_________________
DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.4781
Tóm tắt: Từ khi xuất hiện như một lực lượng xã hội độc lập, phong trào của giai cấp công nhân đã dần gắn liền với những khẩu hiệu đấu tranh. Qua từng thời kỳ, khẩu hiệu đấu tranh được mở rộng, từ đòi quyền lợi kinh tế trong lao động, đến công bằng xã hội và chính trị. Điều này không chỉ phản ánh bước tiến của giai cấp công nhân, mà còn truyền cảm hứng cho nhân dân thế giới cùng chống lại sự áp bức, bóc lột vì một xã hội tiến bộ hơn. Việc tìm hiểu các khẩu hiệu đấu tranh của giai cấp công nhân giúp hiểu rõ hơn về bước tiến của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và ý nghĩa đối với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam.
ThS ĐINH CÔNG TUYẾN
TS NGUYỄN THỊ TUYẾT
Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Khẩu hiệu đấu tranh là một hình thức đấu tranh, thể hiện bằng ngôn ngữ cô đọng, mang tính hiệu triệu cao, được sử dụng rộng rãi trong xã hội khi xuất hiện các phong trào cách mạng do các giai cấp tập hợp lực lượng để đòi quyền lợi về kinh tế - xã hội, chính trị, tiến tới giành quyền lãnh đạo. Trong lịch sử hiện đại, trước khi có trong phong trào công nhân, các khẩu hiệu đấu tranh đã xuất hiện khi giai cấp tư sản tập hợp quần chúng nhân dân đứng về phía mình, lật đổ chế độ phong kiến(1). Sau khi giành quyền lãnh đạo xã hội, muốn duy trì chế độ, che giấu bản chất bóc lột và xoa dịu các cuộc đấu tranh, giai cấp tư sản cũng dùng các khẩu hiệu để che đi bản chất bóc lột và bất bình đẳng xã hội(2). Đối với giai cấp công nhân, từ khi ra đời, từng bước trưởng thành, khẩu hiệu đấu tranh đã góp phần làm thức tỉnh ý thức giai cấp công nhân trong phong trào đấu tranh chống lại chế độ tư bản chủ nghĩa.
2. Nội dung
2.1. Những khẩu hiệu đấu tranh của giai cấp công nhân trước khi chủ nghĩa Mác ra đời
Với sự phát triển của sản xuất công nghiệp, giai cấp công nhân đã xuất hiện từ thế kỷ XVIII. Họ là những người nông dân mất đất, thợ thủ công phá sản, người nhập cư ở các nước tư bản… không sở hữu tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động và bị nhà tư sản bóc lột giá trị thặng dư. Phải lao động trong cảnh khốn cùng, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân cũng xuất hiện, mang tính tự phát, phân tán với hình thức đấu tranh phổ biến là “phá hoại máy móc”. Kết quả là, các cuộc đấu tranh nhanh chóng thất bại, bị giai cấp tư sản đàn áp nặng nề.
Đến thế kỷ XIX, dưới ảnh hưởng của các học thuyết của ba nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng - phê phán đã vạch trần được bộ mặt thật của chủ nghĩa tư bản, dẫn tới ra đời các khẩu hiệu đấu tranh của giai cấp công nhân. Những cuộc đấu tranh có quy mô lớn dần, kèm theo đó là các khẩu hiệu thể hiện mục tiêu đấu tranh. Tiêu biểu là khẩu hiệu “Sống trong lao động, chết trong chiến đấu!” năm 1831, khi công nhân dệt tơ thành phố Liông (Pháp) khởi nghĩa đòi tăng lương, giảm giờ làm và đòi thiết lập chế độ cộng hòa. Được lan tỏa bởi tinh thần này, cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở Silesia (Đức) năm 1844 với khẩu hiệu “Chúng tôi là những con người, chứ không phải súc vật!”, nhằm chống lại những thương nhân, để thoát khỏi tình cảnh lương thấp, giá cả tăng cao, thất nghiệp tràn lan, điều kiện sống tồi tệ. “Phong trào Hiến chương” từ năm 1836-1847 là phong trào chính trị lớn đầu tiên của giai cấp công nhân Anh, với khẩu hiệu “Phổ thông đầu phiếu và Hiến chương Nhân dân!” đấu tranh đòi quyền chính trị và cải cách hệ thống bầu cử khi Đạo luật cải cách năm 1832 chỉ mở rộng quyền bầu cử cho tầng lớp tư sản, không hề đoái hoài đến những người công nhân lao động.
Tuy các cuộc đấu tranh thất bại, nhưng các khẩu hiệu đã cho thấy phạm vi đấu tranh được mở rộng, không chỉ về kinh tế, mà đã hướng tới các quyền dân chủ, chính trị. Tuy nhiên, vì chỉ là những phong trào “công liên”, tập trung vào đòi hỏi quyền lợi cụ thể, không có chính đảng chính trị lãnh đạo, những khẩu hiệu này chỉ mang tính sách lược. Do đó, đòi hỏi cần có một lý luận dẫn đường, để từ đó có khẩu hiệu mang tính chất chiến lược, lâu dài cho giai cấp công nhân.
2.2. Những khẩu hiệu đấu tranh từ khi có lý luận của chủ nghĩa Mác
Khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” xuất hiện trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo và công bố lần đầu năm 1848, đánh dấu sự ra đời của tổ chức Liên đoàn những người cộng sản, thay thế khẩu hiệu cũ và mơ hồ:“Tất cả mọi người đều là anh em!” của Liên đoàn những người chính nghĩa. Đây là dấu mốc đánh dấu những nguyên lý của chủ nghĩa quốc tế vô sản: “tư tưởng đoàn kết quốc tế, tư tưởng thống nhất và đoàn kết, tư tưởng bình đẳng về lợi ích và về những mục tiêu của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chung chống chế độ nô lệ tư bản chủ nghĩa”(3). Từ đây, giai cấp công nhân hiểu được chân lý, trong cuộc chiến đấu với giai cấp tư sản, họ sẽ: “chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới”(4). Kể cả sau thất bại của cao trào cách mạng Pháp năm 1848-1852, khi giai cấp công nhân Pháp bị đàn áp đẫm máu, họ đã giành lấy một ý thức về “điều kiện tồn tại thực sự”, chỉ “mất đi” cái “ảo tưởng” mà giai cấp tư sản mang lại.
Trong điều kiện các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân vẫn tiếp diễn, khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” tiếp tục được “Hội liên hiệp lao động quốc tế” - Quốc tế I (năm 1861-1872), “Hội quốc tế xã hội chủ nghĩa” - Quốc tế II (năm 1889-1914) và “Quốc tế cộng sản” (năm 1919-1943) giương cao, thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản, vượt qua biên giới quốc gia, dân tộc. Cơ sở của khẩu hiệu này dựa trên sự thống nhất về mục tiêu và lợi ích giữa công nhân các nước trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản. Thực tiễn, đi cùng khẩu hiệu là những dấu mốc quan trọng, tiêu biểu như Công xã Pari - cuộc cách mạng vô sản đầu tiên, nổ ra ở Thủ đô Pari, Pháp (ngày 18-3-1871), mặc dù chỉ tồn tại 72 ngày nhưng được coi là bất diệt, với khẩu hiệu “Vive la Commune!” (Công xã muôn năm!), đã góp phần làm sâu sắc lý luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân hiện đại với những khả năng thắng lợi và sự ủng hộ của quần chúng nhân dân. Hay như cuộc đấu tranh ngày 01-5-1886 của công nhân Mỹ với khẩu hiệu: “Eight hours labour, eight hours recreation, eight hours rest!” (Tám giờ làm việc, tám giờ nghỉ ngơi, tám giờ để làm điều ta muốn!), đã đặt nền móng cho những quyền lợi mà ngày nay công nhân đang được thụ hưởng thành quả trên khắp thế giới.
Sau thất bại của Công xã Pari, ngoài việc bị giai cấp tư sản đàn áp đẫm máu, sự chia rẽ trong phong trào công nhân đã xuất hiện, nhưng tư tưởng của khẩu hiệu này đã trực tiếp đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành các chính đảng của giai cấp công nhân.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 mở ra một thời kỳ mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Căn cứ vào tình hình thực tiễn đấu tranh cách mạng trên thế giới, V.I.Lênin đã phát triển khẩu hiệu này thành “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”(5). Sự chuyển biến này mang ý nghĩa chính trị to lớn khi nó mở rộng mặt trận cách mạng, gắn kết đấu tranh giai cấp với đấu tranh giải phóng dân tộc, khẳng định lực lượng cách mạng không chỉ là giai cấp công nhân ở các nước phát triển mà còn bao gồm cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, đặc biệt là các dân tộc ở phương Đông. Chính vì vậy, trong những năm đầu sau Cách mạng Tháng Mười, một loạt các đảng cộng sản đã ra đời tại nhiều nước tư bản chủ nghĩa và thuộc địa, phản ánh sự chuyển hóa của phong trào công nhân(6). Ở các nước phương Tây, phong trào công nhân tiếp tục diễn ra, với nhiều khẩu hiệu có ý nghĩa cao cả, phản ánh những bước tiến sôi sục của cách mạng(7).
Từ thập niên 1930 trở đi, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào cộng sản tiếp tục lan rộng mạnh mẽ sang châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, nơi các dân tộc đang vùng lên chống lại chủ nghĩa thực dân, đế quốc và áp bức dân tộc. Cùng với đó, chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành ngọn đuốc soi đường cho nhiều cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới. Trong bối cảnh tái thiết sau chiến tranh và sự hình thành trật tự thế giới hai cực, phong trào công nhân ở nhiều nước tư bản phát triển đã giành được những thắng lợi quan trọng về quyền lợi lao động, như: tăng lương, giảm giờ làm, phúc lợi xã hội và công đoàn được công nhận rộng rãi. Song, cũng xuất hiện những thoái trào khi công nhân có biểu hiện của sự “trì trệ”, “chấp nhận thực tại” và “tuân thủ luật pháp”. Tại các nước xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân trở thành lực lượng lãnh đạo chính trị, đóng vai trò trung tâm trong xây dựng nhà nước và đi đầu trong phát triển kinh tế. Nhưng do nóng vội, chủ quan, nhiều chính đảng đã mắc sai lầm, dẫn tới phải cải tổ, cải cách và đổi mới. Sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội năm 1991 của Liên Xô và Đông Âu làm ảnh hưởng nặng nề tới hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào công nhân trên thế giới. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại tiếp tục kiên định sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản, thực hiện đổi mới, cải cách, dần định hình mô hình chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới.
Ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, phong trào công nhân trỗi dậy mạnh mẽ, gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc và đấu tranh giành độc lập. Năm 1919, các nước thuộc địa và nửa thuộc địa chiếm 72% diện tích với 70% dân số thế giới; đến đầu thế kỷ XXI, chỉ còn chiếm 0,7% diện tích và 5,3% dân số thế giới. Hàng trăm nước đã giành được độc lập, trên một trăm nước tham gia vào “Phong trào không liên kết”(8). Tuy vậy, nhiệm vụ của giai cấp công nhân các nước này vẫn còn rất nặng nề với nhiều bước đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân mới, giai cấp tư sản dân tộc.
Như vậy, những khẩu hiệu đấu tranh đã theo sát phong trào công nhân ở khắp các quốc gia và thể hiện rõ bước tiến trong phong trào công nhân, biểu hiện là:
Làm thức tỉnh ý thức của giai cấp công nhân trên toàn thế giới. Sự thức tỉnh của giai cấp công nhân là một quá trình phát triển từ tự phát lên tự giác, bắt đầu từ những phản ứng ban đầu như: phá máy móc và các cuộc đình công cục bộ nhằm cải thiện điều kiện sống. Từng bước, công nhân nhận ra sức mạnh đoàn kết, từ đó hình thành các hội ái hữu và công đoàn, chuyển sang đấu tranh có tổ chức, đòi hỏi các quyền kinh tế và chính trị. Bước ngoặt lớn nhất là sự ra đời của chủ nghĩa Mác, cung cấp lý luận khoa học và chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản. Từ đó, các tổ chức quốc tế cùng các đảng cộng sản ra đời, lãnh đạo công nhân đấu tranh. Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi và xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên. Ngày nay, giai cấp công nhân tiếp tục đấu tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không ngừng nâng cao ý thức, tri thức để làm chủ, công bằng xã hội.
Góp phần thúc đẩy đấu tranh thực tiễn nhằm thay đổi xã hội. Nhờ những khẩu hiệu mang tính hiệu triệu, các phong trào đấu tranh của người lao động không chỉ dừng lại ở biểu tình mà còn tác động trực tiếp đến các quyết sách của chính quyền. Những khẩu hiệu như: “Ngày làm 8 giờ!” đã dẫn đến việc nhiều quốc gia thông qua luật giới hạn giờ làm việc, giúp bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của công nhân; “Fight for $15!” (Đấu tranh vì 15 đô la) tại Mỹ đã tạo áp lực buộc chính phủ và doanh nghiệp phải xem xét việc tăng lương tối thiểu, bảo đảm mức sống cơ bản cho người lao động; “No justice, no peace!” (Không có công bằng, không có hòa bình) đã nhanh chóng lan tỏa, kết nối phong trào lao động với các cuộc đấu tranh khác như chống phân biệt chủng tộc và bảo vệ môi trường; “We are the 99%!” (Chúng tôi là 99%) trong phong trào Occupy Wall Street giúp xã hội nhận thức rõ hơn về sự bất bình đẳng giàu nghèo và sự thao túng của tầng lớp tài phiệt đối với nền kinh tế.
Đặt ra các vấn đề mới trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân giai đoạn hiện nay. Tại các nước xã hội chủ nghĩa, công nhân cần nâng cao kỹ năng để làm chủ công nghệ và giữ vững vai trò lãnh đạo, đồng thời đối mặt với thách thức duy trì bản chất tiên phong trong cơ chế thị trường. Ở các quốc gia tư bản chủ nghĩa, việc tập hợp công nhân gặp khó khăn do sự phân hóa lao động và các hình thức làm việc mới, đòi hỏi chiến lược đấu tranh mới để đạt được công bằng. Đặc biệt, tại các nước kém phát triển, công nhân không chỉ chống lại tư bản trong nước mà còn phải đấu tranh chống “chủ nghĩa thực dân mới”, đặt ra yêu cầu cao về ý thức chính trị và đoàn kết dân tộc để bảo vệ lợi ích quốc gia.
2.3. Vận dụng khẩu hiệu đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam
Giai cấp công nhân Việt Nam xuất hiện liên quan đến hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Từ khoảng 10 vạn người ở thời điểm trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, đến cuối năm 1929, tổng số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư bản Pháp là hơn 22 vạn người, tập trung ở các ngành nghề như: dệt may, đường sắt, khai khoáng, đồn điền, xi măng.
Hiện nay, tổng số lao động làm công hưởng lương trong các loại hình doanh nghiệp ở nước ta có khoảng 24,5 triệu người, trong đó công nhân, lao động trong các doanh nghiệp chiếm khoảng 60%, chiếm tỷ lệ khoảng 14% dân số và 27% lực lượng lao động xã hội(9). Từ thân phận của những người lao động phải chịu cảnh áp bức của thực dân, phong kiến, khi được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp công nhân Việt Nam đã vùng lên, khẳng định: “Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…”(10).
Trải qua các giai đoạn cách mạng, các khẩu hiệu đấu tranh mà giai cấp công nhân Việt Nam đề ra đã thực sự phản ánh những bước tiến của cách mạng:
Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1930, nước ta đang trong cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Thời điểm này, tuy số lượng ít ỏi, nhưng với sự giác ngộ giai cấp, giai cấp công nhân Việt Nam đã sớm lập cho mình tổ chức công hội, vùng lên đấu tranh, gắn với các khẩu hiệu như: “Chống áp bức, bóc lột”, “Đòi quyền lợi thiết thực”, “Đoàn kết công nhân quốc tế”. Tiêu biểu cho khẩu hiệu này là phong trào công nhân Ba Son (năm 1925), khi công nhân đã tổ chức đình công phản đối việc thực dân Pháp sa thải những người thợ ủng hộ phong trào yêu nước, đồng thời đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc.
Giai đoạn năm 1930 -1945, là giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc. Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đã đánh dấu bước ngoặt trong sự trưởng thành về chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam. Các phong trào đấu tranh từ đây mang mục tiêu rõ nét với khẩu hiệu đấu tranh như: “Đả đảo đế quốc Pháp”, “Đả đảo phong kiến tay sai”, “Đả đảo công xưởng”, “Việt Nam độc lập”, “Người cày có ruộng - Công nhân có việc làm”. Tiêu biểu là phong trào năm 1930 -1931 đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, nơi công - nông phối hợp vùng lên giành chính quyền, thành lập chính quyền cách mạng ở địa phương. Tuy phong trào thất bại, song đã thực sự gây tiếng vang lớn, góp phần cổ vũ cuộc đấu tranh của toàn dân tộc.
Giai đoạn năm 1945-1975, là giai đoạn đấu tranh bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước tiếp tục bước vào hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Giai cấp công nhân Việt Nam vừa trực tiếp tham gia chiến đấu, vừa đảm nhiệm vai trò sản xuất, chi viện cho tiền tuyến. Những khẩu hiệu phong trào như: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, “Mỗi công nhân là một chiến sĩ trên mặt trận sản xuất”, “Sáng kiến, góp công, dốc lòng, hiến kế” trở thành phương châm hành động xuyên suốt. Đặc biệt, trong kháng chiến chống Mỹ, hàng nghìn công nhân đã xung phong ra tiền tuyến như một phần của lực lượng thanh niên xung phong, bộ đội chủ lực. Ở hậu phương, công nhân ngành than Quảng Ninh, ngành dệt Nam Định, công nhân đường sắt… đã không quản hiểm nguy, bảo đảm vận hành sản xuất, vận tải hàng hóa, vũ khí phục vụ tiền tuyến. Những người công nhân đã trở thành chiến sĩ trong cuộc chiến vì độc lập, tự do dân tộc, là hiện thân sinh động của khẩu hiệu thiêng liêng gắn liền với tinh thần: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”.
Giai đoạn năm 1975-1986, giai đoạn xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, cấm vận, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh biên giới, giai cấp công nhân Việt Nam giữ vững tinh thần thi đua sản xuất, đóng góp trí tuệ và sức lực cho sự nghiệp cách mạng. Các khẩu hiệu “Lao động là vinh quang!”, “Thi đua lao động sản xuất”, “Làm chủ tập thể”, “Cải tiến kỹ thuật” xuất hiện rộng khắp trong các phong trào thi đua yêu nước, là minh chứng cho tinh thần sáng tạo, chủ động của công nhân trong điều kiện còn nhiều thiếu thốn.
Giai đoạn từ năm 1986 đến nay, cả nước tiến hành công cuộc đổi mới. Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu mới cho giai cấp công nhân Việt Nam. Điểm nhấn là sau khi Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28-01-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ra đời, các khẩu hiệu: “Nâng cao năng suất lao động!”, “Làm chủ khoa học - công nghệ!”, “Công nhân đi đầu trong sự nghiệp đổi mới!”, “Lực lượng nòng cốt xây dựng chủ nghĩa xã hội!”, “Giai cấp công nhân Việt Nam: Tiên phong, hiện đại, vững mạnh”, thể hiện rõ vai trò, vị trí của giai cấp công nhân, góp phần đưa đất nước vượt qua khủng hoảng về kinh tế - xã hội, từng bước khẳng định vị thế trong khu vực và quốc tế.
Bối cảnh hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về trình độ, kỹ năng công nghệ và khả năng thích ứng của công nhân Việt Nam, định hình nên các khẩu hiệu hướng tới “làm chủ công nghệ”, “nâng cao kỹ năng”. Các nghị quyết của Đảng thời kỳ đổi mới, đặc biệt, Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV đã chỉ rõ: “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh về cả số lượng và chất lượng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giác ngộ giai cấp, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, thực sự là giai cấp lãnh đạo sự nghiệp cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam”(11). Vì vậy, khẩu hiệu của giai cấp công nhân trong giai đoạn hiện nay không chỉ cần thể hiện tinh thần “bản lĩnh chính trị vững vàng” khi tư tưởng được giữ vững, ý thức giai cấp nâng cao; “tiên phong trí tuệ” khi đi đầu trong học tập, nâng cao trình độ; mà còn là hướng tới việc “làm chủ công nghệ” với việc tiếp cận và ứng dụng các công nghệ mới vào sản xuất; đồng thời cũng cần nêu cao khẩu hiệu về “chủ thể kiến tạo tương lai” đất nước khi công nhân chính là giai cấp chủ đạo xây dựng nền kinh tế tri thức, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc.
3. Kết luận
Khẩu hiệu đấu tranh luôn đi liền và là biểu hiện của sự thức tỉnh trong phong trào công nhân. Thực tiễn Việt Nam đã chứng minh, những khẩu hiệu lớn xuyên suốt các thời kỳ lịch sử không chỉ là sự giác ngộ giai cấp, mà còn là kết tinh của ý chí, lý tưởng và khát vọng vươn lên để xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh, xứng đáng với vai trò lãnh đạo để thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
_________________
Ngày nhận: 06-10-2025; Ngày bình duyệt: 10-01-2026; Ngày duyệt đăng: 18-01-2026.
Email tác giả: cong tuyen.hn@gmail.com
(1) Tiêu biểu như ở Pháp, khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” (Liberté - Égalité - Fraternité) trở thành biểu tượng cho lý tưởng nhân văn tư sản, nhấn mạnh đến quyền con người và công lý xã hội trong cuộc Cách mạng tư sản năm 1791.
(2) Các khẩu hiệu mang tính “thời đại” như “Dân chủ”, “Tiến bộ”, “Phát triển”, “Bình đẳng”, “Tự do cá nhân”, “Thị trường tự do”, “Nhân đạo”…
(3) H. Ghem cốp: Cuộc đời chúng tôi - Tiểu sử Các Mác và Ph. Ăngghen, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.119.
(4) C. Mác và Ph.Ăngghen: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.133.
(5) Khẩu hiệu “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” do V.I.Lênin đề xuất năm 1920; ra đời từ sự phát triển lý luận của V.I.Lênin về liên minh giữa giai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa, thể hiện tầm nhìn về một mặt trận thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc.
(6) Tại châu Âu, các đảng cộng sản đầu tiên như Đảng Cộng sản Đức (KPD), Đảng Cộng sản Hungary, Đảng Cộng sản Phần Lan và Đảng Cộng sản Áo đều xuất hiện ngay trong năm 1918 - năm kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ nhất, trong bối cảnh khủng hoảng xã hội và chính trị sâu sắc. Tại Pháp, năm 1920, phong trào cánh tả đã tách ra từ Đảng Xã hội Pháp và thành lập Đảng Cộng sản Pháp trong Đại hội Tours. Đảng Cộng sản Ý được thành lập năm 1921 nhằm đối trọng với sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít Mussolini. Cũng trong năm 1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời trong bối cảnh đất nước bị xâu xé bởi các thế lực phong kiến, quân phiệt và đế quốc…
(7) Tiêu biểu: khẩu hiệu “No gods, no masters!” (“Không thần thánh, không kẻ thống trị!”) xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX trong các cuộc biểu tình và tài liệu của phong trào vô chính phủ tại Mỹ và châu Âu. Khẩu hiệu “Bread and Roses!” (Bánh mì và Hoa hồng!) xuất hiện trong cuộc đình công của nữ công nhân dệt may tại Lawrence, Massachusetts (Mỹ) năm 1912. Năm 1936, khẩu hiệu “No pasarán!” (Chúng sẽ không qua được!) ra đời trong bối cảnh Nội chiến Tây Ban Nha (1936-1939).
(8) Xem: Vũ Khoan: Cách mạng tháng Mười Nga - 100 năm nhìn lại, Kỷ yếu Hội thảo 100 năm Cách mạng Tháng Mười Nga và chủ nghĩa xã hội hiện thực (1917 - 2017). Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2018, tr.59-60.
(9) Xem: Vương Trần: Xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao trước thách thức của cách mạng 4.0, https://congdoancongthuong.org.vn, ngày 21-8-2021.
(10) Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28-01-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
(11) ĐCSVN: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr.51.