Tóm tắt: Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phân cấp, phân quyền được coi là một trong những trụ cột cải cách thể chế nhằm nâng cao chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh. Bài viết trình bày tiến trình hoàn thiện chủ trương và khung pháp lý về phân cấp, phân quyền, đồng thời phân tích chất lượng quản trị kinh tế địa phương thông qua Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) - một công cụ đo lường toàn diện về chất lượng điều hành kinh tế và môi trường kinh doanh cho khu vực tư nhân. Trên cơ sở đó, đề xuất một số định hướng chính sách nhằm vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của cấp tỉnh, vừa tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.
ThS LÊ BẢO NGỌC
Tạp chí Lý luận chính trị,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu, yêu cầu cải cách thể chế đã trở thành một yêu cầu khách quan. Quá trình phát triển của một quốc gia phụ thuộc sâu sắc vào cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, đặc biệt là sự tương tác và phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương. Giải quyết mối quan hệ giữa yêu cầu duy trì sự quản lý tập trung, thống nhất để bảo đảm ổn định vĩ mô và việc giải phóng sức sáng tạo, năng động của các địa phương luôn là một thách thức mang tính lịch sử.
Giai đoạn từ năm 2010 đến nay (đặc biệt là dấu mốc tháng 7/2025 với việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp) đánh dấu một bước ngoặt trong tư duy quản trị quốc gia. Hệ thống quản trị đã dịch sang cơ chế phân cấp, phân quyền và ủy quyền ngày càng thực chất, minh bạch và gắn liền với trách nhiệm giải trình.
Sự thay đổi này không chỉ đơn thuần là việc sắp xếp lại các cơ quan hành chính mà còn là sự tái cấu trúc toàn diện không gian thể chế kinh tế cấp tỉnh. Chất lượng điều hành kinh tế tại các địa phương, được đo lường một cách hệ thống thông qua Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), đã trở thành thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả của các chính sách phân quyền này.
Mặc dù khung pháp lý liên tục được mở rộng, thực trạng triển khai phân quyền tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế như sự mâu thuẫn, chồng chéo của các đạo luật chuyên ngành, tâm lý “sợ sai, sợ trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh” trong bộ máy công quyền làm ách tắc dòng vốn đầu tư và suy giảm động lực tăng trưởng.
Bài viết phân tích tiến trình hoàn thiện thể chế pháp lý về phân cấp, phân quyền và thực trạng chất lượng môi trường kinh doanh cấp tỉnh, từ đó đề xuất một số định hướng giải pháp và kiến nghị chính sách cho nền hành chính Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
2. Nội dung
2.1. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phân cấp, phân quyền ở Việt Nam
a) Chủ trương của Đảng về phân cấp, phân quyền
Trong quá trình đổi mới, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về phân cấp, phân quyền trải qua một sự vận động sâu sắc, chuyển từ tư duy tập trung sang tư duy kiến tạo, giải phóng nguồn lực địa phương. Sự tiến triển này thể hiện rõ nét qua các kỳ Đại hội Đảng và các nghị quyết chuyên đề mang tính bước ngoặt.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa IX (2004) đã nhấn mạnh yêu cầu phân cấp “trên từng ngành, từng lĩnh vực một cách đồng bộ, bảo đảm hiệu lực quản lý thống nhất, xuyên suốt của Trung ương đối với địa phương và khuyến khích tính sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các địa phương” (ĐCSVN, 2004, tr. 99) đã góp phần tạo ra một môi trường thể chế riêng của các địa phương cấp tỉnh.
Đại hội XII của Đảng (năm 2016) đặt nền tảng chính trị cho việc đổi mới tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóaXII đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy tổ chức bộ máy khi đặt mục tiêu xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đồng thời yêu cầu khắc phục chồng chéo chức năng, xóa bỏ các tổ chức trung gian và thực hiện “phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, hợp lý giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương”. Đồng thời, yêu cầu “bổ sung, hoàn thiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương, quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; quy định rõ cơ chế phân cấp, ủyquyền và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khi được phân cấp, ủy quyền giữa các cấp chính quyền địa phương” (ĐCSVN, 2017).
Đến Đại hội XIII (năm 2021), tư duy về phân cấp, phân quyền được nâng lên thành yêu cầu gắn với hoàn thiện thể chế phát triển và đổi mới quản trị quốc gia, trong đó Đảng nhấn mạnh: “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý, hiệu quả, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật”(ĐCSVN, 2021, tr.338).
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đã nâng tầm vấn đề phân cấp, phân quyền khi đặt trong tổng thể hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, nhấn mạnh yêu cầu: “phân cấp, phân quyền hợp lý giữa Trung ương và địa phương; cơ bản hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền địa phương”(ĐCSVN, 2022, tr.4). Đồng thời, gắn quyền lực với trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực và bảo vệ lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.
Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII đánh dấu một bước phát triển mới trong chủ trương tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Trên cơ sở tổng kết 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18, Đảng ta đã yêu cầu: “xác định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền,… “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm””. Đồng thời, “Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản còn chồng chéo, bất cập cản trở sự phát triển, khơi thông các điểm nghẽn, tạo ra động lực mới cho phát triển; tăng cường quyền tự chủ, tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm,… nâng cao trách nhiệm giải trình” (ĐCSVN, 2025, tr.3).
Đại hội XIV của Đảng (năm 2026) yêu cầu tiếp tục “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, quản trị phát triển giữa Trung ương và địa phương, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương,… thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân” (ĐCSVN, 2026, tr.387).
b) Sự cụ thể hóa qua khung khổ pháp luật và điều hành của Chính phủ
Từ những chủ trương của Đảng, Nhà nước đã khẩn trương thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật và điều hành quyết liệt của Chính phủ, cụ thể:
Trước năm 2015, quản lý hành chính lãnh thổ chủ yếu vận hành theo Luật số 11/2003/QH11 của Quốc hội ngày 26/11/2003 về Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân. Giai đoạn này, pháp luật hầu như chỉ đề cập đến “phân cấp” mà thiếu vắng các quy phạm rõ ràng về “phân quyền”, dẫn đến cơ chế “xin - cho” vẫn tồn tại trong quan hệ trung ương - địa phương.
Năm 2015, Luật Tổ chức chính quyền địa phương (Luật số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015) đã đặt nền tảng pháp lý cho phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền địa phương. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều quy định vẫn dừng ở nguyên tắc chung, chưa làm rõ quyền hạn riêng của địa phương.
Luật số 47/2019/QH14 ngày 22/11/2019 về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã quy định việc phân quyền cho các cấp chính quyền địa phương phải được quy định trong luật; đồng thời, việc phân quyền, phâp cấp cho các cấp chính quyền địa phương phải bảo đảm điều kiện về tài chính, nguồn nhân lực và các điều kiện khác (Quốc hội, 2019). Tuy nhiên, do nhiều luật chuyên ngành (như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng) và quy định dưới luật chưa được sửa đổi đồng bộ, việc thực thi phân quyền bị cản trở bởi thủ tục hành chính rườm rà và sự chồng chéo trong quản lý, tổ chức thực hiện.
Thực hiện Nghị quyết số 04/NQ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước, Chính phủ đã chỉ đạo rà soát, sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật để phân cấp thêm thẩm quyền cho địa phương, trong đó có các lĩnh vực như đầu tư công, đất đai và nhiều thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành trung ương. Tuy nhiên, các văn bản chuyên ngành vẫn cần tiếp tục được đồng bộ hóa để bảo đảm phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương được thực thi thông suốt.
Để khung khổ pháp lý về phân quyền thực sự đi vào cuộc sống và khắc phục điểm nghẽn về tâm lý “sợ sai, sợ trách nhiệm, đùn đẩy công việc” đang cản trở môi trường đầu tư kinh doanh, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29/9/2023 Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Nghị định này cung cấp một “lá chắn thể chế” vững chắc, miễn trừ hoặc loại trừ trách nhiệm kỷ luật, hình sự cho các cán bộ dám nghĩ, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung, từ đó thúc đẩy động lực hành động trong bộ máy công quyền cấp địa phương.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương số72/2025/QH15 ngày 16/6/2025 đã xác lập mô hình chính quyền địa phương hai cấp; theo đó, đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức thành cấp tỉnh và cấp xã, và “Hội đồng nhân dân, các cơ quan thuộc Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân huyện... kết thúc hoạt động từ ngày 01/7/2025. Đồng thời, luật cũng mở rộng cơ chế phân quyền, ủy quyền và phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền địa phương, tạo cơ sở pháp lý cho việc điều hành linh hoạt hơn ở cấp tỉnh và cấp xã.
2.2. Thực trạng phân cấp, phân quyền gắn vớichất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh
Một trong những tiêu chí đo lường các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước có đi vào cuộc sống hay không, là qua đánh giá khu vực kinh tế tư nhân. Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là thước đo uy tín, độc lập và toàn diện về chất lượng điều hành kinh tế địa phương. Phân tích dữ liệu trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2025 cho thấy một bức tranh tích cực và chuyển biến sâu sắc trong tư duy điều hành chính quyền tỉnh, thành phố.
Biểu đồ 1: Điểm số tổng hợp năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI giai đoạn 2010-2025

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ PCI 2010-2025)
Năm 2010, khoảng cách giữa các tỉnh dẫn đầu và các tỉnh ở cuối bảng xếp hạng PCI là rất lớn. Việc cải thiện môi trường kinh doanh lúc đó chủ yếu phụ thuộc vào nỗ lực “xé rào”, “vượt rào” của một vài lãnh đạo địa phương mang tư duy đột phá, do khung pháp lý phân cấp chưa đồng bộ. Tuy nhiên, dưới áp lực công khai hóa xếp hạng của PCI và sự phân quyền ngày càng rành mạch của pháp luật, một hiệu ứng “cạnh tranh thể chế” đã lan tỏa khắp cả nước.
Theo các Báo cáo PCI 2024, chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh đã đạt đến một mặt bằng chung mới. Điểm PCI trung vị của cả nước liên tục vượt mốc 60 điểm trong 8 năm liên tiếp, đạt 68,18 điểm vào năm 2024. Các tỉnh dẫn đầu không chỉ xoay quanh các trung tâm kinh tế truyền thống mà có sự vươn lên mạnh mẽ của các tỉnh công nghiệp mới. Điển hình, Quảng Ninh duy trì vị thế dẫn đầu trong 7 năm liên tiếp trước khi Hải Phòng vươn lên vị trí số 1 vào năm 2024 (với 74,84 điểm). Nhóm các địa phương xuất sắc như Quảng Ninh, Long An, Bắc Giang đều thể hiện sự vượt trội (VCCI, 2025, tr.19).
Sự thành công của các địa phương này cung cấp một bài học lớn về thực tiễn phân cấp: không địa phương nào đi lên nhờ một lợi thế tĩnh đơn lẻ (như tài nguyên hay vị trí địa lý). Thay vào đó là sở hữu một cấu trúc điều hành cân bằng trên nhiều chiều cạnh: từ việc cắt giảm chi phí tuân thủ, số hóa thủ tục hành chính, củng cố tính minh bạch pháp lý đến việc phát huy tối đa vai trò chủ động kiến tạo, đồng hành cùng doanh nghiệp của chính quyền cấp tỉnh. Tỷ lệ doanh nghiệp hài lòng với thủ tục gia nhập thị trường với 93% cho rằng thủ tục minh bạch, 91% nhận được hướng dẫn rõ ràng, đầy đủ, 86% hài lòng về chuyên môn và thái độ của cán bộ tiếp nhận (VCCI, 2025, tr.20), phản ánh sự tiến bộ vượt bậc trong dịch vụ công trực tuyến và cải cách thủ tục hành chính.
Bên cạnh những kết quả đạt được, còn một số hạn chế, thiếu đồng bộ trong phân cấp đã tạo ra những lực cản lớn đối với doanh nghiệp tư nhân.
Một là, vấn đề tiếp cận đất đai
Dữ liệu khảo sát PCI cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp không gặp khó khăn khi tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh là đáng báo động: từ 55% năm 2021, xuống 48% năm 2022, 41% năm 2023 và mức 33% trong năm 2024 (VCCI, 2025, tr.21).
Nút thắt này xuất phát trực tiếp từ sự mâu thuẫn, thiếu rõ ràng trong các đạo luật chuyên ngành. Cụ thể, 59% doanh nghiệp tham gia khảo sát PCI 2024 khẳng định thủ tục xác định giá trị quyền sử dụng đất tiêu tốn một lượng thời gian và tiềm ẩn rủi ro cực lớn. Về mặt pháp lý, Luật Đất đai quy định 4 phương pháp định giá đất cụ thể (so sánh trực tiếp, chiết trừ, thu nhập, thặng dư), nhưng thực tiễn áp dụng mỗi phương pháp tại địa phương lại cho ra một kết quả tài chính khác biệt. Trong bối cảnh phân cấp định giá đất cho địa phương nhưng lại thiếu cơ sở dữ liệu định giá độc lập, minh bạch, chính quyền cấp tỉnh (đặc biệt là Sở Nông nghiệpvà Môi trường - cơ quan vừa tham mưu giao đất, vừa tham mưu giá đất) bị đặt vào tình thế “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Hậu quả là, để tránh rủi ro pháp lý (sợ bị cáo buộc thất thoát tài sản nhà nước), nhiều hội đồng định giá đất địa phương đã đình trệ việc ra quyết định, khiến hàng loạt dự án bất động sản và khu công nghiệp bị đóng băng.
Hai là, hiện tượng tham nhũng vặt (chi phí không chính thức) gia tăng ở các địa phương
Thành tựu giảm thiểu “tham nhũng vặt” (chi phí không chính thức) trong giai đoạn 2016-2021 đang có nguy cơ không duy trì được. Theo báo cáo PCI 2024, gần 37% doanh nghiệp cho biết phải trả chi phí không chính thức, tăng so với mức 33% của năm trước. Tỷ lệ doanh nghiệp phải trả phí “bôi trơn” cho cán bộ thanh tra, kiểm tra tăng đột biến từ 16% lên tới 28%.
Bên cạnh đó, 22% doanh nghiệp phàn nàn về sự trùng lặp trong nội dung kiểm tra giữa các đoàn thanh tra khác nhau. Thực trạng này chỉ ra một điểm yếu cố hữu của cơ chế quản lý hành chính: sự phân cấp thẩm quyền thanh tra, kiểm tra cho nhiều cấp, nhiều ngành nhưng thiếu một cơ chế liên thông dữ liệu và kiểm soát quyền lực hữu hiệu đã tạo ra kẽ hở cho sự nhũng nhiễu, làm tăng chi phí tuân thủ cho khu vực tư nhân.
Ba là, hiện tượng “sợ sai, đùn đẩy trách nhiệm”
Rào cản lớn nhất đối với tiến trình phân quyền tại Việt Nam không nằm ở cấu trúc bộ máy, mà ở một hiện tượng tâm lý - hành vi lan rộng trong giới công chức: tình trạng né tránh, đùn đẩy công việc, làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm và sợ sai. Năm 2024, 26% doanh nghiệp cho biết khi chính sách hoặc văn bản của trung ương còn điểm chưa rõ, tỉnh thường lựa chọn cách “trì hoãn thực hiện và xin ý kiến chỉ đạo” hoặc “không làm gì”, cao hơn đáng kể so với mức 19% vào năm 2021 (VCCI, 2025, tr.20).
Nguyên nhân bắt nguồn từ sự bất đồng bộ, chồng chéo và khoảng trống của hệ thống pháp luật. Đặc biệt trong các lĩnh vực nhạy cảm như quản lý đất đai, đấu thầu, đầu tư công và quản lý tài sản công, các quy định thường xuyên xung đột lẫn nhau (Đại biểu Nhân dân, 2023). Khi ranh giới giữa đúng và sai chưa được xác định rành mạch, và giữa thẩm quyền được giao với công cụ pháp lý để thực hiện chưa tương xứng, người thực thi công vụ dễ lựa chọn phương án an toàn nhất: đùn đẩy hồ sơ lên cấp trên để xin ý kiến, hoặc yêu cầu doanh nghiệp bổ sung thủ tục liên tục nhằm bảo vệ bản thân .
2.3. Giải pháp và kiến nghị chính sách
Một là, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về phân cấp, phân quyền theo hướng phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa trung ương và địa phương, tránh “nửa vời” và chồng chéo, đồng thời thiết kế cơ chế phối hợp đa cấp và đa ngành để bảo đảm thống nhất chính sách vĩ mô và linh hoạt ở cấp thực thi. Việc bãi bỏ cấp hành chính trung gian cần đi kèm hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả điều hành kinh tế rõ ràng (ví dụ như PCI, PGI và các chỉ số nội bộ khác), cùng chế độ báo cáo, giám sát độc lập để giảm thiểu rủi ro lợi ích nhóm và tăng trách nhiệm giải trình của lãnh đạo tỉnh.
Hai là, đầu tư mạnh vào năng lực thể chế địa phương, bao gồm nâng cao năng lực phân tích chính sách, quản trị rủi ro và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời xây dựng văn hóa “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” gắn với cơ chế bảo vệ cán bộ dám đổi mới trong khuôn khổ pháp luật. Kinh nghiệm quốc tế về phân quyền cho thấy, khi năng lực quản trị địa phương được củng cố, phân quyền sẽ phát huy được lợi thế trong việc thiết kế chính sách phù hợp điều kiện địa phương, thúc đẩy sáng kiến phát triển và nâng cao chất lượng điều hành kinh tế (OECD, 2019).
Ba là, đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất, liên thông chặt chẽ giữa các bộ, ngành trung ương và địa phương. Cụ thể, cần nhanh chóng thiết lập cơ sở dữ liệu định giá đất độc lập và minh bạch để tháo gỡ điểm nghẽn trong khâu tiếp cận mặt bằng sản xuất, đồng thời liên thông dữ liệu thanh tra, kiểm tra nhằm chấm dứt tình trạng trùng lặp giữa các đoàn kiểm tra. Việc số hóa và minh bạch thông tin sẽ trực tiếp thu hẹp không gian của nạn nhũng nhiễu, từ đó kéo giảm tỷ lệ doanh nghiệp phải trả chi phí không chính thức.
Bốn là, cần cụ thể hóa và đưa “lá chắn thể chế” từ Nghị định số 73/2023/NĐ-CP vào thực tiễn bằng các hướng dẫn đánh giá rủi ro và quy trình bảo vệ cán bộ một cách chi tiết. Việc tạo ra hành lang pháp lý an toàn, rành mạch giữa ranh giới đúng - sai sẽ giúp giải quyết triệt để rào cản tâm lý làm việc cầm chừng, “sợ sai, sợ trách nhiệm, đùn đẩy, né tránh” trong bộ máy công quyền, giúp chính quyền địa phương không còn tình trạng “trì hoãn thực hiện và xin ý kiến chỉ đạo” khi đối mặt với các quy định pháp luật còn chồng chéo.
Năm là, chính quyền cấp tỉnh nên coi PCI như một công cụ quản trị chiến lược chứ không chỉ là bảng xếp hạng, sử dụng kết quả khảo sát để xây dựng chương trình cải cách tập trung vào những khía cạnh doanh nghiệp đánh giá thấp (tiếp cận đất đai, chi phí tuân thủ pháp luật, chi phí không chính thức, chất lượng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp). Các tỉnh cần tăng cường đối thoại công - tư, thiết lập kênh phản hồi thường xuyên với cộng đồng doanh nghiệp, kết hợp dữ liệu PCI với các chỉ số về đầu tư FDI, tăng trưởng việc làm và phát triển xanh để điều chỉnh chính sách điều hành kinh tế theo hướng bao trùm và bền vững.
3. Kết luận
Phân cấp, phân quyền là một đòi hỏi tất yếu và là trụ cột quan trọng trong tiến trình cải cách thể chế nhằm nâng cao chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh tại Việt Nam. Quá trình này đã được cụ thể hóa mạnh mẽ thông qua các chủ trương của Đảng và khuôn khổ pháp luật, đặc biệt là bước ngoặt chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Nhờ những nỗ lực phân quyền, chất lượng điều hành kinh tế địa phương đã có sự chuyển biến sâu sắc, tạo ra hiệu ứng tích cực và thiết lập một mặt bằng chung mới về môi trường kinh doanh và chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh. Để phân cấp, phân quyền thực sự trở thành động lực kiến tạo phát triển, Việt Nam cần khẩn trương đồng bộ hóa hệ thống pháp luật, đầu tư nâng cao năng lực quản trị cho bộ máy địa phương, đồng thời thiết lập cơ chế bảo vệ hiệu quả những cán bộ dám nghĩ, dám làm. Chỉ khi quyền hạn đi đôi với năng lực và trách nhiệm giải trình rõ ràng, chính quyền cấp tỉnh mới có thể phát huy tối đa tính năng động, sáng tạo, góp phần khơi thông mọi nguồn lực cho sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Ngày nhận bài: 17/7/2026; Ngày bình duyệt: 20/7/2026; Ngày quyết định đăng: 22/7/2026.
Email tác giả: Baongoc.hcma@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Đại biểu Nhân dân (2023). Quyết tâm “công phá” tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám làm.
ĐCSVN (2004). Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX. Nxb Chính trị quốc gia.
ĐCSVN (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị Trung ương 6 khoá XII về Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
ĐCSVN (2025). Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
ĐCSVN. (2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
OECD (2019). Making decentralisation work: A handbook for policy-makers. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/g2g9faa7-en
Quốc hội (2019). Luật số 47/2019/QH14 ngày 22/11/2019 về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
VCCI. (2025). Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2024.
VCCI. Tổng hợp dữ liệu 2010 đến 2025. https://pcivietnam.vn/du-lieu-pci