DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.5805
Tóm tắt: Trên nền tảng các luận điểm cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò lịch sử của quần chúng Nhân dân, về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, về Đảng cách mạng kiểu mới của giai cấp công nhân, cũng như về đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh đã hình thành phong cách làm việc quần chúng đặc sắc, nhất quán: gần dân, trọng dân, vì dân và dựa vào dân. Phong cách ấy không chỉ phản ánh sự kế thừa mà còn là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam.
TS TRẦN THỊ HUYỀN
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
TS ĐINH THỊ THÚY HẢI
Trường Cán bộ Lê Hồng Phong

1. Mở đầu
Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhân dân luôn giữ vị trí trung tâm trong chiến lược cách mạng. Đảng Cộng sản không tồn tại ngoài xã hội, càng không thể là một tổ chức biệt lập với Nhân dân, mà là bộ phận ưu tú, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Sự vững mạnh của Đảng vì thế luôn gắn liền với năng lực tổ chức, tập hợp và phát huy vai trò của quần chúng trong thực tiễn cách mạng. Đây là bài học sâu sắc được tổng kết từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam.
Phong cách làm việc quần chúng của Hồ Chí Minh được hình thành trên nền tảng những nguyên lý cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng sự sáng tạo của bản thân, Người đã phát triển một hệ phương pháp làm việc khoa học, nhất quán, thể hiện rõ trong cách tiếp cận vấn đề, xử lý công việc và quan hệ với nhân dân. Các luận điểm như: quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo lịch sử, mọi chủ trương phải dựa trên điều tra thực tế, lý luận thống nhất với thực tiễn, Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, hay cán bộ phải nêu gương, chống chủ nghĩa cá nhân,… được Hồ Chí Minh không chỉ tiếp thu trên bình diện lý luận, mà còn chuyển hóa thành phong cách làm việc, lãnh đạo cụ thể, có sức thuyết phục và lan tỏa rộng rãi trong toàn hệ thống chính trị.
2. Nội dung
2.1. Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: quần chúng là chủ thể chân chính, sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần xã hội đến phong cách “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh
Ngay từ khi hình thành học thuyết, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã xác lập một luận điểm mang tính nguyên lý: quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo nên lịch sử, là lực lượng quyết định sự ra đời, tồn tại và biến đổi của mọi chế độ xã hội. Trên nền tảng duy vật lịch sử, C.Mác khẳng định “không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước”(1), qua đó phủ định triệt để quan niệm thần thánh hóa nhà nước và đề cao vai trò sáng tạo của quần chúng.
Phát triển tư tưởng đó trong điều kiện mới, V.I.Lênin nhấn mạnh chiều cạnh chính trị của vấn đề khi khẳng định: “Không có sự đồng tình và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được”(2). Như vậy, trong logic của chủ nghĩa Mác - Lênin, quần chúng nhân dân vừa là động lực vật chất, vừa là chủ thể chính trị của mọi cuộc cách mạng chân chính.
Tiếp thu tinh hoa tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và phát triển thành tư tưởng, phong cách “lấy dân làm gốc”. Người khẳng định: “Gốc có vững cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(3), “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(4). Với Hồ Chí Minh, nhân dân không chỉ là lực lượng vật chất làm nên mọi thắng lợi của cách mạng, mà còn là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá mục tiêu, nội dung, hiệu quả của đường lối, chính sách; độc lập dân tộc chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với quyền làm chủ, với đời sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Phong cách “lấy dân làm gốc” của Hồ Chí Minh được cụ thể hóa thành những chuẩn mực rõ ràng trong tư duy và phương pháp làm việc với nhân dân. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nhận thức đầy đủ “dân là chủ”, “dân làm chủ”, còn cán bộ là “công bộc” được người dân ủy thác ra lo việc nước, có trách nhiệm chăm lo, phục vụ nhân dân. Bộ máy chính quyền hoạt động trên tinh thần xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, chăm lo mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của người dân, phát huy quyền và nghĩa vụ của nhân dân trong xây dựng và làm trong sạch bộ máy nhà nước.
Về phương pháp, Hồ Chí Minh nhấn mạnh các yêu cầu “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân”, coi việc đi cơ sở, lắng nghe ý kiến nhân dân, tổ chức để dân biết, dân bàn, dân làm là nguyên tắc bắt buộc trong công tác lãnh đạo, quản lý. Người chỉ ra rằng: “Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải…. bỏ đi hoặc sửa lại”(5). Về phương diện nêu gương, Người giữ lối sống giản dị, hòa mình với nhân dân, từ chối đặc quyền, đặc lợi, luôn xuất hiện như một người lao động bình thường, qua đó biến tư tưởng “lấy dân làm gốc” thành phong cách làm việc, lãnh đạo và chuẩn mực đạo đức mang sức thuyết phục to lớn.
2.2.Từ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin đến phong cách “đi tới với dân” của Hồ Chí Minh
Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn giữ vị trí phương pháp luận nền tảng. Thực tiễn được khẳng định là cơ sở nảy sinh lý luận, là mục đích của nhận thức, đồng thời là “tiêu chuẩn duy nhất của chân lý”, qua đó mọi quan điểm lý luận đều phải được kiểm nghiệm, điều chỉnh thông qua hoạt động thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân. V.I.Lênin khẳng định: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”(6).
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin kiên quyết bác bỏ triệt để mọi khuynh hướng giáo điều, kinh viện, tách rời lý luận khỏi đời sống, đồng thời đòi hỏi mọi đường lối, chủ trương cách mạng phải xuất phát từ điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng giai đoạn lịch sử, được bổ sung và phát triển liên tục trên cơ sở tổng kết thực tiễn.
Tiếp thu sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh nhất quán khẳng định “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin”(7). Từ đó, Người hình thành phong cách làm việc mang đậm tinh thần thực tiễn, kết tinh ở phương châm “đi tới với dân”, điều tra, khảo sát, lắng nghe, học hỏi nhân dân.
Với Người, thực tiễn không phải là khái niệm trừu tượng, mà là đời sống cụ thể, sinh động của hàng triệu người lao động, là nơi nảy sinh mọi sáng kiến, bộc lộ mọi khó khăn, đồng thời là “trường học lớn” để cán bộ, đảng viên rèn luyện bản lĩnh và năng lực làm việc. Từ đó, Hồ Chí Minh khẳng định cách lãnh đạo đúng đắn phải “từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”(8). Trên cơ sở thu thập, gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, phân tích, nghiên cứu, khái quát thành chủ trương, rồi lại đem giải thích cho dân hiểu, tổ chức cho dân thực hiện, trong quá trình đó tiếp tục kiểm nghiệm, bổ sung, hoàn thiện đường lối.
Trên nền tảng đó, phong cách “đi tới với dân” của Hồ Chí Minh trở thành yêu cầu bắt buộc đối với người cán bộ cách mạng. Người đòi hỏi cán bộ “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”(9), phải trực tiếp xuống cơ sở, “nghe dân nói, xem dân làm” để nắm chắc tình hình, tránh lối chỉ đạo bằng giấy tờ, báo cáo một chiều. Thực tiễn cho thấy, trong 10 năm (1955 - 1965), Hồ Chí Minh đã không quản tuổi cao, công việc nhiều, thực hiện khoảng 700 lượt đi thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội,... từ miền núi đến hải đảo, để thăm hỏi, động viên chiến sĩ và đồng bào. Trung bình mỗi năm, Người dành hơn 60 lượt đi xuống cơ sở; mỗi tháng có khoảng 6 lần Người gặp gỡ quần chúng nhân dân.
Việc Hồ Chí Minh thường xuyên đi công tác cơ sở, lắng nghe ý kiến của công nhân, nông dân, chiến sĩ, sẵn sàng điều chỉnh nội dung chỉ đạo sau khi khảo sát thực tế, là biểu hiện sinh động của nguyên tắc thống nhất lý luận với thực tiễn trong phong cách lãnh đạo của Người. Nhờ đó, các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước do Hồ Chí Minh khởi xướng luôn bám sát đời sống nhân dân, vừa phản ánh đúng quy luật khách quan vừa phù hợp trình độ, điều kiện cụ thể, qua đó khẳng định sự tác động sâu sắc nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về thực tiễn đối với phong cách làm việc quần chúng “đi tới với dân” của Hồ Chí Minh.
2.3. Từ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về Đảng kiểu mới đến phong cách dân chủ, gắn bó với quần chúng của Hồ Chí Minh
Một trong những đóng góp lý luận quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin là quan niệm về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Khác với các đảng phái tư sản hoặc lực lượng chính trị mang tính chất cục bộ, tản mạn, Đảng Cộng sản được C.Mác và Ph.Ăngghen xác định là bộ phận tiên phong, đại biểu cho lợi ích lâu dài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, được trang bị lý luận khoa học, có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật tự giác.
Kế thừa và phát triển tư tưởng đó, V.I.Lênin nhấn mạnh, không thể có một đảng cách mạng chân chính nếu tách rời phong trào quần chúng; “Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu không có một tổ chức ổn định”(10), và tổ chức ấy phải có “liên hệ thực tế thường xuyên với quần chúng và biết lãnh đạo những quần chúng đó”(11). Dân chủ trong Đảng, gắn bó với nhân dân, vì vậy được xác định là nguyên tắc tổ chức và hoạt động cơ bản, đồng thời là điều kiện để Đảng không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn trên lập trường giai cấp công nhân.
Trong quá trình thành lập, rèn luyện, lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về Đảng kiểu mới, qua đó hình thành phong cách làm việc dân chủ, gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Trên nền tảng lý luận về Đảng kiểu mới, Người khẳng định dân chủ là bản chất, là phương thức tồn tại của chế độ mới, coi “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(12). Quan điểm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được Hồ Chí Minh nêu lên như một cách thức cụ thể hóa nguyên tắc Đảng gắn bó với nhân dân theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời phản ánh phong cách lãnh đạo đề cao đối thoại, giải thích, thuyết phục, lấy lý lẽ và thực tiễn để tranh thủ đồng thuận của quần chúng nhân dân, tránh mọi biểu hiện áp đặt mệnh lệnh hành chính. Dân chủ trong quan điểm của Người vì thế không chỉ là một cơ chế tổ chức quyền lực, mà còn là biểu hiện sinh động của đạo đức cách mạng, là thước đo mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
Song song với việc đề cao dân chủ, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh yêu cầu giữ gìn mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân - một nội dung cốt lõi trong mô hình Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân. Người phê phán gay gắt các biểu hiện quan liêu, xa dân, hách dịch, đặc quyền, đặc lợi, coi đó là những dấu hiệu tha hóa, làm suy yếu bản chất cách mạng và tính tiên phong của Đảng. Từ nhận thức Đảng chỉ có lý do tồn tại khi đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động, Hồ Chí Minh nhiều lần cảnh báo: nếu Đảng không biết lắng nghe, không học hỏi quần chúng, không thật sự phục vụ lợi ích của nhân dân thì tất yếu sẽ bị quần chúng xa rời.
2.4. Từ những chỉ dẫn chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa cá nhân, đặc quyền, đặc lợi đến phong cách làm việc quần chúng, nêu gương, giản dị của Hồ Chí Minh
Với tư cách là học thuyết cách mạng triệt để, chủ nghĩa Mác - Lênin luôn nhất quán phê phán chủ nghĩa cá nhân và các biểu hiện đặc quyền, đặc lợi như những tàn dư của xã hội phong kiến, bóc lột, có khả năng làm tha hóa quyền lực và phá vỡ mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng. V.I.Lênin nhiều lần cảnh báo về tính chất “căn bệnh nguy hiểm” của chủ nghĩa quan liêu, đặc quyền trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, coi đó là trở ngại lớn đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bởi nó làm xói mòn đạo đức cách mạng, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng cầm quyền. Như vậy, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không chỉ là yêu cầu đạo đức, mà còn là điều kiện sống còn để giữ vững bản chất cách mạng, tính giai cấp và tính nhân dân của Đảng.
Trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh xây dựng cho mình một phong cách sống và làm việc mẫu mực, kết tinh ở nguyên tắc nêu gương, gần gũi, giản dị. Người nhiều lần phê phán tệ quan liêu, xa rời quần chúng, lên mặt “làm quan cách mạng”, “quan nhân dân", không thấy rằng bản thân là đầy tớ, là người học trò của nhân dân. Hồ Chí Minh đã nêu quan điểm rất rõ ràng là không phải cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” thì sẽ được mọi người yêu mến mà phải thông qua hoạt động thực tế. Người cho rằng, quần chúng nhân dân chỉ thực sự quý trọng những người có đức, có tài, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Người nhắc nhở, phải yêu dân, kính dân, thì dân mới dành sự yêu kính cho mình. Người không chỉ lên án chủ nghĩa cá nhân trên bình diện lý luận, mà trước hết thực hành triệt để trong đời sống thường nhật: sống thanh bạch, tiết kiệm, từ chối mọi đặc quyền, đặc lợi, sinh hoạt như một công dân bình thường, luôn hòa mình với nhân dân.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh, muốn giáo dục quần chúng hiệu quả, người cán bộ phải coi trọng sức thuyết phục của tấm gương thực tiễn, “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(13). Bằng chính lối sống, tác phong của mình, Người đã hiện thực hóa các yêu cầu của chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân thành “bài học sống”, có sức lan tỏa sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân.
Trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã hình thành phong cách nêu gương, gần gũi, giản dị, thể hiện rõ trong quan hệ với cán bộ và nhân dân. Người luôn cư xử chân thành, bình đẳng, tôn trọng mọi người, không tự đặt mình ở vị trí “đặc biệt”, dù giữ cương vị Chủ tịch nước. Đồng thời, Hồ Chí Minh kiên quyết phê phán những cán bộ “làm quan cách mạng”, xa dân, hách dịch, lợi dụng chức vụ để mưu cầu lợi ích riêng, coi đó là nguy cơ nghiêm trọng làm suy yếu mối liên hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân. Qua đó, củng cố vững chắc nền tảng đạo đức của Đảng và tăng cường niềm tin của nhân dân.
Phong cách làm việc quần chúng của Hồ Chí Minh được hình thành trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền thống dân tộc, từ điều kiện thực tiễn lịch sử và đặc biệt là chính tấm gương tiêu biểu của Hồ Chí Minh đã tạo sức lan tỏa và cảm hóa mạnh mẽ. Từ đó, quần chúng nhân dân đến với Người một cách tự nhiên, không e ngại, không còn khoảng cách giữa lãnh tụ và nhân dân. Tác phong ấy làm cho lãnh tụ và quần chúng trở nên gần gũi, thân quen, dễ dàng hoà nhập trong sự đồng cảm sâu sắc, thấu hiểu và chia sẻ. Chính vì thế, người dân có thể nói hết những suy nghĩ, trăn trở của mình còn Chủ tịch Hồ Chí Minh thì lắng nghe để có thể hiểu được ngôn ngữ, nhịp đập của cuộc sống đời thường.
Phong cách quần chúng của Hồ Chí Minh không chỉ là tác phong cần thiết của cán bộ, đảng viên trong quan hệ với dân, mà còn là tác phong của cấp trên với cấp dưới, của cán bộ lãnh đạo với, đảng viên thường. Đối với người lãnh đạo cấp trên, hiểu rõ người dân, hiểu rõ cấp dưới luôn có tầm quan trọng đặc biệt. Hiểu dân chính là để hiểu cấp dưới được chính xác hơn, đồng thời, hiểu cấp dưới chính là để hiểu dân được đầy đủ hơn. Càng hiểu dân và càng hiểu cấp dưới, người lãnh đạo càng hiểu chính bản thân mình và càng đúc kết được những điều bổ ích để bổ sung cho xây dựng và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách.
3. Kết luận
Phong cách làm việc quần chúng của Hồ Chí Minh là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó một yếu tố quan trọng đó là tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo các nguyên lý nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở quan điểm quần chúng là chủ thể lịch sử, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, yêu cầu xây dựng Đảng kiểu mới và tinh thần đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh đã hình thành phong cách làm việc, lãnh đạo gần dân, trọng dân, vì dân, dựa vào dân. Phong cách ấy không chỉ phản ánh bản lĩnh, tư tưởng và đạo đức cách mạng của Người, mà còn là kiểu mẫu cho người cán bộ trong thời đại mới - cán bộ cần đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân để bảo đảm thành công bền vững cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
_________________
Nhận bài: 9-12-2025; Ngày bình duyệt: 29-12-2025; Ngày duyệt đăng: 1-1-2026.
Email tác giả: tranhuyenvhcm@gmail.com
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.350.
(2) V.I.Lênin: Toàn tập, t.39, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.251.
(3), (5), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.502,286, 330
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Sđd, tr.453.
(6) V.I.Lênin: Toàn tập, t.18, Sđd, tr.167.
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Sđd, tr.95.
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Sđd, tr. 233-234.
(10) V.I.Lênin: Toàn tập, t.6, Sđd, tr.158.
(11) V.I.Lênin: Toàn tập, t.41, Sđd, tr.286.
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr.325.
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Sđd, tr.284.