DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.6440
Tóm tắt: Tập hợp lực lượng là một hiện tượng phổ biến trong quan hệ quốc tế, ngày càng được quan tâm nghiên cứu trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược hết sức gay gắt, quyết liệt. Bài viết làm rõ nội hàm khái niệm, phân tích các cách tiếp cận khác nhau đối với hiện tượng này, từ đó làm rõ bản chất, chủ thể, mục tiêu, phương thức của tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế hiện nay.
TS VŨ VÂN ANH
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội
NGUYỄN THẾ THÀNH
NCS Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

1. Mở đầu
Trong các công trình nghiên cứu quan hệ quốc tế của phương Tây, thuật ngữ tập hợp lực lượng dù không được phát triển như một khái niệm hoặc lý thuyết chuyên biệt nhưng vẫn được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, như hình thành liên minh (liên minh quân sự, kinh tế), chiến lược ngoại giao (đối phó cường quốc), hay xây dựng đồng thuận quốc tế (an ninh hợp tác), thể hiện nỗ lực cân bằng và định hình trật tự thế giới thông qua việc huy động sức mạnh chung, dù có thể dưới dạng liên kết chính thức hay không chính thức (an ninh hợp tác, phụ thuộc lẫn nhau). Dựa trên ngữ cảnh của việc sử dụng thuật ngữ cho thấy những cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm này.
Tại Việt Nam, thuật ngữ “tập hợp lực lượng” được sử dụng khá phổ biến trong các công trình nghiên cứu về quan hệ quốc tế. Mặc dù một số công trình đã bước đầu làm rõ khái niệm tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế nhưng cách tiếp cận cũng có nhiều khác biệt(1). Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là: liệu việc các nước lớn thúc đẩy các hợp tác, liên kết song phương và đa phương có được xem là quá trình tập hợp lực lượng? Tập hợp lực lượng có những nội hàm nào khác phân biệt với xu hướng hợp tác, liên kết thông thường vốn phổ biến trong thực tiễn quan hệ quốc tế? Việc xác định một cách tiếp cận phù hợp và làm rõ khái niệm tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế là điều cần thiết để nắm bắt đúng đắn và khách quan hiện tượng đang diễn ra. Bài viết góp phần làm rõ các khía cạnh thuộc nội hàm của khái niệm và đề xuất định nghĩa về tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế; chỉ ra các phương thức tập hợp lực lượng gắn với thực tiễn quan hệ quốc tế hiện đại.
2. Nội dung
2.1. Các cách tiếp cận khác nhau về tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế
Thứ nhất, tập hợp lực lượng là huy động lực lượng quân sự. Trong các công trình nghiên cứu về các cuộc chiến tranh trong lịch sử, từ “lực lượng” được sử dụng để chỉ lực lượng quân sự. Mitchell (1943) đã đề cập đến hành vi của Nhật Bản tập trung lực lượng tại Rabaul trong chiến dịch New Guinea năm 1942(2); Palmer (1950) cũng bàn về sự tập trung lực lượng của những người cộng sản tại vùng nông thôn chuẩn bị cho cách mạng trong nội chiến của Trung Quốc năm 1949(3); hay Carter-Edwards (1987) sử dụng thuật ngữ này để chỉ các hành vi chỉ huy của tướng Harrison huy động lực lượng tập trung vào các địa điểm trọng yếu trong cuộc chiến năm 1812 dọc biên giới Detroit(4).
Có thể thấy, thuật ngữ tập hợp lực lượng được sử dụng như một hành vi huy động và tập trung các lực lượng quân sự vào một địa điểm cụ thể để chuẩn bị cho một cuộc chiến hoặc một cuộc tấn công nhắm cụ thể tới một đối tượng được xem là mối đe dọa an ninh quân sự cụ thể.
Thứ hai, tập hợp lực lượng là sự phối hợp liên quốc gia về quân sự, hay liên minh quân sự. Cũng theo hàm chỉ sự huy động và tập trung lực lượng về quân sự nhưng với nội hàm rộng hơn đặt trong mối quan hệ liên quốc gia, thuật ngữ này thường được sử dụng khi đề cập đến các hành vi liên minh về quân sự. Betts (2012) đã sử dụng trực tiếp thuật ngữ tập hợp lực lượng để hàm chỉ về sự liên kết giữa các vùng thuộc địa ở châu Âu trong quá trình giải phóng thuộc địa(5). Lawrence Freedman (1995) đã sử dụng thuật ngữ tập hợp lực lượng đa quốc gia (multinational force gathering) để chỉ sự phối hợp giữa quân đội Anh và Mỹ ở vùng Vịnh từ năm 1980(6). Stephan M.Waltz (1985) khi đề cập đến sự hình thành liên minh và trạng thái cân bằng quyền lực đã nhấn mạnh liên minh như một hình thức huy động quyền lực và nguồn lực giữa các quốc gia tạo ra một khối gắn kết để chống lại một lực lượng bên ngoài(7).
Các nghiên cứu đầu tiên về liên minh cũng hàm chỉ sự gắn kết giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc phòng thủ tập thể chính thức qua các hiệp ước quân sự hoặc không chính thức phản ánh thông qua hợp tác, liên kết quân sự chặt chẽ mà không có những văn bản ràng buộc rõ ràng. Quyền tự vệ tập thể được đề cập chính thức trong Điều 51 chương VII Hiến chương Liên hợp quốc với nội hàm tương tự với phòng thủ tập thể được sử dụng trong các công trình nghiên cứu về liên minh. Theo Điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc, quyền phòng vệ cá nhân và tập thể được công nhận và không ảnh hưởng cho đến khi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đưa ra những biện pháp cụ thể(8).
Từ góc độ luật pháp quốc tế, khi một quốc gia thành viên thực hiện một cuộc tấn công vũ trang bất hợp pháp (không phải thực thi quyền tự vệ chính đáng) chống lại một quốc gia khác, quốc gia bị tấn công có quyền tự vệ chính đáng, và các quốc gia khác có thể hỗ trợ thực thi quyền tự vệ tập thể, đặc biệt khi có sự ủy quyền hoặc phối hợp thông qua Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (UNSC) hoặc trong khuôn khổ các hiệp ước quốc phòng (như NATO), với mục đích khôi phục hòa bình và an ninh quốc tế(9). Nguyên tắc này tương đồng với quan điểm hiện thực về liên minh như Morgenthau đã xem như là một sự bảo trợ mà A và B có thể hỗ trợ lẫn nhau trong trường hợp đối thủ chung tấn công vào một trong hai bên(10). Như vậy, theo cách tiếp cận này, tập hợp lực lượng được hiểu là sự liên kết, phối hợp giữa các quốc gia nhằm tạo ra một khối phòng thủ chung chống lại một đối thủ chung trong trường hợp an ninh quốc gia của một thành viên trong khối bị đe dọa.
Thứ ba, tập hợp lực lượng là sự liên kết của các lực lượng chính trị. Cách tiếp cận này bắt nguồn từ các nghiên cứu chính trị học để chỉ các hành vi liên kết, lôi kéo sự ủng hộ từ các thành phần có chung giá trị và quan điểm tương đồng để tạo thành một lực lượng. George Rudé (1966) đã sử dụng thuật ngữ tập hợp lực lượng để mô tả về những nhóm chống đối biểu tình và diễu hành như một hành vi chính trị điển hình ở Anh trong thế kỷ XVIII(11). Tony Claydon (1996) trong nghiên cứu về tuyên bố của William III và cuộc Cách mạng Vinh quang đã sử dụng thuật ngữ tập hợp lực lượng để diễn tả sự tụ hợp của những thành phần mà William III gọi là những con người với linh hồn độc ác, những ác ý không ngừng và những khao khát bất chấp(12).
Đặt trong bối cảnh quốc tế, thuật ngữ tập hợp lực lượng cũng được sử dụng như một sự liên kết về chính trị giữa các chủ thể có chung những lợi ích, quan điểm, giá trị và tầm nhìn để ứng phó với những thách thức chung bên ngoài như mối đe dọa từ lực lượng khác. Kiyoteru Tsutsui (2018) đã sử dụng thuật ngữ tập hợp lực lượng quốc tế để mô tả về sự liên kết giữa các tổ chức xã hội trong xã hội Nhật Bản với các cơ chế và mạng lưới các nhà hoạt động về nhân quyền quốc tế để tạo ra một phong trào xã hội lớn hơn(13).
Trong các nghiên cứu của Việt Nam về Phong trào công nhân quốc tế, thuật ngữ tập hợp lực lượng cũng được sử dụng phổ biến khi đề cập đến Quốc tế I (1864-1876), Quốc tế II (1889-1914), Quốc tế III (1918-1943)(14) như một hình thức liên kết nhằm chống lại chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Như vậy, tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế theo cách tiếp cận này hàm chỉ đến sự liên kết về chính trị giữa các chủ thể quốc tế dựa trên những quan điểm và lợi ích song trùng để chống lại những chủ thể quốc tế khác.
Thứ tư, tập hợp lực lượng là sự liên kết an ninh. Nguyễn Vũ Tùng và Tô Anh Tuấn (2018) đã đưa ra định nghĩa tập hợp lực lượng “chỉ các hình thức liên kết giữa các nước nhằm phối hợp chính sách để đối phó với những thách thức chung đặc biệt về an ninh”(15). Khái niệm này có thể được xem như là cách tiếp cận rộng nhất bởi nó phản ánh mục tiêu của tập hợp lực lượng có thể đa dạng và không hẳn xuất phát từ những nguy cơ bên ngoài hoặc chống đối một lực lượng khác. Cách tiếp cận này về tập hợp lực lượng tương thích với các nghiên cứu về liên kết trong sự phân biệt với liên minh quân sự.
Pierre (2002) đã đưa ra định nghĩa về đồng minh (coalition) là “một nhóm các quốc gia có cùng quan điểm đồng ý về sự cần thiết phải hành động chung để giải quyết một vấn đề cụ thể tại một thời điểm cụ thể mà không có cam kết về một mối quan hệ lâu dài”(16).
Ward (1982) đưa ra khái niệm về liên kết (alignment): “Sự liên kết không được thể hiện bằng các hiệp ước chính thức mà được thể hiện bằng nhiều hành động, hành vi khác nhau. Đây là một khái niệm rộng hơn liên minh vì nó không chỉ tập trung vào khía cạnh quân sự của chính trị quốc tế. Mức độ liên kết trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa cho thấy sự hình thành đa diện trong hành vi của quốc gia và siêu quốc gia”(17). Khái niệm này phản ánh những thách thức mà các quốc gia và đồng minh phải đối mặt không chỉ là những nguy cơ đối với chủ quyền lãnh thổ mà còn cả các nguy cơ an ninh phi quân sự khác. Như vậy, theo cách tiếp cận này, tập hợp lực lượng có thể được hiểu như quá trình hợp tác ở mức độ có phối hợp hành động và chính sách để đối phó với thách thức chung.
Bốn cách tiếp cận trên phản ánh nhận thức ngày càng mở rộng hơn về tập hợp lực lượng, điều này dẫn tới những quan điểm khác biệt về chủ thể, mục tiêu, biểu hiện, nội dung liên kết của tập hợp lực lượng. Mỗi cách tiếp cận đều có những ưu điểm và thách thức riêng. Cách tiếp cận hẹp có thể chỉ phù hợp trong bối cảnh chiến tranh và xung đột, trong khi cách tiếp cận rộng gây ra những khó khăn trong phân biệt hiện tượng tập hợp lực lượng với quá trình hợp tác và hội nhập cũng diễn ra đồng thời. Chính vì thế, việc giới hạn những nội hàm của tập hợp lực lượng trên các khía cạnh chủ thể, mục tiêu, biểu hiện và nội dung để phân biệt với các hiện tượng khác là điều cần thiết.
2.2. Đặc điểm tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế
Trên cơ sở so sánh các cách tiếp cận nêu trên, có thể thấy một số đặc điểm của tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế như sau:
Về bản chất, trước hết, tất cả cách tiếp cận trên đều chia sẻ quan điểm về tập hợp lực lượng là một dạng thức liên kết giữa các chủ thể dù quan điểm về mức độ liên kết có thể khác nhau. Sự liên kết ở đây phản ánh tính hai chiều của tập hợp lực lượng. Nói cách khác, không nên coi tập hợp lực lượng là một chính sách hay hành vi đơn phương mà là một trạng thái của tương tác. Tuy vậy, cũng sẽ có những chính sách, hành vi thể hiện sự nỗ lực để đạt được trạng thái liên kết - theo đó có thể được gọi cụ thể là hành vi tập hợp lực lượng. Cần thấy rằng, không phải mọi hành vi, nỗ lực từ một phía có thể đạt được kết quả, nên tập hợp lực lượng cần phân biệt với chính sách và là kết quả của những nỗ lực chính sách. Chính vì vậy, tập hợp lực lượng là một trạng thái liên kết, là kết quả của những chính sách liên kết từ các chủ thể tham gia.
Về chủ thể của quá trình tập hợp lực lượng - nhân tố đóng vai trò chủ động, dẫn dắt quá trình tập hợp lực lượng. Mặc dù cách tiếp cận lực lượng chính trị cho thấy, chủ thể của tập hợp lực lượng rất đa dạng từ các cá nhân, nhóm, phong trào xã hội đến các tổ chức quốc tế, tuy nhiên trong quan hệ quốc tế, các quốc gia đóng vai trò quan trọng, là chủ thể chính, đặc biệt là trên lĩnh vực an ninh quân sự. Các cá nhân, nhóm, phong trào xã hội trong một quốc gia dù ngày càng có sức ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế nhưng quyền lực của nhà nước vẫn là yếu tố quyết định, bởi các quốc gia sở hữu những nguồn lực quan trọng trong thực thi quyền lực như quân đội, an ninh và các công cụ quản trị khác. Các quốc gia cũng là chủ thể chính của các tổ chức quốc tế liên chính phủ bằng cách ký kết điều ước quốc tế, tạo ra khuôn khổ pháp lý và cơ chế hoạt động, đồng thời thông qua thương lượng, bỏ phiếu để đưa ra quyết định, định hình chính sách và luật pháp quốc tế, thể hiện vai trò chủ thể tối cao trong hệ thống quốc tế. Ngoài ra, các tổ chức quốc tế liên chính phủ có thể được nhìn nhận như kết quả của quá trình tập hợp lực lượng giữa các quốc gia. Chính vì vậy, các quốc gia là chủ thể chính của tập hợp lực lượng.
Trong trường hợp tập hợp lực lượng có sự tham gia của các nước lớn, thông thường các nước lớn chính là nhân tố đóng vai trò chủ động và dẫn dắt quá trình liên kết. Trong hệ thống quốc tế, các cường quốc vừa đóng vai trò là trung tâm quyền lực (nơi tập trung sức mạnh kinh tế, quân sự, chính trị) vừa là các cực định hình cấu trúc thế giới. Thuật ngữ “trung tâm quyền lực” hay “cực” đã phản ánh vai trò trung tâm và lực hút của các quốc gia này đối với các quốc gia vừa và nhỏ khác trong hệ thống quốc tế, là nhân tố lôi kéo các quốc gia khác trong liên kết, chủ động trong quá trình tập hợp lực lượng. Tuy nhiên, trong lịch sử phát triển quan hệ quốc tế cũng cho thấy, nhiều hình thức tập hợp lực lượng giữa các quốc gia vừa và nhỏ như phong trào không liên kết, hay Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Các hình thức tập hợp lực lượng giữa các nước nhỏ có thể vẫn do một số quốc gia, nhóm quốc gia khởi xướng nhưng không hẳn là dẫn dắt, lãnh đạo và chi phối.
Về mục tiêu của tập hợp lực lượng, có hai khía cạnh mục tiêu được phản ánh qua ba cách tiếp cận nêu trên, đó là an ninh và quyền lực. Mục tiêu cân bằng quyền lực với lực lượng khác bên ngoài chính là một trong những khía cạnh căn bản của tập hợp lực lượng. Mục tiêu an ninh này thường được lồng ghép cùng với mục tiêu quyền lực. Cả bốn cách tiếp cận đều hàm chỉ đến khía cạnh an ninh trong mục tiêu của tập hợp lực lượng, dù khái niệm an ninh được mở rộng dần từ an ninh truyền thống theo ba cách tiếp cận đầu tiên đến bao hàm cả khía cạnh an ninh phi truyền thống theo cách tiếp cận thứ tư. Ba cách tiếp cận đầu hàm chỉ rằng, tập hợp lực lượng chính là sự kết hợp các lực lượng để tạo ra một sức mạnh tập thể lớn hơn để làm đối trọng với lực lượng bên ngoài là mối đe dọa an ninh quân sự. Trong đó, đối tượng mục tiêu là cụ thể và rõ ràng. Chính cách diễn giải dựa trên quyền lực này đã hàm chỉ quá trình tập hợp lực lượng cần được xem như một dạng liên kết nội khối nhắm tới đối trọng bên ngoài thay vì cách tiếp cận rộng dựa trên an ninh tập thể có thể hàm chỉ về việc đối phó với những thách thức không cụ thể và không từ đối tượng quốc gia khác. Việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống mà không nhằm mục đích cân bằng quyền lực với đối trọng quyền lực khác thì không được coi là quá trình tập hợp lực lượng.
Về đối tượng mục tiêu, do mục tiêu cân bằng quyền lực được xác định là khía cạnh căn bản của tập hợp lực lượng, đối tượng mục tiêu cần phải cụ thể, rõ ràng và chính là đối trọng quyền lực của chủ thể tập hợp lực lượng. Trong một hệ thống đơn cực (do một siêu cường có ảnh hưởng chi phối), chính siêu cường/bá quyền đó sẽ trở thành đối tượng chính để các cường quốc mới nổi và các nước nhỏ hơn liên kết, tập hợp lực lượng nhằm cân bằng quyền lực (balance of power) hoặc thách thức sự bá chủ, tạo ra xu thế đa cực hóa thế giới. Điều này phản ánh quy luật tự nhiên trong quan hệ quốc tế, nơi không có một thế lực nào có thể duy trì quyền lực tuyệt đối mãi mãi. Trong một hệ thống đa cực hoặc đa trung tâm, tập hợp lực lượng có thể nhắm tới cùng lúc đa mục tiêu, là các đối trọng quyền lực.
Ngoài ra, hệ thống quốc tế có thể được hiểu theo nghĩa rộng nhất ở phạm vi toàn cầu hoặc khu biệt trong các hệ thống quốc tế ở khu vực, thậm chí tiểu khu vực. Chẳng hạn trong cấu trúc quốc tế toàn cầu hiện nay, tồn tại nhiều trung tâm quyền lực khác nhau như EU với vai trò chi phối nổi bật của Đức và Pháp, cùng với Anh, Mỹ, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ.
Về đối tượng tham gia, nhân tố đóng vai trò tham gia vào quá trình liên kết có thể là một hoặc một nhóm các quốc gia, và thậm chí cả các chủ thể phi quốc gia khác như các tổ chức phi chính phủ, các phong trào xã hội, các nhóm, lực lượng chính trị bên trong một quốc gia khác. Sự tham gia của các đối tượng này phải là những phản ứng tích cực từ ủng hộ đến tham gia chủ động vào các sáng kiến. Các đối tượng tham gia vào quá trình liên kết càng nhiều thì quy mô của tập hợp lực lượng càng rộng.
Về lĩnh vực, nội dung của tập hợp lực lượng, trong các khái niệm đã được khảo cứu, khi bàn về tập hợp lực lượng, các nghiên cứu thường chú trọng tới các liên kết có nội dung về quân sự, an ninh và chính trị. Điều này không có nghĩa loại bỏ các liên kết khác ra khỏi nội hàm của tập hợp lực lượng. Trong bối cảnh vai trò kinh tế ngày càng gia tăng, những liên kết về kinh tế tạo ra sự phụ thuộc chặt chẽ về chính trị và có thể sang lĩnh vực an ninh. Chính vì vậy, những liên kết trên các lĩnh vực khác như kinh tế có khả năng tạo ra sự gắn kết nội khối và có đối trọng quyền lực bên ngoài cũng được tính như một phương thức tập hợp lực lượng.
2.3. Các phương thức tập hợp lực lượng trong quan hệ quốc tế
Do tập hợp lực lượng về bản chất là trạng thái liên kết với mục tiêu cân bằng quyền lực, chủ thể nắm vai trò chủ động dẫn dắt quá trình tập hợp lực lượng có thể triển khai các hoạt động xây dựng, củng cố và mở rộng các dạng thức liên kết từ song phương đến đa phương, từ mức độ liên kết cao đến lỏng lẻo hơn. Cụ thể:
Thứ nhất, xây dựng và củng cố các liên minh quân sự. Trong các dạng thức liên kết, những mối liên kết có tính ràng buộc dựa trên các hiệp ước phòng thủ tập thể thường có mức độ gắn kết cao hơn các liên kết khác. Đối với các liên kết quân sự song phương, đó là các quan hệ liên minh có hiệp ước quân sự chính thức như các liên minh: Mỹ - Nhật Bản, Mỹ - Ôxtrâylia, Mỹ - Hàn Quốc, Mỹ - Thái Lan, Mỹ - Philíppin,… Đối với các liên kết quân sự đa phương, các khối quân sự hoặc các cơ chế hợp tác an ninh có nội dung về phòng thủ tập thể như SEATO, CENTO, Warsaw trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, NATO chính là đại diện cho dạng liên kết này. Thông thường các mối quan hệ này được ưu tiên hàng đầu trong quá trình tập hợp lực lượng bởi khả năng phối hợp sâu cũng như tính chính danh đối với các hoạt động phòng thủ tập thể, có khả năng tạo sức răn đe đối với đối tượng mục tiêu.
Thứ hai, mở rộng và nâng cấp các quan hệ đối tác chiến lược. Đối với các quan hệ đối tác chiến lược và quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, các khuôn khổ hợp tác này hiện nay đều được phản ánh rõ bằng các văn bản thỏa thuận được hai bên ký kết. Các thỏa thuận quan hệ đối tác chiến lược, chiến lược toàn diện đều không phản ánh rõ đối tượng cân bằng quyền lực mà liên kết này hướng tới và một quốc gia cũng có thể thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với các chủ thể tập hợp lực lượng khác nhau, tạo ra một mạng lưới các mối quan hệ đối tác có tính đan xen.
Tuy vậy, hình thức này vẫn được xem xét như một phương thức tập hợp lực lượng bởi việc thiết lập các quan hệ đối tác chiến lược cũng là mở rộng quyền lực mạng lưới tạo ra thế của chủ thể tập hợp lực lượng trong tương quan quyền lực với đối tượng mục tiêu.
Thứ ba, thiết lập và thúc đẩy các liên kết tiểu đa phương. Hợp tác tiểu đa phương là thuật ngữ được sử dụng nhiều, xuất phát từ các tuyên bố chính sách của Mỹ. Cho đến nay, chưa có một khái niệm thống nhất về các cơ chế tiểu đa phương nhưng dựa trên các liên kết mà Mỹ gọi là tiểu đa phương như QUAD, AUKUS, JAPHUS, liên kết chiến lược Mỹ - Nhật Bản - Hàn Quốc, cho thấy, hợp tác tiểu đa phương là các cơ chế có những đặc điểm: (i) dưới năm thành viên, (ii) các thành viên đều có nền tảng là quan hệ liên minh hoặc đối tác chiến lược, không có những mâu thuẫn nghiêm trọng liên quan đến các vấn đề an ninh, chủ quyền lãnh thổ, (iii) nội dung hợp tác mở với an ninh là lĩnh vực trọng tâm.
Khi nghiên cứu về tập hợp lực lượng, những liên kết này cần được lưu ý bên cạnh các liên kết phi quân sự đa phương khác bởi các thành viên của các cơ chế này đã có nền tảng quan hệ chiến lược sâu rộng nên có nhiều sự chia sẻ về lợi ích, quan điểm tăng cường khả năng phối hợp hành động chung. Ngoài ra, với số lượng ít thành viên, việc ra quyết định cũng sẽ không tốn nhiều thời gian như các cơ chế hợp tác đa phương khác.
Thứ tư, xây dựng, mở rộng các liên kết phi quân sự đa phương. Việc tập hợp lực lượng qua các cơ chế đa phương chính là một cách để củng cố quyền lực cấu trúc trong hệ thống quốc tế, từ đó hạn chế quyền lực của đối tượng mục tiêu. Để phân biệt các dạng thức liên kết phi quân sự với mục tiêu cân bằng quyền lực, có thể đưa ra một số ví dụ cụ thể trong lịch sử và đương đại.
Trong hệ thống Yalta (1945-1991), các liên kết kinh tế dựa trên Kế hoạch Marshall hoặc Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) cũng được xem như một hình thức tập hợp lực lượng về kinh tế bên trong mỗi khối tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa để đối trọng với khối còn lại.
Trong bối cảnh quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh, những liên kết về kinh tế như Tổ chức thương mại thế giới (WTO) với sự hợp tác của hơn 150 nền kinh tế và hướng tới thúc đẩy thương mại tự do trên toàn cầu không được xem như tập hợp lực lượng do tính bao trùm của nó. Có thể coi WTO là một hình thức để Mỹ và các nước phương Tây tập trung quyền lực nhưng không thể coi đó là một hành vi nhằm cân bằng quyền lực hay cân bằng lực lượng bởi mục tiêu hay đối trọng quyền lực không thể hiện rõ.
Dù không được tuyên bố chính thức nhưng có thể thấy các cơ chế như Khuôn khổ hợp tác kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương (IPEF) do Mỹ dẫn dắt, trong đó chủ đích loại trừ sự tham gia của Trung Quốc hay Sáng kiến Vành đai Con đường (BRI) của Trung Quốc không có sự kết nối với Mỹ, có thể được coi như những hình thức tập hợp lực lượng của Mỹ và Trung Quốc để tạo đối trọng quyền lực về kinh tế với bên còn lại.
Thứ năm, thúc đẩy các nhóm quan điểm chung. Dựa trên cách tiếp cận thứ ba - tập hợp lực lượng là sự liên kết của các lực lượng chính trị. Nếu như các mối quan hệ liên minh, đối tác chiến lược, các hợp tác tiểu đa phương và đa phương đều có những cơ chế cụ thể và rõ ràng thì các nhóm quan điểm chung lại rất linh hoạt theo từng vấn đề. Đây có thể được xem như một dạng liên kết không chính thức qua các cơ chế đối thoại, hợp tác chỉ dựa trên sự ủng hộ lẫn nhau trong các vấn đề cụ thể. Ví dụ như Mỹ cũng thường xuyên lôi kéo sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong các vấn đề về “trật tự dựa trên luật lệ”, “tự do hàng hải”, dân chủ, nhân quyền để tập hợp lực lượng chống lại Trung Quốc; và chống lại Nga trong các vấn đề liên quan đến tôn trọng luật pháp quốc tế. Ngược lại, Nga và Trung Quốc cũng có sự tập hợp lực lượng chống lại Mỹ và phương Tây dựa trên các vấn đề về giá trị và trật tự phi phương tây (non-western order).
3. Kết luận
Như vậy, tập hợp lực lượng không chỉ là một hành vi hay trạng thái hợp tác hoặc liên kết thông thường, mà nó là trạng thái liên kết có chủ đích xuất phát từ một hoặc một nhóm quốc gia nhắm tới mục tiêu cân bằng quyền lực với một đối trọng quyền lực xác định, thông qua thúc đẩy các cơ chế hợp tác chính thức và không chính thức, song phương và đa phương, quân sự và phi quân sự. Để phân biệt tập hợp lực lượng với các hiện tượng liên kết khác, mục tiêu cân bằng cần được biểu hiện một cách rõ ràng, hay nói cách khác, đối tượng mục tiêu của quá trình tập hợp lực lượng cần phải được phản ánh trong các liên kết đó.
Có thể thấy, quan hệ quốc tế ngày càng phát triển, các mối quan hệ hợp tác cùng cạnh tranh đan xen phức tạp. Có những hình thức hợp tác liên kết đơn thuần vì sự phát triển chung nhưng cũng có không ít các hợp tác được hình thành vì mục tiêu cạnh tranh quyền lực. Hiện nay, ngày càng nhiều các dạng thức liên kết được hình thành nhằm tập trung quyền lực và thúc đẩy một trật tự quyền lực có lợi trong hệ thống quốc tế. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng gay gắt, quá trình tập hợp lực lượng càng được biểu hiện rõ nét và đa dạng từ nội dung đến phương thức. Do vậy, việc xác định đúng hiện tượng tập hợp lực lượng có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá khách quan các xu thế hợp tác và cạnh tranh đang diễn ra.
_________________
Ngày nhận bài: 1-8-2025; Ngày bình duyệt: 22-12-2025; Ngày duyệt đăng: 29-01-2026.
Email tac giả: vuvananh.qth@vnu.edu.vn.
(1) Xem: Nguyễn Vũ Tùng, Tô Anh Tuấn: Xu hướng tập hợp lực lượng ở khu vực và trên thế giới và hàm ý chính sách cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 114 (tháng 3 -2018); Thái Văn Long, Thái Thanh Phong: Xu hướng tập hợp lực lượng mới tại châu Á - Thái Bình Dương và tác động đến Việt Nam, https://www.tapchicongsan.org.vn; Lê Hải Bình: Tập hợp lực lượng trong thế kỷ XXI: Xu hướng, tác động và đối sách của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020.
(2) Mitchell, D.W. (1943), Allied Offensives under way, Current History, 4 (19), 14-21, tr.15.
(3) Palmer, N.D. (1950), Communist Revolution in China, Current History, 18 (103), 144-147, tr. 146.
(4) Carter-Edwards, D. (1987), The War of 1812 along the Detroit Frontier: A Canadian Perspective, Michigan Historical Review, 13(2), 25-50, tr. 37, 41.
(5) Betts, R.F. (2012), Decolonization: A brief history of the word. In Bogaerts E., Raben R. (eds), Beyond Empire and Nation: The Decolonization of African and Asian societies, 1930s-1970s, 23-38, Brill, tr. 23.
(6) Freedman L. (1995), Alliance and the British Way in Warfare, Review of International Studies, 21 (2), 145-158, 154
(7) Walt, S.M. (1985), Alliance Formation and the Balance of Word Power. International Security, 9(4), 3-43, 35, 39.
(8) Charter of the United Nations, Article 51, Repertory of Practice of United Nations Organs, https://legal.un.org.
(9) Kelsen, H. (1948), Collective Security and Collective Self-Defense Under the Charter of the United Nations, The American Journal of International Law, 42 (4), 783-796, tr. 794.
(10) Fedder, E. H. (1968). The Concept of Alliance. International Studies Quarterly, 12(1), 65-86, tr. 71
(11) Rudé, G. (1966). Collusion and convergence in 18th-century English political action. Government and Opposition, 1(4), 511-528, tr. 522.
(12) Claydon, T. (1996). William III’s Declaration of Reasons and the Glorious Revolution. The Historical Journal, 39(1), 87-108, tr. 94.
(13)Tsutsui, K. (2018). Rights Make Might: Global Human Rights and Minority Social Movements in Japan. New York: Oxford University Press, tr. 6.
(14) Xem: Quốc tế I (1864 - 1876); Quốc tế II (1889-1914), Hệ thống tư liệu - văn kiện Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
(15) Nguyễn Vũ Tùng, Tô Anh Tuấn: Xu hướng tập hợp lực lượng ở khu vực và trên thế giới và hàm ý chính sách cho Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 114 (3-2018 ).
(16) Pierre, A.J. (2002), Coalitions: Building and Maintenance, Washington: Institute for the Study of Diplomacy, Georgetown University, tr.2.
(17) Ward M.D. (1982), Research Gaps in Alliance Dynamics, Denver: University of Denver, tr.7.