Tóm tắt: Vai trò của chính đảng mác xít lãnh đạo công tác tôn giáo là một vấn đề có ý nghĩa then chốt đối với quản trị nhà nước, ổn định chính trị - xã hội và định hướng giá trị trong bối cảnh toàn cầu hóa và đa dạng tôn giáo ngày càng tăng. Đối với các quốc gia theo ý thức hệ mác xít, tôn giáo được nhìn nhận là một hiện tượng xã hội - văn hóa và là một lĩnh vực gắn với an ninh tư tưởng, đoàn kết dân tộc và trật tự xã hội. Vì vậy, vai trò lãnh đạo của chính đảng mác xít trong lĩnh vực này mang tính nguyên tắc và có cấu trúc rõ ràng. Bài viết khái quát vai trò của chính đảng mác xít trong công tác tôn giáo ở một số nước xã hội chủ nghĩa, như Trung Quốc, Cu Ba, Lào và gợi mở một số hàm ý đối với Việt Nam.
PGS, TS ĐỖ LAN HIỀN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Chính đảng mác xít cầm quyền là đảng theo hệ tư tưởng Mác - Lênin, giữ vai trò lãnh đạo toàn diện hệ thống chính trị và định hướng xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Với vị trí trung tâm quyền lực trong hệ thống chính trị, đảng không chỉ chi phối các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà còn giữ vai trò định hướng trong xây dựng chính sách và pháp luật về tôn giáo. Trong bối cảnh hiện nay, tôn giáo đang gia tăng vai trò trong đời sống công cộng, các quốc gia do chính đảng mác xít lãnh đạo đều có những điều chỉnh nhận thức, chính sách và phương thức quản lý tôn giáo. Bài viết làm rõ vai trò của chính đảng mác xít ở một số nước trên thế giới trong hoạch định và thực thi chính sách tôn giáo. Phân tích thực tiễn và gợi mở một số hàm ý đối với Việt Nam.
2. Nội dung
2.1. Vai trò của đảng cộng sản trong lãnh đạo công tác tôn giáo - cách tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra những nguyên tắc căn bản cho các đảng cộng sản trong công tác tôn giáo thời kỳ chủ nghĩa xã hội. Đó là:
Thứ nhất, không được đả kích tôn giáo dưới hình thức thù địch cũng như dưới hình thức khinh bạc (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2002, tr.23). Đảng cộng sản phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng, “bất kỳ ai cũng được hoàn toàn tự do theo tôn giáo mình thích, hoặc không thừa nhận một tôn giáo nào” (V.I.Lênin, 1979a, tr.171), “mọi sự phân biệt quyền lợi giữa những công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đều hoàn toàn không thể dung thứ được” (V.I.Lênin, 1979a, tr.171). “Trong các văn kiện chính thức tuyệt đối phải vứt bỏ thậm chí mọi sự nhắc đến tôn giáo nào đó của công dân…” (V.I.Lênin, 1979a, tr.171).
Thứ hai, không được xúc phạm đến tình cảm tôn giáo của người dân, không được phế bỏ tất cả những yếu tố của sự thờ cúng, hay là huy động cảnh sát để truy kích tôn giáo, vì “ai làm thương tổn đến tình cảm tôn giáo, người đó sẽ gây thiệt hại lớn… Nếu hành động thô bạo, chúng ta sẽ làm cho quần chúng tức giận; hành động như vậy sẽ càng gây thêm chia rẽ trong quần chúng về vấn đề tôn giáo” (V.I.Lênin, 1979b, tr.221) và thậm chí, càng kích động lòng cuồng tín và sự quan tâm của người dân đến tôn giáo, “còn như tuyên chiến với tôn giáo, coi đó là nhiệm vụ chính trị của đảng công nhân, thì đó chỉ là một luận điệu vô chính phủ chủ nghĩa” (V.I.Lênin, 1979c, tr.511), vì tuyên chiến như thế là một phương pháp nhanh nhất gây kích động người dân thực hiện hành vi tử vì đạo.
Thứ ba, có thể kết nạp vào đảng những người có đức tin, “Không nên nhất luật, và bất cứ trong trường hợp nào, cũng tuyên bố rằng các linh mục không thể trở thành đảng viên Đảng dân chủ - xã hội, nhưng lại càng không nên nhất luật tuyên bố ngược lại. Nếu có một linh mục nào lại cùng đi với chúng ta để cùng hoạt động chính trị, tận tâm làm tròn nhiệm vụ của mình trong đảng và không chống lại cương lĩnh của đảng, thì chúng ta có thể kết nạp người ấy vào hàng ngũ Đảng dân chủ - xã hội” (V.I.Lênin, 1979b, tr.519).
Thứ tư, một đảng cầm quyền phải kiên trì thực hiện giải phóng thực sự quần chúng nhân dân khỏi những thiên kiến tôn giáo, nhưng “chủ nghĩa Mác không phải là thứ chủ nghĩa duy vật chỉ đứng lại ở điều sơ đẳng ấy… Không nên chỉ bó hẹp cuộc đấu tranh chống tôn giáo trong một cuộc tuyên truyền trừu tượng về mặt tư tưởng…; phải gắn liền cuộc đấu tranh ấy với thực tiễn cụ thể của phong trào giai cấp nhằm tiêu diệt nguồn gốc xã hội của tôn giáo” (V.I.Lênin, 1979b, tr.514 - 515). Tức là, sứ mệnh của đảng cộng sản phải cải tạo xã hội hiện thực.
Thứ năm, đối với một tổ chức đảng, phải chống lợi dụng tôn giáo vào các mục đích chính trị. “Đảng của giai cấp vô sản đòi hỏi nhà nước phải tuyên bố rằng tôn giáo là một việc của tư nhân, nhưng như thế hoàn toàn không có nghĩa là đảng coi vấn đề đấu tranh chống thứ thuốc phiện đối với nhân dân, đấu tranh chống các mê tín tôn giáo,v.v., là một “việc của tư nhân” đâu” (V.I.Lênin, 1979c, tr.512).
Tựu trung, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của đảng cầm quyền trong xử lý vấn đề tôn giáo thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa đã trở thành nền tảng lý luận để các đảng mác xít vận dụng trong chỉ đạo công tác tôn giáo. Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng, có thời điểm một số đảng diễn giải các quan điểm này theo hướng cứng nhắc, dẫn đến cách tiếp cận thiếu linh hoạt, thậm chí cực đoan, để lại những bài học kinh nghiệm cần được nhìn nhận và điều chỉnh.
2.2. Sự vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin của các chính đảng mác xít cầm quyền trong công tác tôn giáo và kinh nghiệm
Một là, “tự quản có điều kiện” và “tích hợp tôn giáo vào hệ thống lãnh đạo chính trị - tư tưởng của Đảng” từ thực tiễn của Trung Quốc
Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập năm 1921, có thời kỳ, đặc biệt giai đoạn Cách mạng Văn hóa (1958 - 1976) do diễn giải cứng nhắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo tại Trung Quốc thường được nhìn nhận là “tàn dư của chủ nghĩa phong kiến”, “thuốc phiện của nhân dân” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2002, tr.570), đối kháng ý thức hệ, cần phải “đấu tranh trực diện” (Phạm Thanh Hằng, 2020) và là lực cản đối với công cuộc kiến thiết xã hội mới, cần loại bỏ ảnh hưởng của tôn giáo khỏi đời sống xã hội.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1970, đặc biệt sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XI (năm 1978), Trung Quốc bước vào thời kỳ cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế với phương châm “giải phóng tư tưởng, thực sự cầu thị”, chuyển trọng tâm từ “đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh” sang “xây dựng kinh tế làm trung tâm”, Đảng Cộng sản Trung Quốc từng bước cho phép các tôn giáo phục hồi và hoạt động trên phạm vi rộng hơn, nhìn nhận tôn giáo như một nguồn lực có thể góp phần bù đắp những khoảng trống về đạo đức và văn hóa nảy sinh trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế nhanh. Bước ngoặt đó được thể hiện qua Văn kiện số 19 của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1982) về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa. Văn kiện số 19 thừa nhận một luận điểm có tính đột phá: “Tôn giáo sẽ tồn tại trong một thời gian rất dài trong xã hội xã hội chủ nghĩa” (Phạm Thanh Hằng, 2020) và quản lý bằng thể chế pháp lý. Không chủ trương loại bỏ tôn giáo khỏi đời sống chính trị - xã hội mà chuyển hóa tôn giáo thành lực lượng yêu nước, phục vụ phát triển đất nước, phục vụ chủ nghĩa xã hội và Nhà nước từng bước củng cố, trao quyền thực tế cho các hiệp hội tôn giáo như: Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc, Hiệp hội Đạo giáo Trung Quốc, Hiệp hội Hồi giáo Trung Quốc, Hội Tam Tự (Tin lành) và Hiệp hội Công giáo. Nhà nước không quản lý trực tiếp từng hoạt động tôn giáo cụ thể mà thực hiện quản lý thông qua các hiệp hội tôn giáo - một cơ chế “ủy quyền quản lý”, theo đó, Nhà nước không trực tiếp can dự vào những công việc nội bộ của tôn giáo mà trao trách nhiệm cho các hiệp hội tôn giáo trong khuôn khổ chính sách và pháp luật của Nhà nước. Đây có thể được xem là một mô hình quản trị gián tiếp, hay một cơ chế “tự quản có điều kiện”.
Tuy nhiên, sau một thời gian, hạn chế đã bộc lộ trong mô hình “tự quản có điều kiện”, cụ thể: sự phát triển nhanh chóng của đời sống tôn giáo, đặc biệt là các hình thức tôn giáo mới chưa được công nhận chính thức, vượt quá khả năng kiểm soát của hệ thống hiệp hội. Các hiệp hội tôn giáo tuy có khả năng quản lý tổ chức nhưng chưa đủ năng lực định hướng và kiểm soát chiều sâu tư tưởng, giáo lý và diễn giải thần học. Nguy cơ ảnh hưởng xuyên quốc gia ngày càng rõ nét bởi quan hệ của các tôn giáo với các mạng lưới quốc tế, cơ chế “tự quản có điều kiện” không còn đủ để bảo đảm an ninh chính trị - tư tưởng trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Trước tình hình đó, phương châm “Trung Quốc hóa tôn giáo” được nhấn mạnh như một định hướng chiến lược. Văn kiện số 6 (năm 1991) của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc yêu cầu: “làm cho tôn giáo thích ứng với chủ nghĩa xã hội” (Phạm Thanh Hằng, 2020) đã được đặt ra với nội hàm cụ thể là tôn giáo phải phù hợp với chủ nghĩa xã hội và văn hóa Trung Hoa. Điều này được thể hiện qua yêu cầu điều chỉnh giáo lý, kiến trúc, biểu tượng và hoạt động tôn giáo theo “bản sắc Trung Quốc”, đồng thời tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong các tổ chức tôn giáo. Theo đó, các hiệp hội tôn giáo không chỉ giữ vai trò trung gian quản lý mà dần trở thành kênh triển khai các yêu cầu chính trị - tư tưởng của Đảng.
Hai là, chuyển từ đối đầu sang hợp tác và điều chỉnh linh hoạt - thực tiễn của Cu Ba
Trong cuốn tự chuyện của Fidel Castro với linh mục Frei Betto có tựa đề: Fidel and Religion: Conversations with Frei Betto on Marxism & Liberation Theology/ Fidel và Tôn giáo: Đối thoại với Frei Betto về Chủ nghĩa Mác và Thần học Giải phóng (Fidel Castro, Frei Betto, 2006), thảo luận về mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác, cách mạng Cu Ba và tôn giáo. Fidel Castro thừa nhận những sai lầm trong việc đối xử với các tín đồ tôn giáo và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng sự đoàn kết giữa cách mạng và tôn giáo.
Sau Cách mạng Cu Ba năm 1959, trong giai đoạn từ năm 1959 - 1980, chính quyền do Fidel Castro đứng đầu đã thực hiện chính sách bài trừ tôn giáo mạnh mẽ, coi tôn giáo là “thuốc phiện của nhân dân” và là lực lượng phản cách mạng. Nhiều linh mục và tín đồ được đưa vào các trại lao động UMAP (Unidades Militares de Ayuda a la Produccion) là một đơn vị quân sự hỗ trợ sản xuất, một chương trình lao động cải tạo được Chính phủ Cu Ba thiết lập từ năm 1965 - 1968. Mặc dù được gọi là “đơn vị quân sự hỗ trợ sản xuất” nhưng thực chất UMAP là trại lao động cải tạo, nơi tập trung những người bị coi là “phản cách mạng” hoặc “không phù hợp với xã hội xã hội chủ nghĩa” để quản thúc và theo dõi. Giáo dục tôn giáo bị cấm trong trường công, tín đồ tôn giáo không được tuyển dụng vào các vị trí công chức nhà nước.
Đến cuối những năm 1980, nhận thức về vai trò xã hội của tôn giáo dần thay đổi. Đại hội Đảng lần thứ II (năm 1980), Đảng Cộng sản Cu Ba không còn coi tôn giáo là “đối nghịch cách mạng” như trước mà bắt đầu thừa nhận tự do tôn giáo như một quyền công dân. Trong văn kiện chính thức bắt đầu xuất hiện cụm từ “Tự do tư tưởng, được hiểu là quyền của công dân được theo bất kỳ tôn giáo hoặc tín ngưỡng nào, hoặc không theo tôn giáo nào, và được giữ gìn các thực hành tôn giáo của mình…” (II Congreso del PCC). Đến Đại hội III (năm 1986), Văn kiện Đại hội không đưa ra những mục riêng biệt về tôn giáo (tổ chức, giáo hội, tín đồ) như tại Đại hội II, không còn nhấn mạnh thuật ngữ “ateísmo científico” (vô thần khoa học), Văn kiện Đại hội III của Đảng Cộng sản Cu Ba đã đề cập đến vai trò của tín đồ Kitô giáo trong phong trào giải phóng ở Mỹ Latinh, thừa nhận một số tín đồ Kitô giáo đã tham gia tích cực trong các phong trào giải phóng ở Mỹ Latinh.
Nhìn chung, việc mở rộng đối thoại và điều chỉnh chính sách tôn giáo phản ánh sự linh hoạt của Đảng Cộng sản Cu Ba trong công tác tôn giáo.
Ba là, kiểm soát và hợp tác linh hoạt - thực tiễn của Lào
Tại Lào, Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda) giữ vị thế đặc biệt trong đời sống văn hóa - xã hội dù không được hiến định là quốc đạo. Khoảng 65% dân số theo Phật giáo, trong đó có không ít đảng viên và quan chức cấp cao khiến Phật giáo trở thành một thành tố nền tảng của bản sắc xã hội Lào. Tuy vậy, vai trò nổi trội này không làm suy giảm mức độ kiểm soát của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đối với lĩnh vực tôn giáo, đặc biệt với các tôn giáo có nguồn gốc phương Tây hoặc nằm ngoài truyền thống Phật giáo bản địa.
Sau khi giành chính quyền năm 1975, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào triển khai chính sách quản lý nghiêm ngặt đối với toàn bộ các tổ chức tôn giáo, kể cả Phật giáo. Đảng và Nhà nước Lào đã tái cấu trúc Phật giáo bằng cách hủy bỏ các hệ phái riêng lẻ và hợp nhất tăng đoàn (Sangha) vào một tổ chức duy nhất dưới tên Tăng đoàn Phật giáo Lào (Lao Buddhist Sangha) (Phra Sithat Singpathoum, Maniemai Thongyou Dararat Mattariganond, 2010). Việc hợp nhất các hệ phái Phật giáo vào một tổ chức duy nhất nhằm tạo đầu mối quản lý tập trung. Đồng thời, quá trình “chính trị hóa” Phật giáo được thúc đẩy thông qua việc lồng ghép các giá trị Phật giáo vào diễn ngôn chính trị, qua đó dung hòa những khác biệt lý luận giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống Phật giáo. Các nguyên lý xã hội chủ nghĩa dựa trên các giá trị như đoàn kết, phúc lợi xã hội được liên hệ với các giá trị Phật giáo như từ bi, chia sẻ và khám phá làm thế nào các quốc gia Phật giáo có thể tồn tại đồng thời với xã hội xã hội chủ nghĩa. Sự điều chỉnh này cho thấy, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào không áp dụng học thuyết Mác - Lênin một cách cứng nhắc mà chủ động thích nghi với bối cảnh văn hóa - tôn giáo đặc thù của Lào để củng cố tính chính danh chính trị và ổn định xã hội.
Từ thập niên 1990, chính sách tôn giáo của Lào có những điều chỉnh theo hướng mềm dẻo, cho phép các hoạt động tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ pháp luật. Phật giáo được thừa nhận là tôn giáo chính thức trong thực tiễn quản lý. Tuy nhiên, tất cả các tổ chức tôn giáo đều phải đăng ký và hoạt động dưới sự giám sát của Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước và Bộ Nội vụ. Mặt trận là một tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo, là một trong những tổ chức chính trị quan trọng nhất tại Lào, giữ vai trò trung gian giữa Đảng và các tầng lớp nhân dân, bao gồm cả các tổ chức tôn giáo, dân tộc thiểu số và các đoàn thể xã hội. Đối với các nhóm tôn giáo không phải Phật giáo như Công giáo hoặc Tin lành, việc đăng ký độc lập không được chấp nhận, các nhóm này phải sinh hoạt dưới sự bảo trợ của các tổ chức Tin lành được nhà nước công nhận như giáo hội Tin lành Lào (Lao Evangelical Church) hoặc giáo hội Cơ đốc Phục lâm Lào (Seventh-day Adventist Church). Việc không tuân thủ các quy định này có thể dẫn đến các biện pháp hạn chế hành chính.
Khung pháp lý cho hoạt động tôn giáo tiếp tục được hoàn thiện với việc ban hành Nghị định số 315/PM (Chính phủ, 2016) năm 2016 (thay thế Nghị định số 92/PM năm 2002). Nghị định này yêu cầu các tổ chức tôn giáo phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và xin phép trước khi tiến hành các hoạt động như xây dựng cơ sở thờ tự, tổ chức lễ hội hay cử hành nghi lễ tôn giáo.
Nhìn tổng thể, mô hình lãnh đạo công tác tôn giáo của chính đảng mác xít cầm quyền tại Lào thể hiện sự kết hợp giữa kiểm soát tập trung và hợp tác có điều kiện. Phật giáo được tích hợp như một nguồn lực văn hóa - xã hội quan trọng, trong khi các tôn giáo khác được quản lý chặt chẽ thông qua cơ chế pháp lý và thiết chế trung gian, nhằm bảo đảm ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh đa dạng tôn giáo và truyền thống văn hóa đặc thù.
2. 3. Ý nghĩa từ thực tiễn các nước với công tác tôn giáo tại Việt Nam
Tại các quốc gia mà chính đảng mác xít giữ vai trò lãnh đạo toàn diện, vai trò của chính đảng trong công tác tôn giáo là then chốt, mang tính định hướng cả về tư tưởng chính trị và chính sách lẫn tổ chức thực hiện. Tôn giáo trong bối cảnh đó không chỉ là lĩnh vực tâm linh, tinh thần mà còn là vấn đề chính trị - xã hội mang tính chiến lược. Vai trò của chính đảng cầm quyền trong công tác tôn giáo cần chú trọng vào các nội dung sau:
Thứ nhất, định hướng lý luận và chính sách tôn giáo
Chính đảng xác lập quan điểm toàn diện về tôn giáo trên cơ sở lý luận Mác - Lênin. Quan điểm này định hình các chính sách tôn giáo: tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Phân biệt giữa tôn giáo chân chính và lợi dụng tôn giáo để chống phá nhà nước. Xác định mục tiêu lâu dài: tôn giáo tiếp tục tồn tại cùng quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, định hướng chính trị - tư tưởng làm nền tảng cho các hoạt động cụ thể của Nhà nước
Chính đảng chỉ đạo xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật tôn giáo; chỉ đạo ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến tôn giáo; quy định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tín đồ; hướng dẫn tổ chức thực hiện chính sách qua các ban, ngành. Bảo đảm sự thống nhất giữa đường lối chính trị và hành lang pháp lý trong quản lý tôn giáo.
Thứ ba, công tác tôn giáo tập trung vào vận động tôn giáo gắn bó, đồng hành cùng đất nước
Chính đảng cầm quyền nhấn mạnh tôn giáo là bộ phận của dân tộc. Khuyến khích chức sắc, tín đồ tham gia xây dựng đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội gắn bó, đồng hành với đất nước; tích cực tham gia phòng, chống lợi dụng tôn giáo (từ bên trong, bên ngoài). Công tác tôn giáo được đặt trong tổng thể chiến lược củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ tư, gắn công tác tôn giáo với bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội
Chính đảng giữ vai trò lãnh đạo trong việc đào tạo, quy hoạch đội ngũ cán bộ tôn giáo có trình độ lý luận, am hiểu tôn giáo và vận động quần chúng. Vận động cán bộ, đảng viên là người có tôn giáo và chức sắc tôn giáo tiêu biểu tham gia vào các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trong các vị trí thích hợp. Cán bộ làm công tác tôn giáo, chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng tôn giáo là cầu nối giữa Đảng và các tổ chức tôn giáo, góp phần tạo niềm tin và ổn định xã hội.
Thứ năm, phòng ngừa và đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tôn giáo
Chính đảng chỉ đạo các cơ quan chức năng theo dõi tình hình tôn giáo, nhất là các tổ chức tôn giáo mới, lạ; ngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền ly khai, chống phá; đấu tranh với các lực lượng dùng chiêu bài “tự do tôn giáo” để can thiệp vào công việc nội bộ quốc gia.
3. Kết luận
Phân tích vai trò của chính đảng mác xít cầm quyền trong công tác tôn giáo có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, nhất là khi các quốc gia xã hội chủ nghĩa đang vận hành trong bối cảnh toàn cầu hóa, đa dạng ý thức hệ và đa dạng tôn giáo. Sự khác biệt trong cách chỉ đạo công tác tôn giáo giữa các chính đảng mác xít không phản ánh sự xa rời học thuyết Mác - Lênin, mà thể hiện quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện mới, khi tôn giáo không còn bị nhìn nhận như một hiện tượng tiêu cực về ý thức hệ mà được công nhận như một thực thể xã hội - văn hóa - chính trị phức hợp, có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cộng đồng. Trên cơ sở đó, yêu cầu xây dựng tư duy quản trị tôn giáo theo hướng mềm dẻo, tránh cực đoan và bài xích, chuyển sang cách tiếp cận “đồng hành, định hướng và quản lý tôn giáo bằng pháp luật” là rất cần thiết, đồng thời tiệm cận hơn với các nguyên tắc quốc tế về tự do tôn giáo.
Sự khác biệt trong cách tiếp cận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Cu Ba cho thấy mức độ linh hoạt và khả năng thích nghi khác nhau của các chính đảng cầm quyền trước thực tiễn tôn giáo, từ đó có những kinh nghiệm mang giá trị tham khảo cho việc định hình mô hình ứng xử phù hợp trong các giai đoạn từ khi mở cửa đến giai đoạn hội nhập quốc tế của Việt Nam. Bài viết cũng nhấn mạnh, những thực tiễn quốc tế cần được chọn lọc trên cơ sở đặc thù lịch sử, văn hóa và chính trị của Việt Nam.
Việc tiếp tục làm rõ mô hình chính đảng mác xít cầm quyền trong công tác tôn giáo góp phần phát triển lý luận chính trị hiện đại, hoàn thiện chính sách tôn giáo và củng cố nền tảng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, ổn định và nhân văn. Các quốc gia không áp dụng theo một mô hình duy nhất mà lựa chọn cách ứng xử phù hợp với bối cảnh lịch sử - văn hóa, cấu trúc xã hội, mức độ đa dạng tôn giáo và chiến lược phát triển của nước mình. Xu hướng chung hiện nay là chuyển từ “kiểm soát hành chính” tôn giáo sang “định hướng, hợp tác, và quản lý bằng pháp luật”, nhằm duy trì ổn định xã hội, bảo đảm quyền con người và phát huy các giá trị tích cực của tôn giáo trong phát triển cộng đồng.
Trong bối cảnh hội nhập, các chính đảng mác xít cũng cần xây dựng hình ảnh cởi mở hơn trong quan hệ quốc tế thông qua đối thoại tôn giáo - chính trị và ngoại giao nhân dân. Mối quan hệ giữa chính đảng mác xít và các tổ chức tôn giáo vừa mang tính khác biệt về hệ tư tưởng, vừa có khả năng hợp tác trong quản trị xã hội. Do đó, Đảng giữ vai trò lãnh đạo, đồng thời trao thể chế, chính sách để tôn giáo vận hành trong khuôn khổ pháp luật và tham gia các hoạt động xã hội có lợi cho cộng đồng.
Từ góc độ chính sách, kinh nghiệm cho thấy cần xây dựng khung pháp lý rõ ràng, minh bạch và ổn định, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đi đôi với ngăn ngừa việc lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật và chủ động tham gia các diễn đàn tôn giáo quốc tế để học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm.
_________________
Ngày nhận bài: 16/02/2026
Ngày bình duyệt: 7/3/2026
Ngày duyệt đăng: 12/5/2026
Email tác giả: dolanhien67@gmail.com
C.Mác và Ph.Ăngghen (2002). Toàn tập. (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia.
Chính phủ CHDCND Lào (2016). Nghị định số 315/PM ban hành tháng 8/2016 về quản lý và bảo vệ hoạt động tôn giáo tại Lào.
Fidel Castro, Frei Betto (2006): Fidel & Religion: Conversations with Frei Betto on Marxism & Liberation Theology/Fidel và Tôn giáo: Đối thoại với Frei Betto về Chủ nghĩa Mác và Thần học Giải phóng, Ocean Press.
II Congreso del PCC: Tesis y Resoluciones. Sobre la política en relación, la Iglesia y los Creyentes. Marxists Internet Archive
Phạm Thanh Hằng (2020). Tiến trình nhận thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc về tôn giáo từ năm 1949 đến nay. Nxb Lý luận chính trị.
Phra Sithat Singpathoum, Maniemai Thongyou Dararat Mattariganond (2010). Changes in Politics and Buddhism in the Lao Socialist Period, Vol. 6, No. 3, December 2010.
V.I. Lênin (1979a). Toàn tập. (Tập 12). Nxb Tiến Bộ, Mátxcơva.
V.I. Lênin (1979b). Toàn tập. (Tập 37). Nxb Tiến Bộ, Mátxcơva.
V.I. Lênin (1979c). Toàn tập. (Tập 17). Nxb Tiến Bộ, Mátxcơva.