DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5214
Tóm tắt: Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xác định tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu “đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tập trung quản lý phát triển”, gắn với thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân. Bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam gắn với nâng cao năng lực quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
TS TRẦN THỊ LAN ANH
Học viện Hành chính và Quản trị công

1. Mở đầu
Thực tiễn đổi mới thể chế và tổ chức bộ máy thời gian qua đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam một cách toàn diện hơn. Trọng tâm không chỉ là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy, mà còn phải bảo đảm quyền lực nhà nước được phân công, phối hợp và kiểm soát hiệu quả; nâng cao chất lượng tổ chức thi hành pháp luật, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và năng lực quản trị quốc gia; đồng thời tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra yêu cầu tạo đột phá về thể chế và quản trị quốc gia hiện đại (Ban Chấp hành Trung ương, 2026).
Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ giữa hoàn thiện thể chế, tổ chức và kiểm soát quyền lực với nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước. Nhà nước pháp quyền xác lập khuôn khổ hiến định và pháp lý cho tổ chức, thực hiện và kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; quản trị quốc gia hiện đại đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, phối hợp, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, xây dựng một nền quản trị hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ Nhân dân.
2. Nội dung
Mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền và quản trị quốc gia hiện đại được xem xét bốn vấn đề chủ yếu: (1) Chất lượng thể chế và hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; (2) Phân công, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; (3) Năng lực ứng dụng dữ liệu, công nghệ và bằng chứng trong quản trị; (4) Mức độ đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự tham gia của xã hội và hiệu quả phát triển. Theo đó, các giải pháp tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền cần gắn kết chặt chẽ với đổi mới quản trị quốc gia hiện đại nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, thúc đẩy phát triển đất nước và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân (Nguyễn Bá Chiến và Trương Quốc Việt, 2026).
2.1. Tiếp tục hoàn thiện nhận thức lý luận về Nhà nước pháp quyền và quản trị quốc gia hiện đại phù hợp với điều kiện Việt Nam
Trước hết, cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ nội hàm của quản trị quốc gia hiện đại và mối quan hệ giữa quản trị quốc gia hiện đại với quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong điều kiện phát triển mới của đất nước. Việc nghiên cứu cần đặt trong tổng thể mô hình phát triển của Việt Nam, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển nhanh, bền vững. Theo đó, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền không chỉ chú trọng tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước, mà còn phải gắn với nâng cao chất lượng thể chế, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, năng lực kiến tạo và điều phối phát triển, đồng thời tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Quản trị quốc gia hiện đại cần được nghiên cứu và vận dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những giá trị và kinh nghiệm quốc tế, đồng thời xuất phát từ đặc điểm của hệ thống chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu phát triển của đất nước.
Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đặt ra yêu cầu tạo đột phá về thể chế và quản trị quốc gia hiện đại. Theo đó, từng bước hoàn thiện hệ thống tiêu chí phục vụ đánh giá chất lượng quản trị quốc gia phù hợp với điều kiện Việt Nam, trong đó chú trọng chất lượng thể chế và tổ chức thực hiện; kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; chất lượng phục vụ nhân dân; năng lực quản trị dựa trên dữ liệu; khả năng phối hợp, dự báo, thích ứng và hiệu quả thực hiện các mục tiêu phát triển. Hệ thống tiêu chí này cần được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và có khả năng phản ánh thực chất chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước, tránh chạy theo số lượng chỉ tiêu hoặc hình thức đánh giá (Ban Chấp hành Trung ương, 2026).
Cùng với nghiên cứu lý luận, cần coi trọng tổng kết thực tiễn, nhất là những vấn đề mới phát sinh trong quá trình vận hành chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, chuyển đổi số và khai thác các cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước. Kết quả thực hiện phải được theo dõi, đánh giá bằng những tiêu chí phù hợp, gắn với chất lượng giải quyết công việc, hiệu quả phối hợp, trách nhiệm của cơ quan và người đứng đầu, mức độ thuận lợi của người dân, doanh nghiệp và khả năng giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Qua tổng kết thực tiễn, những cách làm hiệu quả cần được nghiên cứu, nhân rộng; những hạn chế, bất cập cần được nhận diện và xử lý kịp thời, đồng thời cung cấp thêm cơ sở thực tiễn cho việc tiếp tục hoàn thiện lý luận và chính sách về quản trị quốc gia hiện đại ở Việt Nam.
2.2. Tiếp tục đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo yêu cầu kiến tạo phát triển
Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác xây dựng và thi hành pháp luật, coi đây là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Vì vậy, cần tiếp tục nâng cao chất lượng toàn bộ quá trình xây dựng và thi hành pháp luật, từ nhận diện đúng những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, xây dựng chính sách trên cơ sở thông tin, dữ liệu và luận cứ khoa học, lấy ý kiến các đối tượng chịu tác động, đánh giá tác động, ban hành quy định rõ ràng, khả thi đến tổ chức thực hiện, theo dõi, đánh giá và kịp thời sửa đổi, bổ sung những quy định không còn phù hợp (Bộ Chính trị, 2025).
Cùng với việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật, cần phát huy tốt hơn vai trò của pháp luật trong kiến tạo và thúc đẩy phát triển. Pháp luật vừa phải bảo đảm kỷ cương, an toàn, công bằng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vừa tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Đối với những lĩnh vực mới, phát triển nhanh như trí tuệ nhân tạo, tài sản số, kinh tế nền tảng và dữ liệu, cần lựa chọn phương thức điều chỉnh phù hợp với tính chất của từng lĩnh vực, bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước nhưng không tạo ra những rào cản không cần thiết đối với đổi mới sáng tạo; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể và có cơ chế kiểm soát những rủi ro có thể phát sinh.
Đặc biệt, cần coi trọng tổ chức thi hành pháp luật ngay từ quá trình xây dựng chính sách và pháp luật. Đối với những chính sách có phạm vi tác động lớn, cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế phối hợp, các điều kiện về nhân lực, tài chính, dữ liệu và hạ tầng cần thiết, đồng thời gắn thẩm quyền với trách nhiệm và trách nhiệm giải trình. Công tác theo dõi thi hành pháp luật cần chú trọng hơn đến kết quả thực hiện và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn; tăng cường sử dụng thông tin, dữ liệu về phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, thời gian giải quyết công việc, chi phí tuân thủ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Kết quả theo dõi, đánh giá cần được sử dụng kịp thời để hoàn thiện chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành.
2.3. Hoàn thiện phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Phân cấp, phân quyền cần tiếp tục được đẩy mạnh theo hướng xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng cấp chính quyền, bảo đảm phù hợp với chức năng, năng lực quản lý và điều kiện thực hiện. Việc giao nhiệm vụ, quyền hạn cần đi đôi với bảo đảm các nguồn lực cần thiết về tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất, dữ liệu và hạ tầng số, đồng thời có cơ chế hướng dẫn, hỗ trợ chuyên môn trong quá trình thực hiện. Chỉ khi thẩm quyền, trách nhiệm và các điều kiện bảo đảm được xác định đồng bộ, phân cấp, phân quyền mới phát huy được tính chủ động của chính quyền địa phương và nâng cao hiệu quả giải quyết công việc.
Cùng với mở rộng phân cấp, phân quyền, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực. Trong đó, cần xác định rõ phạm vi thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan, từng cấp chính quyền; công khai, minh bạch quy trình và kết quả giải quyết công việc; tăng cường kiểm tra, giám sát; gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện nhiệm vụ; đồng thời phát huy vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân và các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Việc ứng dụng dữ liệu và công nghệ số cần góp phần nâng cao tính minh bạch, hỗ trợ kiểm tra, giám sát và xác định trách nhiệm, nhưng không làm phát sinh thêm những thủ tục không cần thiết. Qua đó, kiểm soát quyền lực được thực hiện đồng thời với nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền.
Đối với chính quyền cấp xã, đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Việc bố trí đội ngũ, xác định vị trí việc làm, tổ chức quy trình công tác, đầu tư hạ tầng số và cơ chế hỗ trợ chuyên môn cần phù hợp với quy mô dân số, đặc điểm địa bàn, khối lượng và tính chất nhiệm vụ của từng địa phương. Những địa bàn đô thị, khu vực có tốc độ đô thị hóa cao, khu công nghiệp, miền núi, biên giới, hải đảo hoặc có quy mô dân số lớn cần được tính đến những yêu cầu quản lý đặc thù. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhất là năng lực thực thi pháp luật, phối hợp liên ngành, sử dụng dữ liệu và công nghệ số, nhằm bảo đảm chính quyền cơ sở thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng hiệu quả.
2.4. Bảo đảm các nguyên tắc pháp quyền trong môi trường số và nâng cao năng lực quản trị dựa trên dữ liệu
Chuyển đổi số trong hoạt động của Nhà nước phải được thực hiện trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Việc thu thập, quản lý, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu phải đúng thẩm quyền, đúng mục đích, bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật và xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể có liên quan. Luật Dữ liệu và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ dữ liệu. Trong quá trình thực hiện, cần tiếp tục hoàn thiện các quy định, tiêu chuẩn và quy trình liên quan đến chất lượng dữ liệu, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, trách nhiệm trong tạo lập, cập nhật, khai thác dữ liệu, đồng thời bảo vệ quyền con người, quyền công dân và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong môi trường số (Quốc hội, 2024a).
Cùng với hoàn thiện cơ sở pháp lý, cần nâng cao năng lực khai thác và sử dụng dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành và xây dựng chính sách. Việc hình thành các cơ sở dữ liệu chỉ thực sự phát huy giá trị khi dữ liệu được cập nhật, kết nối và sử dụng hiệu quả trong quá trình ra quyết định. Các cơ quan nhà nước cần tăng cường năng lực phân tích, dự báo và đánh giá chính sách trên cơ sở thông tin, dữ liệu và luận cứ khoa học; từng bước gắn kết quả phân tích dữ liệu với quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Đối với những chính sách có phạm vi tác động lớn, cần chú trọng làm rõ căn cứ thực tiễn, nguồn thông tin và dữ liệu được sử dụng, các phương án được xem xét và kết quả dự kiến, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch, chất lượng quyết định và trách nhiệm giải trình (Lê Văn Chiến, 2026).
Đối với việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động của cơ quan nhà nước, cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và các cơ chế quản lý phù hợp với tính chất, phạm vi và mức độ tác động của từng ứng dụng. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo phải bảo đảm tuân thủ pháp luật, an toàn, minh bạch, bảo vệ dữ liệu và không làm thay đổi trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền đối với quyết định được đưa ra. Đối với những trường hợp việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát và xem xét lại phù hợp. Việc ứng dụng công nghệ phải hướng tới nâng cao chất lượng quản lý, tính minh bạch và hiệu quả phục vụ nhân dân, đồng thời bảo đảm các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền trong môi trường số (Quốc hội, 2025b).
2.5. Nâng cao năng lực thực thi và trách nhiệm trong quản trị quốc gia
Nâng cao chất lượng thể chế phải gắn với nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của đội ngũ cán bộ, công chức. Trước yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại, cần tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn năng lực theo vị trí việc làm, trong đó chú trọng năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, phân tích và sử dụng dữ liệu, phối hợp liên ngành, dự báo và xử lý những vấn đề phát sinh, truyền thông chính sách, cùng với ý thức trách nhiệm và đạo đức công vụ trong môi trường số. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cần gắn chặt hơn với yêu cầu của vị trí việc làm và thực tiễn công tác, chú trọng khả năng vận dụng kiến thức, giải quyết công việc và thích ứng với những yêu cầu mới (Lương Thanh Cường, 2026).
Cùng với đó, tiếp tục đổi mới phương thức đánh giá cán bộ, công chức và hoạt động công vụ theo hướng coi trọng chất lượng, hiệu quả và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Việc đánh giá cần phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm của từng cơ quan, đơn vị; kết hợp giữa tiến độ, chất lượng công việc với kết quả phục vụ người dân, doanh nghiệp, hiệu quả phối hợp và khả năng giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn. Đối với người đứng đầu, thẩm quyền và tính chủ động trong quản lý, điều hành phải gắn với trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, chất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị và việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính.
Phát huy sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và các chủ thể xã hội là một yêu cầu quan trọng của quản trị quốc gia hiện đại. Sự tham gia cần được thực hiện phù hợp ở các khâu xây dựng, tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách theo quy định của pháp luật, thay vì chỉ tập trung ở việc lấy ý kiến đối với dự thảo. Cần tiếp tục hoàn thiện các kênh tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị; tăng cường công khai, minh bạch về tiến độ và kết quả xử lý; đồng thời thực hiện trách nhiệm giải trình đối với việc tiếp thu ý kiến, nhất là đối với những chính sách có phạm vi tác động lớn. Nhờ đó, cơ quan nhà nước có thêm thông tin từ thực tiễn để kịp thời hoàn thiện chính sách và nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân.
Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực dự báo, phòng ngừa và ứng phó với những vấn đề, rủi ro có tính liên ngành, liên vùng và tác động rộng đến phát triển đất nước. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh mạng, gián đoạn chuỗi cung ứng, già hóa dân số và những biến đổi nhanh của khoa học, công nghệ đều đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp giữa các cơ quan và các cấp chính quyền. Vì vậy, cần nâng cao năng lực dự báo, tăng cường chia sẻ thông tin, dữ liệu, xây dựng các phương án ứng phó và xác định rõ trách nhiệm phối hợp trong những tình huống phức tạp. Trong mọi trường hợp, tính chủ động, linh hoạt và kịp thời trong quản trị phải được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đúng thẩm quyền, gắn với kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
Các giải pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cho thấy hoàn thiện thể chế phải gắn với nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Pháp luật dù được hoàn thiện nhưng nếu thiếu các điều kiện bảo đảm thi hành thì khó tạo ra chuyển biến rõ nét trong thực tiễn; ngược lại, việc mở rộng tính chủ động trong quản trị nếu không đi đôi với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình có thể làm phát sinh những bất cập trong quá trình thực thi. Vì vậy, tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quản trị quốc gia hiện đại cần được tiến hành đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ đến quản trị dữ liệu và đổi mới phương thức đánh giá kết quả; đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng tổ chức thi hành pháp luật, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và chất lượng phục vụ nhân dân.
3. Kết luận
Quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần được tiến hành đồng bộ với đổi mới phương thức quản trị: pháp luật vừa bảo đảm kỷ cương, kiểm soát quyền lực, vừa tạo điều kiện cho phát triển; phân cấp, phân quyền phải gắn với nguồn lực, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát; chuyển đổi số và khai thác dữ liệu phải đi đôi với bảo đảm an toàn, minh bạch và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; tinh gọn tổ chức bộ máy phải gắn với nâng cao chất lượng hoạt động và hiệu quả phục vụ nhân dân.
Do đó, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng tổ chức thi hành pháp luật và năng lực quản trị của bộ máy nhà nước. Thể chế tốt cần được bảo đảm bằng tổ chức thực hiện hiệu quả; thẩm quyền phải gắn với trách nhiệm và cơ chế kiểm soát; dữ liệu và công nghệ phải phục vụ tốt hơn quá trình ra quyết định và cung cấp dịch vụ công; kết quả thực hiện và phản hồi từ thực tiễn cần được sử dụng để tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật. Hiệu quả của quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền vì vậy cần được nhìn nhận không chỉ ở mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy, mà còn ở khả năng kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, giải quyết hiệu quả các vấn đề đặt ra trong thực tiễn và phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn. Qua đó, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp tục được hoàn thiện, đồng thời tạo nền tảng thể chế vững chắc cho quản trị quốc gia hiện đại và sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
_________________
Ngày nhận bài: 25/8/2026; Ngày bình duyệt: 5/9/2026; Ngày quyết định đăng: 22/9/2026.
Email tác giả: Anhttl1@apag.edu.vn
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII (2022). Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 (khóa XIV) về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15.
Quốc hội (2025). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15.
Lương Thanh Cường (2026). “Xây dựng và hoàn thiện nền quản trị quốc gia Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả”. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 363 (4/2026), tr. 10-21.
Lê Văn Chiến (2026). “Quản trị quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và kiến nghị”. Tạp chí Lý luận chính trị, số 580 (6/2026), tr. 40-47.
Nguyễn Bá Chiến, Trương Quốc Việt (2026). “Đổi mới quản trị quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Khâu đột phá tạo lập năng lực phát triển mới”. Tạp chí Cộng sản. https://tapchicongsan.org.vn