Quốc tế

Liên hợp quốc trong quản trị an ninh phi truyền thống: Quyền lực thể chế và giới hạn

• 29/09/2026 17:51

Tóm tắt: Bằng phương pháp phân tích văn kiện, truy tìm quá trình và so sánh cấu trúc giữa quản trị biến đổi khí hậu với quản trị an ninh mạng, bài viết làm rõ ba cấp độ vai trò và bốn cơ chế chuyển hóa quyền lực thể chế của Liên hợp quốc. Đóng góp của bài viết là xác lập chuỗi đánh giá từ đầu ra thể chế, kết quả trung gian đến tác động an ninh, qua đó chỉ ra Liên hợp quốc là trung tâm quản trị có điều kiện, không phải chính quyền toàn cầu. Từ kết quả so sánh, bài viết đề xuất Việt Nam gắn tham gia đa phương với nội địa hóa cam kết, quản trị dữ liệu, năng lực thực thi và đồng kiến tạo chuẩn tắc.

ThS BÙI ĐỨC KHÁNH
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

cdnphoto.dantri.com.vn-k2i24ts7hfmvo7g2lpp-_mjhvrg-thumb_w-1020-2025-09-21-_2025-09-11t210029z1860075229rc2xpgayxmr9rtrmadp3israel-palestinians-qatarjpg-1758447019199.jpg
Một phiên họp tại Liên hợp quốc_Ảnh: Reuters

1. Mở đầu

Biến đổi khí hậu, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia và rủi ro trong không gian mạng đang làm mờ ranh giới giữa an ninh, phát triển và quyền con người. Các thách thức lan truyền qua hệ sinh thái, chuỗi cung ứng và hạ tầng số, có thể gây gián đoạn đồng thời nhiều dịch vụ thiết yếu. Phạm vi ảnh hưởng và tính liên kết của chúng vì thế vượt quá năng lực xử lý đơn phương của bất kỳ quốc gia nào.

Liên hợp quốc có lợi thế thể chế đặc biệt nhờ tính đại diện gần như phổ quát, thẩm quyền bắt nguồn từ Hiến chương, mạng lưới cơ quan chuyên môn và khả năng kết nối quốc gia với các chủ thể ngoài nhà nước (United Nations, 1945). Tuy nhiên, vị thế pháp lý không tự động tạo ra hiệu quả. Liên hợp quốc không phải một chính quyền toàn cầu có quyền thu thuế, ban hành luật áp dụng trực tiếp hoặc cưỡng chế thống nhất trong mọi lĩnh vực. Quyền quyết định, phần lớn nguồn lực và năng lực thực thi vẫn thuộc về quốc gia; nhiều hạ tầng, dữ liệu và công nghệ then chốt lại do doanh nghiệp nắm giữ.

Câu hỏi nghiên cứu trung tâm là: trong điều kiện thiếu quyền lực cưỡng chế tập trung, Liên hợp quốc chuyển thẩm quyền, tri thức, thủ tục và tính chính danh thành kết quả quản trị an ninh phi truyền thống bằng cơ chế nào; các cơ chế vận hành khác nhau ra sao giữa các lĩnh vực và giới hạn nằm ở đâu? Câu trả lời giúp phân biệt quyền lực thể chế với quyền lực cưỡng chế, xác định điều kiện để đầu ra của tổ chức quốc tế tạo thay đổi, đồng thời định hướng cách tham gia đa phương dựa trên lợi ích và năng lực thực thi.

Bài viết so sánh quản trị biến đổi khí hậu và quản trị an ninh mạng. Hai trường hợp cùng có tính xuyên biên giới và phụ thuộc hợp tác, nhưng khác nhau rõ về khả năng đo lường, mức độ nhạy cảm chủ quyền, vai trò của chủ thể tư nhân và mức pháp lý hóa. Chế độ khí hậu đã hình thành chu kỳ tương đối ổn định từ khoa học, cam kết quốc gia, minh bạch đến kiểm kê toàn cầu. Quản trị an ninh mạng lại phân tuyến giữa thảo luận về hành vi có trách nhiệm của quốc gia trong bối cảnh an ninh quốc tế và hợp tác phòng, chống tội phạm mạng. Sự tương đồng cho phép nhận diện cơ chế chung; sự khác biệt tạo điều kiện kiểm tra giới hạn của các cơ chế ấy.

2. Nội dung

2.1. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp

a) Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống

Nghiên cứu thể chế tự do giải thích hợp tác quốc tế bằng khả năng của thể chế trong việc cung cấp thông tin, giảm chi phí giao dịch, tạo kỳ vọng lặp lại và hỗ trợ giám sát cam kết (Keohane, 1984). Cách tiếp cận này cho thấy vì sao các quốc gia vẫn hợp tác khi không có một quyền lực tối cao, nhưng dễ tập trung vào thiết kế thể chế mà chưa giải thích đầy đủ cách tri thức và tính chính danh định hình lợi ích.

Tiếp cận kiến tạo bổ sung bằng việc nhấn mạnh vòng đời chuẩn tắc: chuẩn tắc được khởi xướng, lan truyền, thể chế hóa và nội địa hóa thông qua diễn ngôn, thuyết phục và sức ép xã hội (Finnemore & Sikkink, 1998). Trong khi đó, nghiên cứu về bộ máy quốc tế chỉ ra tổ chức quốc tế có quyền lực chuyên môn và quyền lực phân loại, nhưng cũng có thể tạo ra quy tắc cứng nhắc, phân mảnh nhiệm vụ và thiên lệch quan liêu (Barnett & Finnemore, 2004).

Cách tiếp cận an ninh hóa làm rõ quá trình một vấn đề được diễn giải như mối đe dọa hiện hữu, từ đó mở rộng đối tượng bảo vệ và biện pháp ứng phó (Buzan & cộng sự, 1998). Để tránh mở khái niệm quá rộng, bài viết nhận diện an ninh phi truyền thống qua ba thuộc tính kết hợp: rủi ro vượt biên giới quốc gia hoặc ranh giới ngành; đối tượng bảo vệ gồm nhà nước, cộng đồng, cá nhân và dịch vụ thiết yếu; ứng phó đòi hỏi phối hợp công cụ pháp lý, kinh tế, khoa học, công nghệ và xã hội. “Phi truyền thống” không đồng nhất với “phi quân sự”, bởi rủi ro mạng vẫn có thể gắn với cạnh tranh chiến lược.

Khoảng trống đáng chú ý là nhiều đánh giá vẫn suy luận vai trò từ thẩm quyền chính thức, hoặc lấy sản phẩm thể chế làm bằng chứng về hiệu quả. Cách làm đó bỏ qua ba vấn đề. Thứ nhất, vai trò được trao trong văn kiện có thể khác vai trò thực tế mà tổ chức thực hiện. Thứ hai, một nghị quyết, bộ chỉ số hoặc cơ chế báo cáo mới chỉ là đầu ra; hiệu quả phụ thuộc vào việc chúng có thay đổi quy trình, năng lực và hành vi hay không. Thứ ba, cùng một cơ chế có thể cho kết quả khác nhau tùy đặc tính vấn đề: phát thải có thể ước lượng theo phương pháp chung, trong khi sự cố mạng khó quy kết và thường gắn với dữ liệu nhạy cảm. Bài viết khắc phục khoảng trống bằng khung phân tích theo cấp độ, cơ chế và chuỗi kết quả.

b) Khung lý thuyết và tiêu chí đánh giá

Quyền lực thể chế được hiểu là khả năng định hình nhận thức, quy tắc, quy trình và tập hợp lựa chọn thông qua thẩm quyền, tri thức, thủ tục và mạng lưới (Barnett & Finnemore, 2004). Khái niệm này khác quyền lực cưỡng chế: Liên hợp quốc thường không buộc chủ thể tuân thủ bằng một mệnh lệnh tập trung, nhưng có thể xác định vấn đề nào được ưu tiên, dữ liệu nào được coi là hợp lệ, hành vi nào được xem là phù hợp và ai có quyền tham gia quy trình ra quyết định. Quyền lực ấy có tính quan hệ, bởi hiệu quả phụ thuộc vào mức độ thừa nhận của quốc gia và các chủ thể liên quan.

Từ đó, cần phân biệt ba cấp độ vai trò. “Vai trò được trao” là chức năng, thẩm quyền ghi trong hiến chương, điều ước, nghị quyết hoặc quyết định của cơ quan liên chính phủ. “Vai trò được thực hiện” là những hoạt động thực tế như xây dựng báo cáo, tổ chức thương lượng, vận hành cơ chế hỗ trợ hoặc kết nối nguồn lực. “Vai trò được hiện thực hóa” là thay đổi có thể quan sát về chuẩn tắc, năng lực, quy trình, hành vi và cuối cùng là mức rủi ro. Phân biệt này ngăn việc suy luận rằng một thẩm quyền đã được ghi nhận đương nhiên được thực thi, hoặc một hoạt động đã diễn ra đương nhiên tạo ra tác động.

Bài viết xác định bốn cơ chế chuyển hóa quyền lực thể chế: Kiến tạo chuẩn tắc, gồm xác lập khái niệm, chính danh hóa nguyên tắc, thể chế hóa quy tắc và thúc đẩy nội địa hóa; triệu tập và điều phối, gồm xác định nghị trình, chủ thể, lịch trình hợp tác và xử lý giao thoa thể chế; huy động nguồn lực, gồm kết nối cam kết với tài chính, công nghệ, tri thức, dữ liệu và nhân lực; giám sát, học hỏi và hỗ trợ thực thi, gồm chuẩn hóa dữ liệu, báo cáo, rà soát, phản hồi và trợ giúp khắc phục. Các cơ chế không vận hành tách biệt: chuẩn tắc cung cấp mục tiêu cho điều phối; điều phối tạo điều kiện phân bổ nguồn lực; dữ liệu giám sát lại tạo sức ép điều chỉnh chuẩn tắc và chính sách.

Để tránh lấy hoạt động thay cho hiệu quả, bài viết đánh giá theo ba nấc. Đầu ra thể chế gồm văn kiện, diễn đàn, tiêu chuẩn, cơ sở dữ liệu, quỹ hoặc chương trình hỗ trợ. Kết quả trung gian gồm thay đổi về pháp luật, quy trình phối hợp, năng lực chuyên môn, mức minh bạch và hành vi tuân thủ. Tác động an ninh là thay đổi về phát thải, khả năng chống chịu, thiệt hại, thời gian phát hiện và khôi phục sự cố hoặc mức độ bảo vệ quyền. Quan hệ giữa các nấc không tuyến tính tuyệt đối, nhưng chuỗi này buộc đánh giá phải chỉ ra mắt xích chuyển hóa thay vì dừng ở mô tả hoạt động.

c) Phương pháp và lựa chọn trường hợp

Bài viết sử dụng phân tích văn kiện kết hợp truy tìm quá trình và so sánh có cấu trúc, tập trung vào giai đoạn từ khi Thỏa thuận Paris được thông qua năm 2015 đến ngày 20/8/2026. Nguồn tư liệu gồm điều ước, nghị quyết, quyết định hội nghị các bên, sổ đăng ký cam kết, báo cáo của cơ quan chuyên môn Liên hợp quốc và văn bản chính thức của Việt Nam. Các trường hợp được đối chiếu theo năm tiêu chí: mức độ đồng thuận chuẩn tắc; khả năng đo lường và kiểm chứng; mức độ pháp lý hóa; cấu trúc chủ thể và nguồn lực; sự tồn tại của vòng phản hồi. Phương pháp này không nhằm chứng minh quan hệ nhân quả duy nhất, mà xác định cơ chế có bằng chứng và điều kiện khiến chúng phát huy hoặc suy giảm tác dụng.

2.2. Cơ chế tác động của Liên hợp quốc qua hai lĩnh vực

a) Kiến tạo chuẩn tắc và tính chính danh

Trong quản trị khí hậu, Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu tổng hợp và đánh giá bằng chứng khoa học; Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu xác lập nguyên tắc trách nhiệm chung nhưng có phân biệt; Thỏa thuận Paris kết hợp mục tiêu nhiệt độ với đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), minh bạch và kiểm kê toàn cầu (United Nations Framework Convention on Climate Change, 2015). Báo cáo tổng hợp chu kỳ đánh giá lần thứ sáu kết luận hoạt động của con người, chủ yếu thông qua phát thải khí nhà kính, đã gây ra mức nóng lên khoảng 1,1°C trong thập niên 2011 - 2020 so với giai đoạn 1850 - 1900 (Intergovernmental Panel on Climate Change, 2023). Việc tri thức khoa học được chuyển thành ngưỡng mục tiêu chung cho thấy quyền lực nhận thức của hệ thống Liên hợp quốc.

Quyết định 1/CMA.5 về kiểm kê toàn cầu lần thứ nhất thừa nhận tiến bộ tập thể nhưng khẳng định thế giới chưa đi đúng hướng để đạt mục tiêu dài hạn; đồng thời kêu gọi tăng gấp ba công suất năng lượng tái tạo và tăng gấp đôi tốc độ cải thiện hiệu quả năng lượng toàn cầu vào năm 2030 (United Nations Framework Convention on Climate Change, 2024a). Đây là bước chuyển từ đánh giá khoa học sang định hướng chính sách, nhưng nội dung quyết định vẫn cần được phản ánh trong NDC, luật, đầu tư và kế hoạch ngành. Chuẩn tắc khí hậu vì thế vừa tạo sức ép danh tiếng, vừa để lại không gian đáng kể cho quốc gia tự xác định lộ trình.

Trong không gian mạng, phải phân biệt hai tuyến thể chế có đối tượng và logic pháp lý khác nhau. Tuyến an ninh quốc tế tập trung vào hành vi có trách nhiệm của quốc gia. Báo cáo đồng thuận A/76/135 khẳng định luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc áp dụng đối với hoạt động sử dụng công nghệ thông tin, đồng thời đề cao bảo vệ hạ tầng trọng yếu, biện pháp xây dựng lòng tin và hỗ trợ năng lực (United Nations General Assembly, 2021). Tuyến phòng, chống tội phạm mạng tập trung vào hình sự hóa hành vi, hợp tác tư pháp và chứng cứ điện tử. Phân biệt hai tuyến ngăn việc coi công cụ chống tội phạm là cơ chế giải quyết đầy đủ xung đột, tấn công do quốc gia bảo trợ hoặc vấn đề sử dụng vũ lực.

Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng được Đại hội đồng thông qua ngày 24/12/2024 và mở ký tại Hà Nội ngày 25/10/2025. Đến ngày 20/8/2026, Công ước có 81 bên ký, 3 quốc gia thành viên và chưa có hiệu lực vì cần 40 văn kiện phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc gia nhập (United Nations Treaty Collection, 2026a). Công ước tạo khuôn khổ toàn cầu về tội phạm mạng và hợp tác chứng cứ điện tử, song hiệu quả sẽ phụ thuộc vào nội luật hóa, đầu mối hoạt động liên tục và các bảo đảm pháp quyền. Sự tồn tại của một điều ước chưa đồng nghĩa đã hình thành đồng thuận về mọi khía cạnh của an ninh mạng.

b) Triệu tập và điều phối

Trong khí hậu, Công ước khung và Hội nghị các bên tạo lịch chính trị tương đối ổn định. NDC dung hòa chủ quyền với khả năng so sánh: quốc gia tự quyết định mức đóng góp nhưng công bố, cập nhật và giải trình trong khuôn khổ chung. Kiểm kê toàn cầu diễn ra định kỳ 5 năm, tổng hợp tiến độ tập thể để cung cấp đầu vào cho vòng cam kết tiếp theo (United Nations Framework Convention on Climate Change, 2024a). Thiết kế này không áp đặt một hạn ngạch duy nhất từ trên xuống, mà tạo một “vòng tham vọng” kết hợp tự quyết định với minh bạch và sức ép đồng cấp. Điểm yếu là không có bảo đảm rằng kết quả kiểm kê sẽ được chuyển đầy đủ vào quyết định ngân sách và đầu tư trong nước.

Trong tuyến an ninh quốc tế, đối thoại từng vận hành qua các Nhóm chuyên gia chính phủ và Nhóm công tác mở. Nghị quyết 80/16 của Đại hội đồng Liên hợp quốc xác lập Cơ chế toàn cầu thường trực về an ninh công nghệ thông tin và hành vi có trách nhiệm của quốc gia, hoạt động từ năm 2026 (United Nations General Assembly, 2025). Việc chuyển từ các tiến trình có thời hạn sang cơ chế thường trực làm tăng tính liên tục của đối thoại, hỗ trợ năng lực và tham gia của chủ thể liên quan. Tuy nhiên, đây mới là tiến bộ về thiết kế. Cơ chế chỉ tạo kết quả nếu duy trì tính bao trùm, giảm trùng lặp, tạo sản phẩm có thể sử dụng ở cấp quốc gia và quản lý được bất đồng giữa các nước lớn.

Song song với cơ chế liên chính phủ là Liên minh Viễn thông quốc tế, Cơ quan Phòng, chống ma túy và tội phạm Liên hợp quốc, Diễn đàn Quản trị Internet cùng nhiều thiết chế khu vực, kỹ thuật và tư nhân. Cấu trúc mạng lưới phù hợp với tính liên ngành của không gian mạng, nhưng có nguy cơ phân mảnh. Chỉ số An ninh mạng toàn cầu năm 2024 cung cấp khung so sánh về pháp lý, kỹ thuật, tổ chức, phát triển năng lực và hợp tác (International Telecommunication Union, 2024). Chỉ số có ích để xác định khoảng trống thể chế, song chủ yếu phản ánh mức cam kết và cấu trúc năng lực được khai báo.

c) Huy động và định hướng nguồn lực

Trong khí hậu, khoảng cách giữa nhu cầu và dòng vốn cho thấy giới hạn rõ nhất của quyền lực thể chế. Báo cáo Khoảng trống thích ứng năm 2025 ước tính nhu cầu tài chính thích ứng của các nước đang phát triển vào năm 2035 ở mức 310-365 tỷ USD mỗi năm, trong khi dòng tài chính công quốc tế năm 2023 chỉ khoảng 26 tỷ USD; khoảng thiếu hụt tương đương 12-14 lần dòng vốn hiện có (United Nations Environment Programme, 2025). Số liệu này không chỉ phản ánh thiếu nguồn lực mà còn đặt ra vấn đề về ưu tiên, khả năng tiếp cận, gánh nặng nợ, tiêu chí dự án và sự mất cân đối giữa giảm nhẹ với thích ứng.

Quyết định 1/CMA.6 tại Hội nghị lần thứ 29 các bên tham gia Công ước khung đặt hai tầng mục tiêu đến năm 2035: các nước phát triển đi đầu huy động ít nhất 300 tỷ USD mỗi năm cho các nước đang phát triển; đồng thời mọi chủ thể cùng nỗ lực mở rộng tài chính từ các nguồn công và tư lên ít nhất 1,3 nghìn tỷ USD mỗi năm (United Nations Framework Convention on Climate Change, 2024b). Khoảng cách giữa mục tiêu, nhu cầu và giải ngân cho thấy một nghịch lý: Liên hợp quốc có thể tạo tiêu chuẩn và diễn đàn cho cam kết, nhưng không kiểm soát quyết định ngân sách của quốc gia hay rủi ro của thị trường. Hiệu quả do đó phải đo cả khối lượng, tính dự báo, điều kiện tiếp cận và kết quả phát triển.

Trong an ninh mạng, nguồn lực cốt lõi không chỉ là thiết bị. Nó bao gồm nhân lực điều tra và pháp y số, năng lực ứng cứu, đầu mối hợp tác, quy trình bảo toàn chứng cứ, quản trị dữ liệu, tiêu chuẩn kỹ thuật và bảo vệ hạ tầng trọng yếu. Hỗ trợ quốc tế có thể thất bại nếu chỉ chuyển giao sản phẩm đóng mà thiếu tài liệu, đào tạo, quyền kiểm soát dữ liệu và khả năng bảo trì. Bởi vậy, Liên hợp quốc và các đối tác cần chuyển từ logic dự án ngắn hạn sang xây dựng năng lực theo nhu cầu quốc gia, có đường cơ sở, tiêu chí kết thúc và cơ chế học hỏi. Khả năng tự vận hành sau hỗ trợ là chỉ báo quan trọng hơn số lớp tập huấn hoặc giá trị thiết bị được bàn giao.

d) Giám sát, học hỏi và hỗ trợ thực thi

Trong vấn đề khí hậu, khung minh bạch tăng cường và kiểm kê toàn cầu tạo vòng phản hồi giữa báo cáo quốc gia, rà soát kỹ thuật và đánh giá tiến độ tập thể. Vòng phản hồi này là bước tiến quan trọng vì chuyển cam kết tự xác định thành thông tin có cấu trúc. Nhưng báo cáo tự thân không làm giảm phát thải hay thiệt hại. Dữ liệu chỉ tạo tác động khi được kết nối với quyết định năng lượng, sử dụng đất, giao thông, ngân sách, đầu tư và bảo trợ xã hội; đồng thời phải chỉ ra chủ thể chịu trách nhiệm điều chỉnh. Sự thiếu đồng bộ giữa số liệu kiểm kê, quy hoạch ngành và dòng vốn có thể làm suy yếu toàn bộ chu trình.

Trong không gian mạng, yêu cầu minh bạch gặp giới hạn khác. Dữ liệu sự cố có thể thuộc bí mật nhà nước, bí mật điều tra hoặc bí mật kinh doanh; công bố thiếu kiểm soát có thể làm lộ lỗ hổng, phương thức kỹ thuật hoặc dữ liệu cá nhân. Tuyến an ninh quốc tế vì thế chủ yếu dựa vào báo cáo tự nguyện, trao đổi quan điểm và biện pháp xây dựng lòng tin. Tuyến phòng, chống tội phạm mạng chú trọng khả năng tiếp nhận yêu cầu, bảo toàn, thu thập và chuyển giao chứng cứ điện tử theo pháp luật. Mục tiêu phù hợp không phải minh bạch tuyệt đối, mà là minh bạch có kiểm soát về đầu mối, năng lực, quy trình, tiêu chuẩn bảo vệ dữ liệu và cơ chế khiếu nại.

Giám sát chỉ bền vững khi đi cùng học hỏi và hỗ trợ thực thi. Một quốc gia có thể không đáp ứng tiêu chuẩn vì thiếu năng lực, vì xung đột pháp luật hoặc vì không có động cơ. Ba nguyên nhân cần ba phản ứng khác nhau: hỗ trợ kỹ thuật; hài hòa quy định và quy trình; hoặc tăng minh bạch, sức ép đồng cấp và trách nhiệm giải trình. Cách tiếp cận một mẫu cho mọi quốc gia dễ tạo tuân thủ hình thức. Do đó, Liên hợp quốc cần sử dụng dữ liệu để phân loại điểm nghẽn, kết nối hỗ trợ đúng nhu cầu và theo dõi việc khắc phục, thay vì chỉ mở rộng nghĩa vụ báo cáo.

2.3. Kết quả so sánh, điều kiện và giới hạn và hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Từ kết quả trên, có thể khái quát Liên hợp quốc là “trung tâm quản trị có điều kiện”: trung tâm vì tạo điểm quy chiếu chuẩn tắc và thủ tục cho hợp tác toàn cầu; có điều kiện vì không kiểm soát đầy đủ nguồn lực và hành vi thực thi. Khái niệm này tránh hai cực đoan: đề cao Liên hợp quốc như chủ thể có thể giải quyết mọi vấn đề, hoặc phủ nhận vai trò của tổ chức chỉ vì thiếu cưỡng chế.

Hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa tạo cơ sở để Việt Nam không chỉ thực hiện cam kết mà còn tham gia xây dựng thể chế. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng ngày 17/4/2026; Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 (Quốc hội, 2025; United Nations Treaty Collection, 2026b). Bối cảnh mới đòi hỏi chuyển trọng tâm từ tuyên bố cam kết sang năng lực nội địa hóa và đóng góp có bằng chứng.

a) Thiết lập cơ chế nội địa hóa cam kết có trách nhiệm

Mỗi cam kết quốc tế cần được chuyển thành ma trận thực thi gồm nghĩa vụ, cơ quan đầu mối, cơ quan phối hợp, thời hạn, nguồn lực, dữ liệu và chỉ báo kết quả. Cần phân biệt nghĩa vụ pháp lý với cam kết chính trị, tiêu chuẩn khuyến nghị và mục tiêu tự nguyện để tránh vừa bỏ sót trách nhiệm, vừa nội luật hóa quá mức cần thiết. Cơ chế rà soát định kỳ phải nhận diện xung đột giữa văn bản, điểm nghẽn thủ tục và tác động quyền con người. Kết quả rà soát nên được dùng để điều chỉnh kế hoạch, ngân sách và đề xuất quốc tế, qua đó hình thành vòng phản hồi giữa tham gia đa phương với cải cách trong nước.

Trong khí hậu, NDC cập nhật năm 2022 xác định mức giảm phát thải đến năm 2030 là 15,8% bằng nguồn lực trong nước và 43,5% khi có hỗ trợ quốc tế (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2022). Đến ngày 20/8/2026, Sổ đăng ký của Công ước khung vẫn ghi NDC 2022 là bản mới nhất của Việt Nam, trong khi NDC 3.0 giai đoạn 2026 - 2035 đang được xây dựng (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025; United Nations Framework Convention on Climate Change, 2026). Cần gắn mục tiêu cập nhật với đường cơ sở, quy hoạch ngành, khả năng huy động vốn, đo lường, báo cáo, thẩm định và chỉ tiêu thích ứng có thể kiểm chứng; tránh cam kết cao nhưng thiếu cấu trúc thực hiện.

Trong an ninh mạng, do Việt Nam tuyên bố Công ước không tự thi hành, việc phê chuẩn phải đi cùng rà soát có hệ thống giữa Công ước, Luật An ninh mạng năm 2025, pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, tương trợ tư pháp, bảo vệ dữ liệu và các điều ước liên quan (United Nations Treaty Collection, 2026b). Trọng tâm là chuẩn hóa khái niệm và quy trình chứng cứ điện tử; xác định thẩm quyền yêu cầu, tiếp nhận và phản hồi; bảo đảm tính hợp pháp, toàn vẹn, khả năng kiểm tra của chứng cứ; đồng thời duy trì các bảo đảm về quyền riêng tư, thủ tục công bằng và khắc phục khi quyền bị xâm phạm.

b) Tổ chức điều phối dựa trên dữ liệu và thời gian phản ứng

Điều phối liên ngành cần một đầu mối đủ thẩm quyền, nhưng không nên đồng nhất đầu mối với tập trung mọi dữ liệu. Cần xây dựng kiến trúc chia sẻ theo mục đích, phân quyền truy cập, nhật ký truy vết, quy tắc lưu giữ và trách nhiệm của người ra quyết định. Đối với sự cố xuyên biên giới, quy trình phải nối thông cảnh báo, ứng cứu kỹ thuật, bảo toàn chứng cứ, điều tra, tương trợ tư pháp và thông tin cho chủ thể bị ảnh hưởng. Hiệu quả cần được đo bằng thời gian phát hiện, xác minh, cô lập, khôi phục và phản hồi yêu cầu, cùng số điểm nghẽn được khắc phục; không đo chủ yếu bằng số cuộc họp hay văn bản phối hợp.

c) Quản trị vòng đời nguồn lực và phát triển năng lực nội sinh

Nguồn lực quốc tế phải được quản trị từ xác định nhu cầu, thiết kế, lựa chọn đối tác, thực hiện, đánh giá đến chuyển giao. Dự án khí hậu cần có đường cơ sở, cấu trúc vốn, phân bổ rủi ro, đánh giá tác động và tiêu chí chuyển dịch công bằng. Hợp tác an ninh mạng cần ưu tiên nhân lực, quy trình, tiêu chuẩn mở, quyền kiểm soát dữ liệu, chuyển giao tri thức và khả năng bảo trì; tránh phụ thuộc vào nhà cung cấp hoặc giải pháp không tương thích. Đánh giá phải chuyển từ đầu vào sang kết quả: lượng phát thải và thiệt hại giảm được; khả năng chống chịu của cộng đồng; thời gian xử lý sự cố; mức sẵn sàng của hạ tầng trọng yếu; chất lượng hợp tác tư pháp và tuân thủ bảo vệ dữ liệu.

d) Chuyển từ tiếp nhận sang đồng kiến tạo chuẩn tắc

Việt Nam có thể lựa chọn một số lĩnh vực ngách gắn lợi ích quốc gia với nhu cầu khu vực để đề xuất sáng kiến. Trong khí hậu, đó là thích ứng cho quốc gia ven biển, dữ liệu khí tượng, thủy văn lưu vực sông Mekong, cảnh báo sớm, chuyển dịch năng lượng công bằng và phương pháp đo lường tổn thất. Trong an ninh mạng, có thể phát huy dấu ấn Công ước Hà Nội bằng chương trình khu vực về chứng cứ điện tử, pháp y số, tương trợ tư pháp, chống lừa đảo xuyên biên giới và bảo vệ dữ liệu. Đề xuất cần dựa trên thực tiễn có thể kiểm chứng, có đối tác, nguồn lực và cơ chế đánh giá; tránh dàn trải sáng kiến vượt quá năng lực thực hiện.

Đồng kiến tạo chuẩn tắc đòi hỏi phối hợp chặt giữa cơ quan đối ngoại, cơ quan chuyên ngành, cơ quan lập pháp, địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cộng đồng chịu tác động. Trước đàm phán, cần xây dựng hồ sơ bằng chứng và phương án lợi ích; trong đàm phán, duy trì nhất quán giữa các diễn đàn; sau đàm phán, đánh giá mức độ phản ánh của kết quả vào pháp luật và chính sách trong nước. Chính sự nhất quán giữa cam kết quốc tế, năng lực thực thi và kết quả có thể kiểm chứng tạo nguồn chính danh cho vai trò của Việt Nam, đồng thời giúp bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trong quá trình định hình luật chơi.

3. Kết luận

Liên hợp quốc tạo giá trị gia tăng trong quản trị an ninh phi truyền thống qua kiến tạo chuẩn tắc; triệu tập và điều phối; huy động nguồn lực; giám sát, học hỏi và hỗ trợ thực thi. So sánh cho thấy quyền lực thể chế không đồng nhất với quyền lực cưỡng chế. Chế độ khí hậu có vòng phản hồi rõ hơn nhờ khả năng đo lường và chu kỳ định kỳ, nhưng bị giới hạn bởi khoảng cách tham vọng, tài chính và thực thi. An ninh mạng nhạy cảm hơn với chủ quyền, khó quy kết và phụ thuộc sâu vào hạ tầng tư nhân; thể chế hóa tăng nhưng vẫn phân tuyến.

Bài viết đề xuất khung đánh giá ba cấp độ vai trò và chuỗi từ đầu ra thể chế đến kết quả trung gian, rồi tác động an ninh. Theo đó, Liên hợp quốc là trung tâm quản trị có điều kiện: tổ chức tạo điểm quy chiếu, quy trình và năng lực hợp tác; hiệu quả cuối cùng phụ thuộc quốc gia và các chủ thể liên quan. Đối với Việt Nam, trọng tâm là nối cam kết quốc tế với nội địa hóa, dữ liệu, nguồn lực, thực thi, đánh giá và đóng góp trở lại diễn đàn đa phương; qua đó vừa bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, vừa nâng cao vị thế trong quản trị toàn cầu.

_________________

Ngày nhận bài: 21/8/2026; Ngày bình duyệt: 5/9/2026; Ngày quyết định đăng: 22/9/2026.

Email tác giả: buiduckhanh@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Barnett, M. N., & Finnemore, M. (2004). Rules for the world: International organizations in global politics. Cornell University Press.

Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025). Việt Nam chuẩn bị cập nhật cam kết khí hậu giai đoạn 2026-2035. https://mae.gov.vn.

Bộ Tài nguyên và Môi trường (2022). Đóng góp do quốc gia tự quyết định của Việt Nam, cập nhật năm 2022. https://unfccc.int/documents/622541.

Buzan, B., Wæver, O., & de Wilde, J. (1998). Security: A new framework for analysis. Lynne Rienner Publishers.

Finnemore, M., & Sikkink, K. (1998). International norm dynamics and political change. International Organization, 52(4), 887-917. https://doi.org/10.1162/002081898550789.

Intergovernmental Panel on Climate Change. (2023). Climate change 2023: Synthesis report. https://doi.org/10.59327/IPCC/AR6-9789291691647.

International Telecommunication Union. (2024). Global cybersecurity index 2024. https://www.itu.int.

Keohane, R. O. (1984). After hegemony: Cooperation and discord in the world political economy. Princeton University Press.

Quốc hội (2025). Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15. https://vanban.chinhphu.vn.

United Nations. (1945). Charter of the United Nations. https://www.un.org

United Nations Environment Programme. (2025). Adaptation gap report 2025: Running on empty. https://www.unep.org.

United Nations Framework Convention on Climate Change. (2015). Paris Agreement. https://unfccc.int.

United Nations Framework Convention on Climate Change. (2024a). Decision 1/CMA.5: Outcome of the first global stocktake. https://unfccc.int

United Nations Framework Convention on Climate Change. (2024b). Decision 1/CMA.6: New collective quantified goal on climate finance. https://unfccc.int.

United Nations Framework Convention on Climate Change. (2026). Nationally Determined Contributions Registry: Viet Nam. https://unfccc.int.

United Nations General Assembly. (2021). Group of Governmental Experts on advancing responsible State behaviour in cyberspace in the context of international security (A/76/135). https://docs.un.org/A/76/135.

United Nations General Assembly. (2025). Resolution 80/16 (A/RES/80/16). https://docs.un.org/A/RES/80/16.

United Nations Treaty Collection. (2026a). Convention against Cybercrime: Status of treaties. https://treaties.un.org

United Nations Treaty Collection. (2026b). Viet Nam: Ratification (C.N.143.2026.TREATIES-XVIII.16). https://treaties.un.org

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Liên hợp quốc trong quản trị an ninh phi truyền thống: Quyền lực thể chế và giới hạn