Thực tiễn

Vai trò của kinh tế nhà nước trong tăng trưởng bền vững ở Việt Nam hiện nay

• 09/10/2026 14:34

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của kinh tế nhà nước đối với mục tiêu tăng trưởng bền vững tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Trên cơ sở đánh giá những kết quả, hạn chế và yêu cầu đặt ra, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, góp phần tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.

ThS ĐINH CÔNG TUYẾN
Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

bcp.cdnchinhphu.vn-thumb_w-777-334894974524682240-2025-2-10-_cong-nghe-17391774861211110819653.jpg
Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong bảo đảm mục tiêu tăng trưởng là yêu cầu cấp thiết, vừa mang tính chiến lược lâu dài, vừa đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

1. Mở đầu

Kinh tế nhà nước là tổng thể các nguồn lực kinh tế thuộc sở hữu và quản lý của Nhà nước, gồm hai bộ phận: toàn bộ tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý (đất đai, tài nguyên, hạ tầng, ngân sách, dự trữ quốc gia và các tư liệu sản xuất quan trọng); và các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc phần vốn chi phối. Sau 40 năm đổi mới, kinh tế nhà nước luôn khẳng định “vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hóa và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội” (Bộ Chính trị, 2026, tr.2). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác lập những định hướng chiến lược mới cho khu vực này. Tuy nhiên, trước yêu cầu của mục tiêu tăng trưởng và chuyển đổi số, kinh tế nhà nước đã bộc lộ nhiều hạn chế, cần có giải pháp phát huy vai trò khu vực này, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

2. Nội dung

2.1. Kinh tế nhà nước trong bảo đảm tăng trưởng bền vững

Thứ nhất, học thuyết Mác - Lênin đã chỉ rõ tầm quan trọng của kinh tế nhà nước trong xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội - nền tảng lý luận cho tăng trưởng bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là nguồn gốc của bất công và bóc lột; do đó, trong xã hội mới, tư liệu sản xuất phải thuộc sở hữu toàn xã hội, đặt dưới sự quản lý thống nhất của nhà nước, tạo tiền đề xóa bỏ bóc lột và thúc đẩy xã hội phát triển lên một nấc thang mới. Tuy nhiên, các ông cũng chỉ rõ, quá trình chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ quá độ lâu dài, mang tính chất trung gian, “đan xen” của cả hai chế độ, không thể “làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.469).

Kế thừa quan điểm đó, V.I. Lênin nhấn mạnh vai trò của chế độ công hữu: “Từ chủ nghĩa tư bản, nhân loại chỉ có thể tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, nghĩa là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất và chế độ phân phối theo lao động của mỗi người” (V.I.Lênin, 2005a, tr.220). Với tư duy biện chứng, V.I.Lênin cho rằng, trong thời kỳ quá độ, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thậm chí có thể chấp nhận chủ nghĩa tư bản nhà nước như một “phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội” (V.I.Lênin, 2005b, tr.256). Đây là cơ sở lý luận quan trọng khẳng định kinh tế nhà nước không chỉ đóng vai trò định hướng mà còn là nhân tố bảo đảm tính bền vững của tăng trưởng kinh tế trong suốt thời kỳ quá độ.

Thứ hai, ở Việt Nam, những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước, thể hiện rõ tầm quan trọng của kinh tế nhà nước trong bảo đảm tăng trưởng bền vững. Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trên hai phương diện: 1) quản lý, khai thác có hiệu quả tài sản công và nguồn lực quốc gia (đất đai, tài nguyên, hạ tầng, ngân sách, dự trữ quốc gia, doanh nghiệp nhà nước); 2) phát huy sức mạnh tổng hợp của tài chính công, thể chế, pháp luật và các công cụ điều tiết để dẫn dắt, ổn định nền kinh tế, thực hiện an sinh xã hội.

Thứ ba, các nguồn lực công được xác định là “huyết mạch” của toàn bộ nền kinh tế; các doanh nghiệp nhà nước lớn trong các ngành: điện lực, dầu khí, viễn thông, tài chính và logistics… là lực lượng chủ lực bảo đảm các cân đối lớn, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và ứng phó hiệu quả với những biến động của thị trường thế giới.

Đồng thời, kinh tế nhà nước còn giữ vai trò tiên phong trong thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, điều tiết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác thông qua các chính sách tài khóa, tín dụng và phát triển hạ tầng đồng bộ. Qua đó, kinh tế nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò là lực lượng dẫn dắt, điều tiết và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.2. Thực trạng vai trò của kinh tế nhà nước trong bảo đảm mục tiêu tăng trưởng bền vững ở Việt Nam

Những thành tựu nổi bật

Một là, kinh tế nhà nước giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Trong 40 năm đổi mới, kinh tế nhà nước luôn giữ vững vai trò chủ đạo, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Khu vực này không ngừng được củng cố, phát triển, tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt, tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng và hội nhập quốc tế. Đồng thời, kinh tế nhà nước đã phát huy vai trò là “trụ đỡ”, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm an sinh xã hội và định hướng phát triển bền vững đất nước.

Trong lịch sử, kinh tế nhà nước từng mang các tên gọi như: kinh tế xã hội chủ nghĩa, kinh tế quốc doanh; từ Đại hội VIII của Đảng chính thức với tên gọi là kinh tế nhà nước. Trước năm 1986, dù có vị trí chủ đạo trong nền kinh tế, nhưng với cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp khiến kinh tế nhà nước hoạt động kém hiệu quả, dẫn đến khủng hoảng. Đại hội VI của Đảng (năm 1986) với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” (ĐCSVN , 2005, tr.V), đã thẳng thắn thừa nhận những sai lầm và chủ động tiến hành đổi mới, mở ra bước ngoặt chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng vẫn khẳng định tầm quan trọng hàng đầu, nền tảng của kinh tế nhà nước.

Đại hội XI (năm 2011) khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân” (ĐCSVN, 2011, tr.73-74). Đại hội XII và XIII tiếp tục nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế nhà nước trong đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại kinh tế nhà nước, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Đến Đại hội XIV, Đảng ta có bước phát triển mới về chất trong nhận thức, khi khẳng định: “Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt” (ĐCSVN, 2026a, tr.31). Đặc biệt, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, yêu cầu kinh tế nhà nước phải “tiên phong kiến tạo phát triển... lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” (Bộ Chính trị, 2026, tr.3).

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo thông qua việc nắm giữ các lĩnh vực then chốt như: năng lượng, tài chính, ngân hàng, hạ tầng chiến lược và an ninh kinh tế quốc gia. Trong nền kinh tế quốc dân, vai trò của kinh tế nhà nước được thể hiện ở việc “đóng góp gần 30% GDP (trước năm 2010), năm 2020 đạt 20,7%, năm 2021 đạt 20,8%, năm 2022 đạt 21%, năm 2023 đạt 21%, năm 2025 đạt 20%, hơn 1/4 đầu tư toàn xã hội, cụ thể năm 2020 đạt 26,2%, năm 2021 đạt 25,8%, năm 2022 đạt 25,8%, năm 2023 đạt 28,2%; sơ bộ năm 2024 đạt 27,6%” (ĐCSVN, 2026b, tr.108).

Tính đến cuối năm 2024, khu vực doanh nghiệp nhà nước có 671 doanh nghiệp nhà nước và 142 doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của Nhà nước. Tổng tài sản đạt 4,19 triệu tỷ đồng, vốn chủ sở hữu 1,985 triệu tỷ đồng, tổng doanh thu trên 3 triệu tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế gần 243 nghìn tỷ đồng. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) bình quân đạt khoảng 12% (Thu Hiền, 2025).

Đặc biệt, năm 2026, Nghị quyết 79-NQ/TW được ban hành, tiếp tục khẳng định kinh tế nhà nước là “thành phần đặc biệt quan trọng”, giữ vai trò chủ đạo trong ổn định kinh tế vĩ mô, điều tiết và định hướng phát triển đất nước. Theo đó, các doanh nghiệp nhà nước được xác định là lực lượng tiên phong trong đầu tư các dự án hạ tầng quy mô lớn, chuyển đổi số, năng lượng và các lĩnh vực có tính dẫn dắt mà khu vực tư nhân chưa đủ khả năng tham gia. Đồng thời, ngân sách nhà nước vẫn đóng vai trò trung tâm trong đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và hỗ trợ các vùng khó khăn thông qua các chương trình đầu tư công chiến lược. Việc Quốc hội thông qua Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (năm 2025) cũng cho thấy quyết tâm nâng cao hiệu quả, tăng quyền tự chủ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh phát triển mới.

Hai là, kinh tế nhà nước dẫn dắt chuyển đổi số, phát triển hạ tầng số và nền tảng số quốc gia

Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế nhà nước đã và đang giữ vững vai trò dẫn dắt chiến lược trong chuyển đổi số, kiến tạo hạ tầng số hiện đại và đồng bộ như một “huyết mạch” của nền kinh tế số, bảo đảm chủ quyền số và năng lực tự chủ quốc gia.
Thông qua đầu tư có trọng điểm và điều tiết vĩ mô, khu vực này hình thành các nền tảng số quốc gia mang tính kết nối, chia sẻ và lan tỏa, tạo không gian phát triển mới cho doanh nghiệp và xã hội. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ là động lực tăng trưởng mà còn định hình hệ sinh thái số theo hướng bền vững, bao trùm, phục vụ lợi ích lâu dài của quốc gia.

Thực hiện chủ trương của Đảng, các doanh nghiệp nhà nước đã đi đầu trong đầu tư xây dựng hạ tầng số. Đại hội XIV ghi nhận: “Một số doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin chủ lực thực hiện tốt vai trò dẫn dắt về hạ tầng công nghệ, tạo nền tảng cho nền kinh tế số, xã hội số” (ĐCSVN, 2026a, tr.288-289). Tính đến năm 2025, Việt Nam có 473 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, hơn 800 doanh nghiệp có vốn chi phối. Dù số lượng không lớn, khối này chiếm khoảng 30% tổng vốn hóa thị trường chứng khoán, ước đạt gần 3 triệu tỷ đồng (Vietnamnet, 2026). Các tập đoàn như Viettel, VNPT đã chủ trì xây dựng Trung tâm dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hạ tầng số cho Chính phủ số, nền tảng số quốc gia dùng chung. Nhờ tái cấu trúc trên nền tảng số, nhiều doanh nghiệp nhà nước đã nâng cao hiệu quả quản trị, tối ưu hóa chuỗi cung ứng. Năm 2025, lợi nhuận ròng của 51 doanh nghiệp nhà nước niêm yết đạt 197.817 tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2024; tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ròng bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 21%/năm (Vietnamnet, 2026).

Như vậy, kinh tế nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong kiến tạo và dẫn dắt quá trình chuyển đổi số thông qua đầu tư các hạ tầng số chiến lược và nền tảng số quốc gia có tính lan tỏa cao. Sự chủ động của khu vực này không chỉ bảo đảm chủ quyền số, an ninh dữ liệu mà còn mở đường, định hướng và kích hoạt sự tham gia của toàn bộ nền kinh tế. Qua đó, kinh tế nhà nước khẳng định vai trò dẫn dắt trong hình thành hệ sinh thái số hiện đại, tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.

Ba là, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong thực hiện an sinh xã hội, công bằng và phát triển vùng khó khăn

Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trước hết ở khả năng định hướng và dẫn dắt phân bổ nguồn lực theo mục tiêu xã hội, không thuần túy chạy theo lợi nhuận, qua đó bảo đảm các chương trình an sinh được triển khai ổn định, lâu dài. Với ưu thế về quy mô vốn, công cụ chính sách và hệ thống doanh nghiệp then chốt, khu vực này tạo nền tảng tài chính, thể chế để Nhà nước can thiệp, điều tiết nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và bảo vệ các nhóm yếu thế. Đặc biệt, trong phát triển các vùng khó khăn, kinh tế nhà nước đóng vai trò tiên phong trong đầu tư vào hạ tầng, dịch vụ công và những lĩnh vực mà khu vực tư nhân ít có khả năng hoặc chưa sẵn sàng tham gia do rủi ro cao, lợi nhuận thấp. Thông qua đó, không chỉ tạo điều kiện tiếp cận cơ hội phát triển bình đẳng giữa các khu vực, mà còn kích hoạt các nguồn lực xã hội cùng tham gia, hình thành động lực lan tỏa.

Trong các năm 2021-2025, một số doanh nghiệp nhà nước đã có nhiều đóng góp cho tổng thu ngân sách. Nhờ đó, Nhà nước đã huy động và phân bổ kinh phí được cho ba Chương trình mục tiêu quốc gia: giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Kết quả, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,2% (2022) xuống 1,3% (2025). Đến tháng 9/2025, hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên toàn quốc... Số người hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên đạt trên 3,5 triệu người (55% là người cao tuổi) (ĐCSVN, 2026a, tr.52). Những kết quả này, là khẳng định không thể thay thế về vai trò của kinh tế nhà nước trong việc bảo đảm công bằng xã hội.

Như vậy, kinh tế nhà nước là trụ cột bảo đảm thực hiện an sinh xã hội và công bằng, thông qua năng lực điều tiết, phân bổ nguồn lực theo mục tiêu phát triển bao trùm. Vai trò chủ đạo được thể hiện rõ ở việc ưu tiên đầu tư vào vùng khó khăn, thu hẹp chênh lệch phát triển và bảo vệ các nhóm yếu thế. Qua đó, kinh tế nhà nước không chỉ giữ ổn định xã hội mà còn tạo nền tảng bền vững cho phát triển hài hòa, lâu dài của quốc gia

Những hạn chế và bất cập

Một là, thể chế quản lý vốn, tài sản nhà nước và mô hình quản trị doanh nghiệp còn bất cập

Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn còn chồng chéo, thiếu đồng bộ. Cơ chế phân cấp, phân quyền chưa rõ, trách nhiệm của người đại diện phần vốn nhà nước còn mờ nhạt. Các đơn vị sự nghiệp công lập cồng kềnh, tiến trình tự chủ diễn ra chậm, ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ công. Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước còn yếu về năng lực quản trị hiện đại, kỹ năng số và tư duy đổi mới sáng tạo. Một bộ phận cán bộ vẫn có tư duy “xin - cho”, trông chờ vào cơ chế bao cấp, ngại đột phá, sợ trách nhiệm.

Hai là, tình trạng lãng phí, thất thoát vốn, tài sản nhà nước vẫn xảy ra ở một số nơi

Nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Một số tập đoàn, tổng công ty đầu tư dàn trải, tham gia vào các lĩnh vực rủi ro (tài chính, bất động sản) dẫn đến thua lỗ, mất vốn. Phần lớn doanh nghiệp nhà nước vẫn dựa vào mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, công nghệ trung bình hoặc thấp, giá trị gia tăng hạn chế. Khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu còn yếu. Chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của khối doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với doanh thu.

Ba là, tính ổn định và bền vững chưa cao, năng suất lao động còn ở mức thấp, tiềm ẩn nguy cơ tụt lại phía sau so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Những tồn tại đó xuất phát chủ yếu từ nguyên nhân: “Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn chưa đủ rõ” (Ban Chấp hành Trung ương, 2017). Hiện nay, nguyên nhân sâu xa của những hạn chế này chính là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, thể chế pháp luật chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộvẫn còn tồn tại bất cập. Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa đáp ứng yêu cầu, chưa ứng dụng công nghệ số hiệu quả, dẫn đến phát hiện và xử lý vi phạm chưa kịp thời, nghiêm minh.

2.3. Giải pháp phát huy vai trò kinh tế nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng bền vững

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm (2026-2030), GDP bình quân đầu người 8.500 USD, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo 28% GDP, tỷ trọng kinh tế số 30% GDP, tốc độ tăng năng suất lao động 8,5%/năm (ĐCSVN, 2026a, tr.84-85), cần thực hiện đồng bộ các giải pháp:

Một là, nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số

Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết 79-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, thống nhất nhận thức trong toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Trong điều kiện nền kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ, kinh tế nhà nước không chỉ giữ vai trò điều tiết vĩ mô mà còn là lực lượng tiên phong trong ứng dụng công nghệ, dẫn dắt quá trình chuyển đổi số quốc gia và bảo đảm an ninh kinh tế số.

Đặc biệt, cần phổ biến sâu rộng quan điểm của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết số 79-NQ/TW và 80-NQ/TW ngày 25/2/2026, trong đó nhấn mạnh, kinh tế nhà nước phải trở thành “5 điểm tựa”: về an ninh và chủ quyền kinh tế; về điều tiết, ổn định và sức chống chịu; về dẫn dắt khu vực tư nhân; về dẫn dắt đổi mới sáng tạo và công nghệ lõi; và về chuẩn mực quản trị, liêm chính công vụ trong kinh tế (Tô Lâm, 2026).

Nhận thức đúng và đầy đủ về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên số không chỉ là yêu cầu lý luận mà còn là đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, bởi đây là cơ sở quan trọng để hoạch định chính sách và phân bổ hiệu quả các nguồn lực quốc gia. Cần kiên quyết khắc phục nhận thức giản đơn, sai lệch, xem kinh tế nhà nước chỉ lực lượng hỗ trợ tạm thời, hay coi doanh nghiệp nhà nước như “gánh nặng ngân sách”, đồng thời khẳng định đây là lực lượng vật chất không thể thay thế trong bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường. Các cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ quản lý cần thường xuyên cập nhật lý luận, nắm vững chủ trương của Đảng về kinh tế nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số, lấy đó làm cơ sở xây dựng và thực thi các quyết sách.

Hai là, hoàn thiện thể chế đồng bộ, minh bạch, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho kinh tế nhà nước phát huy vai trò chủ đạo

Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, để nhanh chóng tháo gỡ những “điểm nghẽn thể chế”. Cần khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; Luật Doanh nghiệp; Luật Đất đai; Luật Ngân sách nhà nước… theo hướng phân cấp mạnh mẽ, gắn trách nhiệm giải trình rõ ràng, xóa bỏ chế cơ chế “xin cho”.

Về quản trị doanh nghiệp nhà nước, cần đổi mới mô hình theo thông lệ quốc tế, tách bạch quyền sở hữu nhà nước và quyền kinh doanh. Đây là bài học cốt lõi từ mô hình Ủy ban Giám sát và Quản lý tài sản Nhà nước của Trung Quốc, cũng như mô hình Temasek Holdings của Singapore, nơi doanh nghiệp nhà nước vận hành theo nguyên tắc thị trường, quản trị chuyên nghiệp và công khai báo cáo thường niên theo chuẩn quốc tế. Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá doanh nghiệp nhà nước toàn diện theo ba chiều: hiệu quả kinh tế, trách nhiệm xã hội và an ninh chiến lược, thay cho cách đánh giá đơn thuần theo chỉ tiêu lợi nhuận như hiện nay.

Ba là, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ kinh tế nhà nước dẫn dắt chuyển đổi số

Quán triệt Nghị quyết số 71-NQ/TW và Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 31/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cần tập trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản trị doanh nghiệp nhà nước có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp, năng lực quản trị hiện đại, kỹ năng số và tư duy đổi mới sáng tạo. Thực hiện cơ chế tuyển dụng, đề bạt có cạnh tranh, minh bạch dựa trên năng lực thực sự. Có chính sách lương, thưởng, phụ cấp và môi trường làm việc hấp dẫn để thu hút và giữ chân nhân tài, gồm cả từ khu vực tư nhân, nước ngoài. Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu với doanh nghiệp nhà nước để hình thành hệ sinh thái đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng, đặc biệt trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng và bán dẫn.

Bốn là, thúc đẩy vai trò dẫn dắt của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên số

Cần tập trung đầu tư công có trọng tâm, trọng điểm vào hạ tầng số quốc gia, trung tâm dữ liệu, mạng 5G/6G và hạ tầng trí tuệ nhân tạo. Đây là những lĩnh vực tạo nền tảng cho nền kinh tế chuyển đổi số mà khu vực tư nhân không đủ nguồn lực đầu tư. Cần khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai, tài nguyên để tạo vốn xúc tác, thu hút đầu tư vào công nghệ cao và công nghiệp mũi nhọn, biến nguồn lực nhà nước thành đòn bẩy tăng trưởng chứ không chỉ là công cụ điều tiết thụ động. Hoàn thiện cơ chế đặt hàng, giao vốn và quản trị rủi ro để các tập đoàn như Viettel, EVN, VNPT thực sự đi đầu trong đổi mới sáng tạo, sản xuất chip, bảo đảm an ninh năng lượng và xây dựng nền tảng Chính phủ số. Doanh nghiệp nhà nước không cạnh tranh trực tiếp với khu vực tư nhân mà giữ vai trò kiến tạo hệ sinh thái, mở đường để khu vực tư nhân phát triển, dẫn dắt và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Năm là, chủ động tiếp thu, vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng chính sách phát huy vai trò kinh tế nhà nước

Nhiều quốc gia trên thế giới đã thành công trong việc phát huy vai trò kinh tế nhà nước gắn với mục tiêu tăng trưởng bền vững, cung cấp những bài học thiết thực cho Việt Nam.

Việt Nam cần nghiên cứu, chắt lọc kinh nghiệm của các nước theo hướng xây dựng cơ chế quản lý vốn nhà nước tập trung, tách bạch quyền sở hữu và quyền kinh doanh, áp dụng bộ tiêu chí đánh giá doanh nghiệp nhà nước toàn diện gắn với chuyển đổi số và phát triển bền vững; đồng thời thí điểm thành lập quỹ đầu tư phát triển quốc gia để dẫn dắt vốn nhà nước vào các lĩnh vực công nghệ cao, hạ tầng số và năng lượng sạch, tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 - 2030.

Sáu là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong khu vực kinh tế nhà nước

Tăng cường kiểm soát nội bộ và phòng, chống tham nhũng, lãng phí là yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa sống còn đối với hiệu quả và uy tín của khu vực này. Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra theo hướng chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý nghiêm minh các sai phạm, thay vì chỉ tiến hành thanh tra khi sự việc đã xảy ra. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số để giám sát liên tục dòng vốn nhà nước, biến động tài sản và các giao dịch có dấu hiệu bất thường trong doanh nghiệp nhà nước.

Bên cạnh đó, cần thực hiện công khai, minh bạch kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán các tài sản và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; đồng thời thực hiện nghiêm quy định về kê khai, minh bạch tài sản và thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực này. Cần có cơ chế đồng bộ bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích đổi mới sáng tạo và đóng góp thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, tạo được động lực, thúc đẩy đội ngũ cán bộ, người lao động trong khu vực nhà nước hành động vì mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

3. Kết luận

Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong bảo đảm mục tiêu tăng trưởng là yêu cầu cấp thiết, vừa mang tính chiến lược lâu dài, vừa đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Các định hướng mới trong Nghị quyết 79-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV, cùng với quan điểm “5 điểm tựa” của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, đã tạo nền tảng chính sách quan trọng. Để kinh tế nhà nước thực sự giữ vững vai trò chủ đạo, trở thành động lực dẫn dắt nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên, trong đó ưu tiên hoàn thiện thể chế và xây dựng đội ngũ cán bộ quản trị có đủ đức, đủ tài, dám đột phá. Đây là tiền đề quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa được mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, khẳng định tính ưu việt của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

_________________

Ngày nhận bài: 11/6/2026; Ngày bình duyệt: 21/8/2026; Ngày quyết định đăng: 5/10/2026.

Email tác giả: congtuyen.hn@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Ban Chấp hành Trung ương (2017). Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 3/6/2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.

ĐCSVN (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

ĐCSVN (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

ĐCSVN (2006a). Văn kiện Đảng Toàn tập (Tập 47). Nxb Chính trị quốc gia.

ĐCSVN (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

V.I.Lênin (2005a). Toàn tập (Tập 31). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

V.I.Lênin (2005b). Toàn tập (Tập 43). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

C.Mác và PhĂngghen (1995). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia.

Thu Hiền (17/11/2025). Doanh nghiệp nhà nước đóng góp hơn 29% GDP. https://thuehaiquan.tapchikinhtetaichinh.vn.

Tô Lâm (25/02/2026). Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 79 và số 80 của Bộ Chính trị. https://hcma.vn.

Trần Chung (21/02/2026). 51 DNNN trên sàn chứng khoán lãi gần 200 nghìn tỷ, bước ngoặt lớn từ cơ chế mới. https://vietnamnet.vn.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Vai trò của kinh tế nhà nước trong tăng trưởng bền vững ở Việt Nam hiện nay