Thực tiễn

Một số mô hình kinh tế mới ở Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng: Thực tiễn và kinh nghiệm

27/08/2026 09:29

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5179
Tóm tắt: Từ kết quả khảo sát thực tiễn một số mô hình kinh tế mới tại khu vực phía Bắc, gồm kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn ở Quảng Ninh, công nghiệp công nghệ cao ở Bắc Ninh, logistics và cảng biển thông minh ở Hải Phòng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các mô hình này đang trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần thu hút đầu tư, nâng cao năng suất, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển bền vững. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nhân rộng các mô hình kinh tế mới trong thời gian tới.

TS TRẦN THỊ HÒE
TS NGÔ THỊ PHƯƠNG LIÊN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

dbnd.1cdn.vn-2026-05-15-_kcn.jpg
Khu công nghiệp Vân Trung, Bắc Ninh_Ảnh: daibieunhandan.vn

1. Mở đầu

Khu vực phía Bắc nước ta bao gồm hai vùng kinh tế quan trọng là Đồng bằng sông Hồng và Trung du, miền núi phía Bắc, có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và đối ngoại. Đây là khu vực tập trung nhiều trung tâm kinh tế lớn của cả nước, đồng thời cũng là địa bàn có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế cửa khẩu, kinh tế biển, logistics và du lịch sinh thái. Trong những năm gần đây, nhiều địa phương trong khu vực đã chủ động triển khai các mô hình kinh tế mới phù hợp với điều kiện phát triển của mình, điển hình là các mô hình kinh tế mới ở Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng. Những mô hình này bước đầu đã tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế địa phương, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại.

2. Nội dung

2.1. Khái niệm về các mô hình kinh tế mới ở Việt Nam

Các mô hình kinh tế mới hiện nay bao gồm nhiều hình thức phát triển khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và phát triển bền vững, trong đó kinh tế xanh hướng đến tăng trưởng gắn với bảo vệ môi trường và giảm phát thải khí nhà kính; kinh tế tuần hoàn thực hiện nguyên tắc giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế tài nguyên nhằm kéo dài vòng đời sản phẩm, giảm chất thải và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên; kinh tế chia sẻ và kinh tế nền tảng khai thác công nghệ số để kết nối người cung cấp và người sử dụng dịch vụ, tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực và mở rộng thị trường. Trong lĩnh vực nông nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao ứng dụng các thành tựu của công nghệ sinh học, Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng truy xuất nguồn gốc; Trong lĩnh vực công nghiệp, công nghiệp công nghệ cao là mô hình phát triển dựa trên việc ứng dụng các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như tự động hóa, robot, IoT, AI, Big Data, điện toán đám mây (Cloud Computing) và công nghệ số vào quá trình sản xuất và quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Mô hình này góp phần thúc đẩy chuyển đổi từ sản xuất thâm dụng lao động sang sản xuất thông minh, nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.

Ở Việt Nam, Văn kiện Đại hội XIII xác định: “Tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (ĐCSVN, 2021, tr.234-235). Nghị quyết số 57-NQ/TW (2024) cũng xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá chiến lược; Nghị quyết số 68-NQ/TW (năm 2025) khẳng định kinh tế tư nhân là một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, khuyến khích phát triển doanh nghiệp công nghệ và các mô hình kinh doanh mới. Kế thừa định hướng trên, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh việc “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số…” (ĐCSVN, 2026, tr.90-91).

Như vậy, từ góc độ lý luận, đến nay chưa có một khái niệm thống nhất về "mô hình kinh tế mới" trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam. Tuy nhiên, trên cơ sở các quan điểm được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIII, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân cùng các nghiên cứu về tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế số, có thể hiểu rằng mô hình kinh tế mới là phương thức tổ chức và phát triển nền kinh tế dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; sử dụng hiệu quả các nguồn lực theo hướng xanh, tuần hoàn và bền vững; tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cao hơn so với mô hình tăng trưởng truyền thống, đồng thời có khả năng thích ứng với bối cảnh hội nhập quốc tế và các xu hướng phát triển mới của thế giới. Theo cách tiếp cận đó, trong phạm vi bài viết này, các mô hình kinh tế mới được xem xét bao gồm mô hình kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn ở Quảng Ninh, mô hình công nghiệp công nghệ cao ở Bắc Ninh và mô hình logistics, cảng biển thông minh ở Hải Phòng.

2.2. Thực tiễn phát triển một số mô hình kinh tế mới ở Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng

Thứ nhất, mô hình kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn tại tỉnh Quảng Ninh

Một trong những nội dung nổi bật trong chiến lược tăng trưởng xanh của Quảng Ninh là phát triển hệ thống khu công nghiệp theo hướng sinh thái, hiện đại và phát thải thấp. Theo quy hoạch phát triển công nghiệp của tỉnh, Quảng Ninh đã quy hoạch 16 khu công nghiệp, ưu tiên thu hút các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và hạn chế các ngành có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Các khu công nghiệp như Sông Khoai, Bắc Tiền Phong, Nam Tiền Phong, Đông Mai và Việt Hưng được đầu tư đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hệ thống xử lý nước thải tập trung, giao thông nội bộ và hạ tầng số. Trong đó, Khu công nghiệp Sông Khoai được định hướng phát triển theo mô hình khu công nghiệp sinh thái, khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch, sử dụng hiệu quả năng lượng và tăng cường trao đổi phụ phẩm, chất thải giữa các doanh nghiệp nhằm hình thành các chuỗi sản xuất tuần hoàn.

Việc phát triển các khu công nghiệp sinh thái đã góp phần nâng cao chất lượng thu hút đầu tư. Giai đoạn 2024 - 2025, nhiều tập đoàn công nghệ lớn trong lĩnh vực điện tử, năng lượng và công nghiệp hỗ trợ tiếp tục đầu tư vào Quảng Ninh, thúc đẩy quá trình chuyển dịch từ khai thác tài nguyên sang công nghiệp chế biến, chế tạo có giá trị gia tăng cao.

Song song với phát triển công nghiệp xanh, Quảng Ninh đang từng bước chuyển dịch cơ cấu năng lượng theo hướng giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và tăng tỷ trọng các nguồn năng lượng sạch. Tỉnh ưu tiên phát triển các dự án điện khí LNG (Liquefied Natural Gas), điện gió ngoài khơi và điện mặt trời theo Quy hoạch điện VIII, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đầu tư hệ thống điện mặt trời mái nhà, sử dụng thiết bị tiết kiệm năng lượng và áp dụng các giải pháp quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh phát triển nguồn năng lượng mới, nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã triển khai hệ thống quản lý năng lượng, tự động hóa sản xuất và công nghệ số nhằm giảm tiêu hao điện năng và giảm phát thải khí nhà kính. Điều này không chỉ góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 mà còn nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của các thị trường xuất khẩu lớn.

Quảng Ninh cũng chuyển dịch mạnh sang phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo thay cho khai thác tài nguyên. Trong năm 2025, Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 10,58%, đóng góp 42,17% vào GRDP, tiếp tục giữ vai trò trụ cột, trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế địa phương. Toàn tỉnh có 2.300 doanh nghiệp thành lập mới, vượt 15% kế hoạch. Tổng vốn đầu tư trong nước ngoài ngân sách đạt 475.858 tỷ đồng, gấp 15,8 lần năm 2024; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ước đạt khoảng 1 tỷ USD (Thu Chung, 2025). Trong các doanh nghiệp, việc áp dụng hệ thống quản lý môi trường ISO 14001, sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, tự động hóa và chuyển đổi số ngày càng phổ biến. Đối với ngành than, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã đầu tư nhiều công nghệ khai thác hiện đại, xử lý nước thải mỏ, hoàn nguyên môi trường và phủ xanh bãi thải, góp phần giảm đáng kể tác động tiêu cực đến môi trường.

Không chỉ trong công nghiệp, Quảng Ninh còn phát triển nông nghiệp hữu cơ, nuôi trồng thủy sản theo tiêu chuẩn VietGAP, đồng thời xây dựng các mô hình du lịch sinh thái tại Hạ Long, Yên Tử, Bình Liêu và Cô Tô, qua đó tạo sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Kinh tế tuần hoàn đang từng bước trở thành định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển của Quảng Ninh. Tỉnh khuyến khích doanh nghiệp tận dụng tro xỉ nhiệt điện, đất đá thải mỏ và phế thải xây dựng làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, san lấp và xây dựng hạ tầng, góp phần giảm khai thác tài nguyên thiên nhiên và giảm lượng chất thải phải xử lý. Quảng Ninh tiếp tục đầu tư các nhà máy xử lý rác bằng công nghệ hiện đại, mở rộng phân loại rác tại nguồn và tăng cường tái sử dụng, tái chế chất thải trong các khu công nghiệp, khu đô thị và khu du lịch. Đồng thời, tỉnh thúc đẩy sự liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp môi trường và doanh nghiệp tái chế nhằm hình thành chuỗi giá trị tuần hoàn, phù hợp với Đề án phát triển kinh tế tuần hoàn của Chính phủ.

Thứ hai, mô hình công nghiệp công nghệ cao tại tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh được xem là một trong những địa phương tiêu biểu của Việt Nam trong phát triển công nghiệp công nghệ cao và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu. Từ một tỉnh có quy mô kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, sau hơn hai thập niên thực hiện chiến lược thu hút FDI, Bắc Ninh đã trở thành trung tâm sản xuất điện tử, công nghệ thông tin và công nghiệp chế biến, chế tạo hàng đầu cả nước. Mô hình phát triển của tỉnh được xây dựng trên ba trụ cột: thu hút FDI chất lượng cao, phát triển công nghiệp công nghệ cao và thúc đẩy sản xuất thông minh gắn với chuyển đổi số.

Điểm nổi bật trong mô hình phát triển của Bắc Ninh là chiến lược thu hút FDI có chọn lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghệ sạch và có giá trị gia tăng lớn. Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh cả năm 2025 ước đạt 157.010 tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ. Trong đó, quý 4 ước đạt 45.428,7 tỷ đồng, tăng 22,1% so với cùng kỳ, vốn ngoài Nhà nước ước đạt 51.698,6 tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm 2024. Tỉnh luôn nằm trong nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài (Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2026). Đặc biệt, Bắc Ninh là cứ điểm sản xuất của nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như: Samsung, Canon, Amkor Technology, Foxconn, Goertek, Hanwha và nhiều doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ và châu Âu. Hệ sinh thái này đã tạo nên cụm liên kết ngành điện tử quy mô lớn, góp phần đưa Bắc Ninh trở thành địa phương có giá trị xuất khẩu thuộc nhóm cao nhất cả nước. Không chỉ thu hút vốn đầu tư, Bắc Ninh còn định hướng lựa chọn các dự án có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, thân thiện với môi trường và có khả năng lan tỏa công nghệ cho doanh nghiệp trong nước. Đây là bước chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang chú trọng chất lượng theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Song song với thu hút FDI, Bắc Ninh đang đẩy mạnh phát triển mô hình sản xuất thông minh (Smart Manufacturing) theo xu hướng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nhiều doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước đã đầu tư hệ thống sản xuất tự động, robot công nghiệp, AI, IoT, Big Data và hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) nhằm tối ưu hóa quy trình sản xuất. Tại các nhà máy của Samsung, Canon hay Amkor Technology, nhiều công đoạn sản xuất đã được tự động hóa ở mức cao, kết nối dữ liệu theo thời gian thực, giúp nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng ứng dụng công nghệ số trong quản lý chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chất lượng, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường toàn cầu.

Bắc Ninh cũng chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Nhiều chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ, chuyển đổi số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được triển khai, tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia.

Thứ ba, mô hình logistics và cảng biển thông minh tại thành phố Hải Phòng

Là cửa ngõ ra biển lớn nhất khu vực phía Bắc, Hải Phòng giữ vai trò trung tâm logistics, cảng biển và vận tải biển quốc gia, đồng thời là đầu mối kết nối giữa vùng đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc với thị trường quốc tế. Năm 2025, tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng tiếp tục duy trì ở mức hai con số, khẳng định tiềm lực và sự phát triển bền vững của Hải Phòng. Tốc độ tăng trưởng GRDP của thành phố năm 2025 ước đạt 11,81%, đứng thứ hai toàn quốc (sau Quảng Ninh) và đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong 06 thành phố trực thuộc Trung ương. Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn ước tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước, đạt khoảng 43,7% GRDP và tăng trưởng khá ở cả ba khu vực (khu vực nhà nước, khu vực ngoài nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài). Vốn đầu tư công năm 2025 của thành phố đạt khoảng 39.298 tỷ đồng, tăng 28% so với cùng kỳ năm trước. Trong năm 2025, sản lượng hàng hóa thông qua cảng ước đạt 213 triệu tấn, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2024; doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước 172.744 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2024, vượt kế hoạch năm là 172.526,1 tỷ đồng (Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, 2025). Các tuyến cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái, cầu Tân Vũ - Lạch Huyện cùng hệ thống cảng nước sâu đã tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa giữa Hải Phòng với Hà Nội, Quảng Ninh và các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc. Điểm nổi bật của Hải Phòng là đẩy mạnh xây dựng cảng biển thông minh (Smart Port). Trong năm 2025, Hải Phòng đã hoàn thành và đưa vào hoạt động đồng bộ các bến từ 1 - 6 Cảng quốc tế Lạch Huyện; khởi công xây dựng Nhà ga hành khách T2 Cảng Hàng không quốc tế Cát Bi; tập trung phát triển các trung tâm logistics quy mô lớn theo hướng hiện đại. Các doanh nghiệp khai thác cảng như Cảng Hải Phòng và Cảng quốc tế Lạch Huyện đã từng bước ứng dụng công nghệ số trong quản lý khai thác, điều hành phương tiện, giám sát container và quản lý chuỗi logistics. Nhiều công nghệ hiện đại như hệ thống quản lý cảng (Terminal Operating System - TOS), nhận dạng tự động (RFID), AI, camera thông minh và Big Data đã được triển khai nhằm tối ưu hóa hoạt động bốc xếp, giảm thời gian thông quan và nâng cao hiệu quả khai thác cảng. Đồng thời, việc kết nối dữ liệu giữa doanh nghiệp cảng, hải quan, doanh nghiệp logistics và hãng tàu thông qua nền tảng số giúp giảm đáng kể thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí và tăng tính minh bạch trong quản lý.

Một trong những yếu tố tạo nên thành công của mô hình logistics Hải Phòng là phát huy vai trò trung tâm liên kết vùng. Việc kết nối giữa các khu công nghiệp, khu kinh tế, trung tâm logistics và hệ thống cảng biển đã hình thành chuỗi cung ứng liên vùng tương đối hoàn chỉnh, tạo điều kiện để doanh nghiệp giảm chi phí vận tải, rút ngắn thời gian giao hàng và nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, Hải Phòng đang phối hợp với Quảng Ninh và các địa phương trong vùng Đồng bằng sông Hồng phát triển hành lang kinh tế ven biển, logistics xanh và hệ thống vận tải đa phương thức, phù hợp với định hướng phát triển vùng trong Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030.

2.3. Đánh giá khái quát về các mô hình kinh tế mới ở các tỉnh khu vực phía Bắc Việt Nam

a) Những kết quả đạt được

Một là, các mô hình kinh tế mới đã từng bước trở thành động lực tăng trưởng mới của nhiều địa phương. Nếu như trước đây tăng trưởng kinh tế của nhiều tỉnh phía Bắc chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ hoặc sản xuất nông nghiệp truyền thống thì hiện nay động lực tăng trưởng đang dịch chuyển sang các lĩnh vực có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao.

Hai là, các mô hình kinh tế mới góp phần nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư và hình thành các cực tăng trưởng mới. Thông qua việc cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện kết cấu hạ tầng và ưu tiên thu hút các dự án công nghệ cao, nhiều địa phương đã trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Dòng vốn đầu tư này không chỉ bổ sung nguồn lực cho phát triển mà còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới phương thức quản trị và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế địa phương.

Ba là, các mô hình mới góp phần nâng cao năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng. Việc ứng dụng công nghệ số, tự động hóa (automated), AI, IoT, Big Data và các mô hình quản trị hiện đại đã giúp nhiều doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm chi phí, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Trong nông nghiệp, việc hình thành các chuỗi giá trị, mở rộng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và ứng dụng công nghệ cao đã nâng cao giá trị gia tăng của nông sản, từng bước chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp.

Bốn là, các mô hình kinh tế mới tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân. Sự phát triển của các khu công nghiệp công nghệ cao, trung tâm logistics, các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa và ngành dịch vụ mới đã tạo ra hàng trăm nghìn việc làm trực tiếp và gián tiếp, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Đồng thời, các chương trình như OCOP, phát triển du lịch nông nghiệp và kinh tế tuần hoàn cũng mở ra nhiều cơ hội việc làm tại khu vực nông thôn, góp phần giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng.

b) Một số khó khăn, hạn chế

Thứ nhất, sự phát triển giữa các địa phương còn thiếu đồng đều. Các mô hình kinh tế mới chủ yếu tập trung ở một số địa phương có điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý, hạ tầng và khả năng thu hút đầu tư như Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng, trong khi nhiều tỉnh miền núi vẫn gặp nhiều khó khăn trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Khoảng cách phát triển giữa các địa phương có xu hướng gia tăng nếu không có cơ chế hỗ trợ và điều phối vùng hiệu quả.

Thứ hai, nguồn nhân lực, tài chính chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Nhiều địa phương còn thiếu đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, lao động có trình độ về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn, logistics thông minh, công nghệ sinh học và nông nghiệp số. Chất lượng đào tạo nghề chưa theo kịp yêu cầu của doanh nghiệp, trong khi khả năng thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao còn hạn chế, nhất là ở các tỉnh miền núi.

Mặc dù đã thu hút được nhiều dự án đầu tư, song phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng, đầu tư đổi mới công nghệ và chuyển đổi số. Nguồn lực dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo ở nhiều địa phương còn thấp so với yêu cầu thực tiễn.

Thứ ba, hạ tầng số và hạ tầng khoa học - công nghệ chưa đồng bộ. Ở nhiều địa phương, đặc biệt là khu vực miền núi và vùng sâu, vùng xa, hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu, nền tảng số, hạ tầng logistics và các trung tâm đổi mới sáng tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển các mô hình kinh tế mới. Điều này ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ cao và kết nối thị trường.

Thứ tư, hệ thống chính sách và thể chế chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Một số quy định liên quan đến kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế nền tảng, đổi mới sáng tạo, dữ liệu số, chia sẻ dữ liệu và thử nghiệm mô hình kinh doanh mới còn thiếu hoặc chưa đồng bộ. Cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp và giữa trung ương với địa phương trong triển khai các mô hình kinh tế mới còn có những bất cập, làm giảm hiệu quả thực thi chính sách.

2.4. Hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Một là, nhân rộng mô hình kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn tại Quảng Ninh

Từ thực tiễn phát triển của Quảng Ninh có thể thấy chuyển đổi từ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên sang phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn là hướng đi phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư. Trong thời gian tới, Quảng Ninh cần tiếp tục mở rộng các khu công nghiệp sinh thái, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, phát triển năng lượng tái tạo, tăng cường tái sử dụng chất thải công nghiệp và hình thành các chuỗi sản xuất tuần hoàn trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Đồng thời, tỉnh cần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, dịch vụ xanh và du lịch sinh thái chất lượng cao. Đối với các địa phương có điều kiện phát triển tương đồng, kinh nghiệm của Quảng Ninh là cơ sở để xây dựng lộ trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh, gắn phát triển kinh tế với sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Hai là, nâng cao chất lượng phát triển công nghiệp công nghệ cao trên cơ sở phát huy lợi thế của Bắc Ninh

Thực tiễn phát triển của Bắc Ninh cho thấy thu hút đầu tư nước ngoài chỉ tạo động lực phát triển bền vững khi gắn với đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước. Trong giai đoạn tới, Bắc Ninh cần chuyển mạnh từ mục tiêu thu hút nhiều dự án sang thu hút có chọn lọc các dự án trong lĩnh vực bán dẫn, điện tử, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số và sản xuất thông minh; đồng thời tiếp tục phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, tỉnh cần ưu tiên đầu tư cho các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm R&D, đẩy mạnh hợp tác giữa doanh nghiệp với các trường đại học và viện nghiên cứu nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và từng bước làm chủ công nghệ lõi. Đối với các địa phương đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, kinh nghiệm của Bắc Ninh cho thấy cần chuyển từ tư duy cạnh tranh bằng ưu đãi đầu tư sang cạnh tranh bằng chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Ba là, xây dựng Hải Phòng trở thành trung tâm logistics và cảng biển thông minh của khu vực phía Bắc

Thực tiễn phát triển của Hải Phòng cho thấy đầu tư đồng bộ hạ tầng giao thông, cảng biển và logistics gắn với chuyển đổi số đã tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và tăng cường liên kết vùng. Trong thời gian tới, Hải Phòng cần tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống cảng nước sâu, các trung tâm logistics hiện đại và hạ tầng số phục vụ quản lý, khai thác cảng; mở rộng ứng dụng AI, IoT, Big Data và các nền tảng số trong quản lý chuỗi logistics nhằm giảm chi phí vận tải, rút ngắn thời gian thông quan và nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển. Đồng thời, thành phố cần tăng cường phối hợp với Quảng Ninh, Bắc Ninh và các địa phương trong vùng đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc để phát triển các hành lang kinh tế, kết nối chuỗi sản xuất - logistics - xuất khẩu, qua đó phát huy lợi thế của từng địa phương và hình thành cực tăng trưởng có sức lan tỏa đối với toàn vùng. Đây cũng là kinh nghiệm có thể tham khảo đối với các địa phương có lợi thế về kinh tế biển và logistics trong quá trình phát triển các mô hình kinh tế mới.

Bốn là, tăng cường liên kết vùng và hoàn thiện thể chế phát triển các mô hình kinh tế mới ở khu vực phía Bắc và trên phạm vi cả nước

Thực tiễn phát triển các mô hình kinh tế mới tại Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng cho thấy, mỗi địa phương đều có lợi thế riêng để phát triển kinh tế. Do đó, đối với đồng bằng, trung du và miền núi phía Bắc, cần xây dựng cơ chế điều phối phát triển vùng hiệu quả hơn, thúc đẩy liên kết giữa các địa phương trong quy hoạch không gian phát triển, đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chia sẻ dữ liệu và kết nối các chuỗi sản xuất - logistics - xuất khẩu. Đồng thời, cần hình thành các hành lang kinh tế, trung tâm đổi mới sáng tạo và mạng lưới logistics liên vùng, qua đó phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương và tạo động lực tăng trưởng mới cho toàn vùng; cần xây dựng cơ chế, chính sách đủ mạnh để thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hoàn thiện các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp công nghệ cao và logistics hiện đại; đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với cơ chế phối hợp vùng nhằm nâng cao hiệu quả quản trị phát triển. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần tăng cường chính sách hỗ trợ nhân rộng các mô hình phát triển hiệu quả, góp phần hình thành các cực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

3. Kết luận

Phát triển các mô hình kinh tế mới không chỉ là yêu cầu tất yếu của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng mà còn là giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu. Việc hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng hiện đại, tăng cường liên kết vùng và hỗ trợ doanh nghiệp sẽ tạo nền tảng để nhân rộng các mô hình kinh tế mới, góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng đã được xác định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

_________________

Ngày nhận bài: 03/8/2026; Ngày bình duyệt: 18/8/2026; Ngày quyết định đăng: 24/8/2026.

Email tác giả: hoetran1972@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2025). Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội tháng 12 và cả năm 2025 tỉnh Bắc Ninh, ngày 05/01/2026.

Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh (2025). Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh 2024. Nxb Thống kê.

ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Thu Chung (31/12/2025). Điểm sáng kinh tế Quảng Ninh năm 2025 - Kỳ vọng bứt phá năm 2026, https://www.quangninh.gov.vn

Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng (2025). Báo cáo Kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, ngày 02/12/2025.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Một số mô hình kinh tế mới ở Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng: Thực tiễn và kinh nghiệm