Nhân vật - Sự kiện

Lãnh tụ Hồ Chí Minh dự báo về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

10/03/2026 16:21

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1715
Tóm tắt: Bài viết làm rõ những dự báo sớm, chính xác của lãnh tụ Hồ Chí Minh về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 trên cơ sở phân tích khoa học tình hình thế giới, khu vực và trong nước; vai trò chỉ đạo trực tiếp của Người và Trung ương Đảng trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Qua đó, bài viết khẳng định tầm nhìn chiến lược, nhãn quan chính trị sắc sảo và tư duy quân sự biện chứng của Hồ Chí Minh, cũng như ý nghĩa quyết định của việc chuẩn bị thực lực cách mạng, nhất là lực lượng vũ trang, đối với thắng lợi của cuộc đấu tranh giành chính quyền năm 1945. Những giá trị lý luận và thực tiễn rút ra từ quá trình đó tiếp tục có ý nghĩa sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

TS NGUYỄN VĂN TRƯỜNG
TS NGUYỄN MẠNH HÀ
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Với nhãn quan chính trị sắc sảo, kinh nghiệm hoạt động cách mạng phong phú, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã kiến giải thấu đáo về tình hình thế giới, trong nước, đưa ra nhận định sớm và chính xác về thắng lợi của cách mạng Việt Nam_Ảnh: IT

1. Mở đầu

Dự báo chính xác về tình hình thế giới, trong nước và xây dựng lực lượng cách mạng, nhất là lực lượng vũ trang là hai yếu tố có ý nghĩa quan trọng hàng đầu, tác động đến thắng lợi của cách mạng. Với vốn kiến thức khoa học và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú; bằng tư duy biện chứng khoa học, sự “nhạy cảm” đặc biệt về chính trị và tố chất, tầm nhìn của “lãnh tụ” thiên tài, ngay sau khi về nước (ngày 28-01-1941), Nguyễn Ái Quốc đã sớm đưa ra những dự báo chính xác về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và trực tiếp chỉ đạo xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Thực tiễn lịch sử chứng minh, những dự báo thiên tài của Người cùng với sự lớn mạnh, trưởng thành của lực lượng vũ trang nhân dân là cơ sở để Trung ương Đảng đề ra chủ trương đúng; chỉ đạo tổ chức thực hiện linh hoạt, sáng tạo, góp phần quyết định vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành chính quyền.

2. Nội dung

2.1. Hồ Chí Minh đưa ra dự báo từ rất sớm và chính xác về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, ngoài điều kiện khách quan thuận lợi, thì yếu tố chủ quan có vai trò quyết định hàng đầu. Một trong những yếu tố đó là dự báo thiên tài của lãnh tụ Hồ Chí Minh về thắng lợi của cách mạng Việt Nam vào năm 1945. Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan, khoa học về tình hình thế giới, khu vực và nhận định liên quan đến tiềm năng, xu hướng vận động, phát triển hợp quy luật của cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã sớm đưa ra những dự báo chính xác về thời điểm giành độc lập dân tộc.

Ngay từ tháng 6-1940, khi đang hoạt động ở Côn Minh (Trung Quốc), sau khi nắm được thông tin thủ đô Pari của Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng, Nguyễn Ái Quốc đã nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(1). Sau đó, vào tháng 9-1940, Người tiếp tục đưa ra dự báo: “Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập”(2). Từ những nhận định này, Người cùng các đồng chí chủ động, khẩn trương tìm đường về nước để trực tiếp chỉ đạo phong trào, đón bắt thời cơ cách mạng. Thực tiễn đã chứng minh tính chính xác của những dự báo trên. Đầu tháng 3-1945, mâu thuẫn giữa phát xít Nhật và thực dân Pháp ở Đông Dương không thể điều hòa, phát xít Nhật đã nổ súng tấn công thực dân Pháp tại Hải Phòng vào lúc 19 giờ 25 phút và tại Hà Nội vào lúc 19 giờ 55 phút ngày 9-3-1945. Thực dân Pháp chống đỡ một cách yếu ớt và nhanh chóng đầu hàng phát xít Nhật. Dự báo chính xác của Nguyễn Ái Quốc về sự kiện Nhật, Pháp bắn nhau đã khẳng định tư duy thiên tài của người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc Hồ Chí Minh. Dự báo này đã cung cấp những “dữ liệu” cần thiết, kịp thời để Trung ương Đảng đề ra chủ trương, chỉ đạo chuẩn bị chu đáo về mọi mặt tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ xuất hiện.

Mặc dù xa Tổ quốc gần 30 năm, nhưng trong suốt quá trình tìm đường cứu nước và hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc luôn quan tâm, nắm bắt sát sao diễn biến tình hình cách mạng trong nước. Ngay sau khi về nước ngày 28-01-1941, Người đã cùng với Trung ương Đảng hoàn thiện chủ trương chuyển hướng chỉ đạo cách mạng; đưa ra những nhận định về thời cơ cách mạng và cùng với các đoàn thể tích cực chuẩn bị mọi mặt cho phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc. Vào thời điểm đầu năm 1941, phe phát xít do Đức Quốc xã đứng đầu mở rộng phạm vi xâm lược, uy hiếp trực tiếp đối với Nhà nước Liên Xô và nhiều nước dân chủ khác, nhưng tại Hội nghị Trung ương 8, họp từ ngày 10 đến 19-5-1941, dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Đảng đã đưa ra nhận định mang tầm chiến lược: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”(3).

Sau khi Hội nghị Trung ương 8 kết thúc ít ngày, cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống lại sự xâm lược của phát xít Đức và các nước trong phe trục đã diễn ra. Phát xít Đức tấn công Liên Xô vào ngày 22-6-1941, cho dù trước đó Liên Xô và phát xít Đức đã có hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau. Trong Hồi ký có tựa đề Bác Hồ được Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc ấn hành năm 2000, đồng chí Vũ Anh kể: Bác luôn vững tin rằng Liên Xô sẽ đánh bại kẻ thù. Bác phân tích tình hình quần chúng, địa hình và khí hậu của Liên Xô rồi kết luận: Ngày xưa, quân Napoleon chinh phục khắp châu Âu cũng bị bại trận khi đánh Nga. Nay Liên Xô là cộng sản, tổ chức rất cao, chế độ rất tốt, quần chúng rất giác ngộ nên nhất định sẽ đánh bại và tiêu diệt được phát xít. Bác vẽ và gửi cho Báo Việt Nam độc lập hình đồng chí Stalin đánh nhau với Hitle. Đồng chí Stalin vật Hitle xuống và ngồi đè lên trên, để quần chúng hiểu rằng Liên Xô sẽ thắng, Đức sẽ thua trận và đầu hàng Đồng minh.

Đầu năm 1942, trong bài viết trên báo Việt Nam độc lập, Người tiếp tục đưa ra dự đoán: “Nga nhất định thắng. Đức nhất định bại. Anh - Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là thời cơ nước ta giành được độc lập tự do. Vì vậy, mọi người phải chuẩn bị và mau đoàn kết lại”(4).

Trên cơ sở nhận định về diễn tiến của tình hình thế giới, Người đã đưa ra dự báo từ sớm và rất chính xác về thành công của cách mạng Việt Nam. Dự báo này được Người phân tích trong tác phẩm Lịch sử nước ta (1941). Mở đầu, Hồ Chí Minh viết “Dân ta phải biết sử ta - Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Nhưng điều đặc biệt, ở phần cuối, sau diễn ca là phần phụ lục, Người ghi những năm quan trọng gắn với những sự kiện tiêu biểu, cuối cùng Người tiên lượng: Năm 1945 - Việt Nam độc lập. Dự báo này của Người thể hiện sự lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi hoàn thành và tất yếu của cách mạng, có sức lay động và cổ vũ hàng triệu người Việt Nam yêu nước quyết một lòng theo Đảng, đấu tranh vì nền độc lập của nước nhà.

Đồng chí Lê Quảng Ba, người được Người giao nhiệm vụ phụ trách việc in tập Lịch sử Việt Nam kể lại: “Tôi nhớ lại, cuốn sử Việt Nam tóm tắt bằng thơ do đích thân Hồ Chủ tịch viết cuối năm 1941 tại Pác Bó. Phần ghi những năm quan trọng của các thời kỳ, Người đề rõ: Việt Nam độc lập năm 1945. Chúng tôi thắc mắc không dám in, đưa bản thảo cho Bác xem lại, Bác xem rồi bảo: Được, cứ thế in. Nửa tin nửa ngờ, sau khi in xong tập thứ nhất, chúng tôi lại đưa bác soát lại. Bác vẫn nhắc như lần trước: Được rồi, cứ thế in. Điều dự kiến đó đã trở thành hiện thực, ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Quảng Trường Ba Đình, Hồ Chủ tịch đã tuyên bố trước thế giới: Việt Nam độc lập”(5).

Năm 1943, tại Hội nghị Tehran, các nhà lãnh đạo của một số nước lớn trong phe Đồng minh dự tính phải đến năm 1946 mới có thể đánh bại lực lượng phát xít, kết thúc chiến tranh, thì ngay từ năm 1941 Hồ Chí Minh đã dự báo chính xác về tình hình thế giới, diễn biến cuộc chiến tranh và thời điểm thành công của cách mạng Việt Nam là năm 1945. Nhận xét về tài năng dự báo chiến lược của Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “Thực tế cùng với thời gian sẽ là nhà kiểm nghiệm nghiêm khắc. Những điều tiên tri đó thuộc về những thiên tài”(6).

2.2. Hồ Chí Minh Trung ương Đảng tp trung chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng; kế thừa những bài học kinh nghiệm về xây dựng, tổ chức quân sự trong lịch sử giữ nước của dân tộc; trên cơ sở phân tích sâu sắc bản chất của chủ nghĩa thực dân, Hồ Chí Minh sớm chỉ ra rằng: “Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu”. Vì vậy, đối với các dân tộc thuộc địa muốn chiến thắng kẻ thù hung bạo thì không có sự lựa chọn nào khác là phải “dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”. Trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Người khẳng định: “Muốn giải phóng thì phải đánh phát xít Nhật và Pháp. Muốn đánh chúng thì phải có lực lượng quân sự. Muốn có lực lượng thì phải có tổ chức”(7). Vì vậy, Người đã cùng với Trung ương Đảng tập trung chỉ đạo xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, đáp ứng yêu cầu khởi nghĩa thắng lợi.

Trong quá trình chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, Người đã chỉ ra và giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa con ngườivũ khí; quan điểm xuyên suốt của Hồ Chí Minh là “người trước, súng sau”. Khi về nước để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng, có người đã đặt ra câu hỏi về việc lấy vũ khí ở đâu để tiến hành khởi nghĩa vũ trang toàn dân, Hồ Chí Minh đã trả lời: “Nếu chúng ta có vũ khí bây giờ, ai sẽ là người cầm vũ khí? Vì vậy, chúng ta phải về nước và động viên quần chúng. Khi nhân dân đứng lên, họ sẽ có vũ khí”(8). Quan điểm này khẳng định: yếu tố con người luôn giữ vai trò quyết định hàng đầu trong tiến trình xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời, thể hiện sự khác biệt hoàn toàn trong cách tiếp cận kiểu vũ khí luận của giới quân sự tư sản.

Trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng, với tư duy “vượt trước”, Nguyễn Ái Quốc đã rất chú trọng đến xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên nòng cốt. Người đã trực tiếp huấn luyện, bồi dưỡng và lựa chọn những cán bộ có tố chất “quân sự” như: Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Thái… cử đi học tập Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc) để làm hạt nhân cho các tổ chức vũ trang cách mạng sau này. Những đồng chí này đã trưởng thành và có đóng góp to lớn vào phát triển của các tổ chức vũ trang nói riêng và sự lớn mạnh của cách mạng Việt Nam nói chung.

Thực hiện chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, tháng 01-1941, đồng chí Lê Quảng Ba đã thành lập Đội du kích Pác Bó gồm 12 đội viên (11 nam, 01 nữ) ở bản Pác Bó (thuộc xã Trường Hà, Cao Bằng). Trong lễ thành lập, Hồ Chí Minh căn dặn: “Toàn đội phải đoàn kết, chấp hành kỷ luật tốt, khiêm tốn học hỏi, giúp nhau thực sự về chính trị, quân sự cũng như trong sinh hoạt, đối với dân phải như cá với nước”. Người cử đồng chí Lê Quảng Ba làm Đội trưởng, đồng chí Lê Thiết Hùng làm chính trị viên, đồng chí Trần Sơn Hùng (tức Hoàng Sâm) làm Đội phó. Đội du kích Pác Bó có Chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo, đồng chí Lê Thiết Hùng làm Bí thư Chi bộ. Nhờ sự chỉ đạo sát sao và hiệu quả của Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng, chỉ hơn một tháng sau khi đội du kích Pác Bó ra đời, đội du kích Bắc Sơn cũng được thành lập vào ngày 14-2-1941 tại khu rừng Khuổi Nọi (thuộc xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang cách mạng đã được xây dựng bài bản, chặt chẽ và đúng nguyên tắc; không ngừng lớn mạnh, trưởng thành; luôn tận trung với Đảng, tận hiếu với Dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp to lớn vào thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và tiến trình cách mạng Việt Nam sau này.

Để chăm lo phát triển, nâng cao chất lượng các đội du kích Pác Bó, Hồ Chí Minh yêu cầu: Cần tìm kiếm và tự tạo những loại vũ khí phù hợp; lựa chọn những nơi đóng quân an toàn và tổ chức huấn luyện kiến thức về chính trị, quân sự… cho đội viên. Người rất quan tâm và trực tiếp đề ra kế hoạch và viết các tài liệu: Cách đánh du kích, kinh nghim du kích Tàu, kinh nghiệm du kích Nga… làm tài liệu huấn luyện cho các đội du kích. Người trực tiếp soạn thảo 10 điều kỷ luật (sau này phát triển thành 10 lời thề của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và trở thành 10 lời thề danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam). Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho các đồng chí Lê Quảng Ba, Lê Thiết Hùng, Hoàng Sâm mở một lớp quân sự tập trung đầu tiên tại Pác Bó. Từ tháng 6 đến tháng 10-1941, “Hồ Chí Minh và Đảng bộ Cao Bằng đã chọn hơn 70 cán bộ gửi sang Trung Quốc học quân sự. Đây là những hạt giống cán bộ quân sự đầu tiên của căn cứ địa Cao Bằng, sau này là Cao - Bắc - Lạng và Khu giải phóng Việt Bắc”(9). Theo thống kê, từ năm 1941 - 1944, đã có khoảng 200 thanh niên từ Cao Bằng sang học các lớp huấn luyện về quân sự ở Điền Đông, Liễu Châu (Trung Quốc).

Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo, kế hoạch huấn luyện phù hợp, tài liệu học tập thiết thực, tinh thần và thái độ học tập nghiêm túc, chất lượng đội viên du kích từng bước được nâng lên, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ được giao, như: bảo vệ an toàn cơ quan lãnh đạo và cán bộ của Đảng; làm giao thông liên lạc, nối liền cơ quan đầu não tại Pác Bó với Đảng bộ tỉnh Cao Bằng tại Lam Sơn, Hồng Việt (Hòa An); vũ trang tuyên truyền trong quần chúng nhân dân và huấn luyện tự vệ chiến đấu ở địa phương, làm nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang sau này.

Trong quá trình chỉ đạo xây dựng các đội du kích và lực lượng vũ trang tập trung, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc giữ bí mật và dựa vào dân: “Phải hết sức giữ bí mật, ở đâu địch không biết, đến địch không hay. Dựa vào rừng núi là cần thiết, chủ yếu là dựa vào nhân sơn, nhân hải”(10). Với phương châm “người trước, súng sau”, chính trị trọng hơn quân sự, Hồ Chí Minh rất quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng về chính trị. Người chỉ đạo đồng chí Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp biên soạn hai tác phẩm: Chính trị viên trong quân đội cách mạngCông tác chính trị trong quân đội để các đội viên, nhất là đội ngũ cán bộ các cấp học tập, thực hành trong công tác hằng ngày.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và chỉ đạo của Hồ Chí Minh, tháng 02-1942, Đảng bộ tỉnh Cao Bằng mở nhiều lớp huấn luyện quân sự cấp tỉnh để đào tạo cán bộ quân sự cho phong trào cách mạng. Sau các khóa học, đội viên trở về huấn luyện cho lực lượng vũ trang địa phương. Bên cạnh việc phát triển lực lượng vũ trang khu vực Cao - Bắc - Lạng, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quân sự được Người đặc biệt chú trọng. Người phân công đồng chí Cao Hồng Lĩnh lập trạm liên lạc ở Trung Quốc để đưa đón cán bộ sang học tập chính trị.

Hồ Chí Minh chỉ thị mở phong trào Nam tiến, phát triển các con đường để quần chúng nối liên lạc ra các địa bàn mới. Từ cuối năm 1942, theo đà phát triển của phong trào Việt Minh, việc luyện tập quân sự trở nên sôi nổi trong phạm vi toàn tỉnh Cao Bằng. Để có cán bộ huấn luyện quân sự, các đội viên Đội du kích Pác Bó đã phân tán về các địa phương làm nhiệm vụ. Đội du kích Pác Bó chỉ tồn tại khoảng hai năm, song đây là cơ sở thực tiễn quan trọng để Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân.

Tháng 5-1944, Tổng bộ Việt Minh xuất bản tác phẩm Chiến thuật du kích (còn gọi là Cách đánh du kích) với 13 chương do Hồ Chí Minh biên soạn. Trong tác phẩm, Người đề ra những quan điểm cơ bản khi khẳng định: cách đánh du kích nói riêng và đường lối quân sự nói chung phải được xây dựng trên cơ sở đường lối chính trị đúng đắn, tức là phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, có mục tiêu chiến đấu rõ ràng và nhất thiết phải gắn kết chặt chẽ với quần chúng cách mạng: “Du kích như cá, dân chúng như nước. Cá không có nước thì cá chết, du kích không có dân chúng thì du kích chết”(11); lực lượng du kích nhất thiết phải xây dựng các căn cứ địa; du kích phải có lối đánh tài giỏi, dựa theo 4 nguyên tắc: giữ quyền chủ động, hết sức nhanh chóng, giữ thế tấn công, kế hoạch thích hợp và chu đáo; đánh du kích phải có bốn mẹo lớn: tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, náo phía Đông, đánh phía Tây, tránh trận gay go không chết sống giữ đất, hóa chỉnh vi linh (nghĩa là phân tán) hóa linh vi chỉnh (nghĩa là tập trung), mình yên đánh quân thù động, mình khỏe đánh quân thù mệt(12). Đây là những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về chiến tranh du kích trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh giải phóng.

Đến tháng 12-1944, khi tình thế cách mạng có những chuyển biến mới, thời cơ giành độc lập dân tộc xuất hiện ngày một rõ hơn. Việc xây dựng một đội quân gồm các đội viên kiên quyết nhất, thoát ly khỏi sản xuất, được trang bị vũ khí, huấn luyện bài bản, sẵn sàng cho các trận đánh quan trọng trên cơ sở các đội du kích hiện có được đặt ra. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và giao đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp phụ trách. Chấp hành Chỉ thị của Người và sự chỉ đạo của Trung ương, với sự chuẩn bị khẩn trương, chu đáo về mọi mặt, ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, châu Nguyên Bình, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập. Đội gồm 34 chiến sĩ do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy, trong đó có 25 chiến sĩ là con em các dân tộc tỉnh Cao Bằng (đồng chí Xích Thắng tức Dương Mạc Thạch làm chính trị viên). Sự kiện Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay) được thành lập trên quê hương cội nguồn cách mạng, cũng như sự có mặt của 25 con em các dân tộc trên địa bàn tỉnh trong đội ngũ 34 chiến sĩ đầu tiên của Đội đã khẳng định những cống hiến to lớn của mảnh đất và con người Cao Bằng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Ngay sau khi thành lập, lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị: “Trong vòng một tháng phải có hoạt động gây tin tưởng cho các chiến sĩ và gây truyền thống hành động tích cực, nhanh chóng cho bộ đội”(13) và hạ quyết tâm “trận đầu ra quân phải đánh thắng”, mở đầu truyền thống quyết chiến quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong hai ngày 25 và 26-12-1944, Đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiến công tiêu diệt gọn hai đồn Phai Khắt, Nà Ngần. Chiến công đầu tiên này đã gây được tiếng vang lớn; nhiều địa phương cũng chủ động thành lập các đội vũ trang cách mạng, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, đóng góp trực tiếp cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

3. Kết luận

Với nhãn quan chính trị sắc sảo, kinh nghiệm hoạt động cách mạng phong phú, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã kiến giải thấu đáo về tình hình thế giới, trong nước, đưa ra nhận định sớm và chính xác về thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để Người và Trung ương Đảng đưa ra chủ trương phù hợp, xác định các nhiệm vụ chủ yếu cần tập trung chỉ đạo nhằm chuẩn bị thực lực cách mạng, nhất là xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân để đón bắt thời cơ, giành chính quyền. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang cách mạng đã được xây dựng bài bản, chặt chẽ và đúng nguyên tắc; không ngừng lớn mạnh, trưởng thành; luôn tận trung với Đảng, tận hiếu với Dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp to lớn vào thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và tiến trình cách mạng Việt Nam sau này.

_________________

Ngày nhận bài: 26-12-2025; Ngày bình duyệt: 22-1-2026; Ngày duyệt đăng: 8-3-2026.

Email tác giả: truonghvct@gmail.com

(1) Vũ Anh: Những ngày gần Bác, trong sách: Đầu nguồn (tập hồi ký), Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, tr.234.

(2) Trần Đương: Hồ Chí Minh nhà dự báo thiên tài, Nxb Nghệ An, 2008, tr. 26.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đảng toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.100.

(4) Đỗ Hoàng Linh: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh (giai đoạn 1941 - 1945), Nxb Hồng Bàng, Gia Lai, tr.59.

(5) A Voóc Hồ: Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1977, tr.24.

(6) Võ Nguyên Giáp: Những năm tháng không thể nào quên, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970, tr.36.

(7) Hồ Chí Minh: toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.370.

(8), (12) Trần Thị Minh Tuyết: Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr.147, 73.

(9), (13) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.32, 69.

(10) Dẫn theo Phạm Chí Nhân: Nhà chiến lược quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.21.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Sđd, tr.500.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Lãnh tụ Hồ Chí Minh dự báo về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân
    POWERED BY