năng số, ngoại ngữ, kỹ năng mềm, khả năng thích ứng và năng lực học tập suốt đời. Đồng thời, lãnh đạo đẩy mạnh giáo dục khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), giáo dục công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đối với giáo dục đại học, các tỉnh ủy cần lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện cơ chế liên kết giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và chính quyền địa phương; định hướng chuyển từ đào tạo chủ yếu theo khả năng của cơ sở đào tạo sang đào tạo gắn với nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu phát triển của địa phương. Trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và của vùng đồng bằng sông Hồng, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, logistics, kinh tế số, năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học và tài chính số; khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tiếp cận các chuẩn đào tạo tiên tiến và tham gia hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, các tỉnh ủy cần lãnh đạo cơ cấu lại mạng lưới và nâng cao chất lượng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; chỉ đạo đổi mới chương trình, phương thức đào tạo theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành, gắn với nhu cầu doanh nghiệp và thị trường lao động. Chú trọng phát triển các mô hình đào tạo theo đơn đặt hàng, đào tạo kép, doanh nghiệp tham gia đào tạo, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động; từng bước khắc phục tình trạng đào tạo nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa sát yêu cầu sử dụng lao động. Qua đó, nâng cao vai trò định hướng của tỉnh ủy đối với hệ thống giáo dục - đào tạo, bảo đảm đào tạo gắn với sử dụng, phát triển nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và yêu cầu phát triển mới.
Thứ tư, các tỉnh ủy lãnh đạo phát huy vai trò của chính quyền, doanh nghiệp và toàn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó tỉnh ủy giữ vai trò lãnh đạo, định hướng, tạo cơ chế và huy động các chủ thể tham gia. Trên cơ sở đó, các tỉnh ủy cần lãnh đạo chính quyền các cấp cụ thể hóa chủ trương, chính sách về phát triển nguồn nhân lực; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia đào tạo và sử dụng lao động; đồng thời tăng cường phối hợp giữa các ngành, lĩnh vực trong dự báo, đào tạo, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực.
Lãnh đạo xây dựng cơ chế để doanh nghiệp thực sự trở thành một chủ thể tham gia phát triển nguồn nhân lực, nhất là trong xác định nhu cầu, xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức đào tạo thực hành, tiếp nhận thực tập, đặt hàng đào tạo, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, xây dựng quỹ đào tạo, phát triển văn hóa học tập và nâng cao năng lực thích ứng của người lao động. Đồng thời, tạo cơ chế để doanh nghiệp phối hợp với cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và chính quyền địa phương hình thành các mạng lưới liên kết đào tạo - nghiên cứu - sản xuất, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
Các tỉnh ủy cần lãnh đạo, định hướng phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hiệp hội nghề nghiệp trong tuyên truyền, khuyến học, khuyến tài, hỗ trợ học nghề, tư vấn việc làm và khởi nghiệp. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và xã hội dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, qua đó huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực của Vùng.
3. Kết luận
Phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định đối với nâng cao năng lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững. Thực tiễn cho thấy, các tỉnh ủy trong vùng đồng bằng sông Hồng đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát triển nguồn nhân lực, từng bước nâng cao quy mô, chất lượng và trình độ của lực lượng lao động. Tuy nhiên, trước yêu cầu của chuyển đổi số, phát triển công nghệ cao, kinh tế xanh, kinh tế số và hội nhập quốc tế, công tác phát triển nguồn nhân lực của vùng vẫn còn những hạn chế.
Trong bối cảnh đó, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các tỉnh ủy đối với phát triển nguồn nhân lực trở thành yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi các tỉnh ủy tiếp tục đổi mới nhận thức, nội dung và phương thức lãnh đạo. Qua đó, nâng cao chất lượng, cơ cấu và khả năng thích ứng của nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, góp phần phát huy vai trò động lực của vùng đồng bằng sông Hồng đối với sự phát triển của cả nước.
_________________
Ngày nhận bài: 21/8/2026; Ngày bình duyệt: 11/9/2026; Ngày quyết định đăng: 14/9/2026.
Email tác giả: nhathcqg@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Báo Công thương (29/03/2023 ): Vùng đồng bằng sông Hồng: Phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập, https://congthuong.vn
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Cục Thống kê (2026). Niên giám Thống kê 2025. Nxb Thống kê.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 04/5/2024: Phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê (06/01/2025): Thông cáo báo chí Kết quả Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024. https://www.nso.gov.vn.