DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.7671
Tóm tắt: Lý luận về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với quản lý và sử dụng đất đai có vai trò quan trọng trong định hướng và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp về lĩnh vực này. Bài viết tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về khái niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm, mục tiêu, nội dung, phương pháp và cơ chế thực hiện; đồng thời phân tích các mối quan hệ trong quá trình thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai; thực tiễn quản lý, sử dụng đất đai góp phần hoàn thiện công tác này trong thời gian tới.
TS NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG
Vụ Địa bàn IIA, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương
TS TRỊNH MINH ĐẠT
Vụ Địa bàn IA, Cơ quan Ủy ban Kiểm tra Trung ương

1. Mở đầu
Trên cơ sở kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc xây dựng Đảng, việc quản lý, sử dụng đất đai tại Việt Nam luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng luôn đặc biệt quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, đồng thời luôn chú trọng chỉ đạo tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống lý luận về kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Đây là cơ sở quan trọng để tổ chức thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát trong quản lý và sử dụng đất đai, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước.
2. Nội dung
2.1. Khái niệm về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai
Kiểm tra là hoạt động có mục đích, cách thức tiến hành có tính cụ thể, sâu, có tính nghiệp vụ; quan hệ giữa chủ thể kiểm tra và đối tượng kiểm tra được thể hiện trong các quyết định kiểm tra và tiến hành theo các quy trình, thủ tục, tuân thủ hệ thống nguyên tắc chính trị - pháp lý - đạo đức chặt chẽ, toàn diện và xuyên suốt.
Kiểm tra của Đảng là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước (Ban Chấp hành Trung ương, 2025a). Công tác kiểm tra của Đảng có thể dẫn đến kỷ luật nếu tổ chức đảng, đảng viên có hành vi vi phạm nghiêm trọng.
Giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng quan sát, theo dõi, nắm bắt, xem xét, đánh giá, kết luận hoạt động nhằm kịp thời nhắc nhở để cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm, vi phạm (nếu có). Hình thức giám sát bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát chuyên đề; giám sát chuyên đề khi cần thiết thì thực hiện thẩm xác minh (Ban Chấp hành Trung ương, 2025a). Giám sát của Đảng chỉ có thể chuyển thành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm để xác định mức độ vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên.
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai là hoạt động của các tổ chức đảng nhằm quan sát, theo dõi, nắm bắt, xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai. Công tác này bảo đảm việc hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý và sử dụng đất một cách đồng bộ; quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên đất đai diễn ra đúng pháp luật, hiệu quả, công khai, minh bạch, phục vụ mục tiêu thúc đẩy sự ổn định, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ lợi ích của nhân dân.
2.2. Vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai
Mục tiêu của Đảng về quản lý và sử dụng đất đai đến năm 2030 là hệ thống pháp luật về đất đai cơ bản được hoàn thiện đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khắc phục bằng được tình trạng sử dụng đất lãng phí, để đất hoang hóa, ô nhiễm, suy thoái và những tồn tại, vướng mắc về quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại (Ban Chấp hành Trung ương, 2022).
Quan điểm của Đảng về quản lý và sử dụng đất đai là quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm lợi ích chung của toàn dân; nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất công bằng, công khai, hiệu quả và bền vững. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo lãnh thổ quốc gia, cả về diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường; phân công hợp lý giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương, đồng thời có sự phân cấp, phân quyền phù hợp, hiệu quả đối với địa phương và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát, xử lý vi phạm. Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu; quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai. Hiện đại hóa công tác quản lý, dịch vụ công về đất đai. Củng cố, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý đất đai tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, tập trung, đồng bộ, thống nhất. Giải quyết tốt những bất cập, vướng mắc trong quản lý và sử dụng đất do lịch sử để lại và từ yêu cầu mới của thực tiễn (Ban Chấp hành Trung ương, 2022).
Công tác kiểm tra, giám sát vừa là chức năng, vừa là phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng, là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng. Kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ của toàn Đảng, trước hết là của các cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng. Qua từng nhiệm kỳ đại hội Đảng toàn quốc, nhất là từ khi đổi mới đến nay, Đảng tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh nhận thức, quan điểm về công tác kiểm tra, giám sát; sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn và tăng cường chất lượng, số lượng ủy ban kiểm tra các cấp; chủ thể, đối tượng kiểm tra, giám sát ngày càng rõ và cụ thể hơn; nội dung kiểm tra, giám sát mở rộng hơn…
Nhìn chung, lý luận về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng ngày càng đầy đủ, cụ thể, chặt chẽ, khoa học, được “pháp quy hóa” trong Điều lệ Đảng, các nghị quyết Đại hội Đảng, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận, hướng dẫn, quy trình của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp, của Ủy ban Kiểm tra Trung ương và ủy ban kiểm tra các cấp. Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng nói chung và đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai luôn được đổi mới, tăng cường tương xứng, ngang tầm yêu cầu thực tiễn từng nhiệm kỳ, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng.
Thực trạng phức tạp của hệ thống pháp luật đất đai hiện nay cho thấy sự cần thiết trong phát huy vai trò của công tác kiểm tra của Đảng song hành với công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát trong quản lý nhà nước về đất đai. Tính phức tạp, thiếu thống nhất, còn nhiều khoảng trống chưa được điều chỉnh đã tạo nên những kẽ hở có thể lợi dụng trong chỉ đạo, quản lý, điều hành, khi đó công tác kiểm tra của Đảng sẽ phát huy hiệu quả rất tốt trong xử lý và ngăn ngừa tình trạng này. Đối với những vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra trước và sau khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 182-KL/TW ngày 29/7/2025 và Kết luận số 218-KL/TW ngày 24/11/2025 về quan điểm, chủ trương xử lý vi phạm pháp luật với mục đích là xử lý dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài nhằm nâng cao năng lực quản lý, công khai minh, bạch và tăng cường niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng.
Để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước, nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng hệ thống thể chế đồng bộ, trong đó Đại hội XIV đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu “tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn…, toàn diện trên mọi lĩnh vực” (ĐCSVN, 2026a, tr.143). Đối với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, Đại hội XIV đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, nhất là tăng cường giám sát thường xuyên. Kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới” (ĐCSVN, 2026b, tr.383-384).
2.3. Đặc điểm, mục đích của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai
Theo các văn bản hiện hành, có thể khái quát các đặc điểm chính về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng gồm: (1) Tính hệ thống và toàn diện (kiểm tra, giám sát mọi cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên); (2) Tính thường xuyên, liên tục, kết hợp kiểm tra theo chuyên đề và kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm; (3) Tính phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý (phát hiện sớm để ngăn chặn vi phạm, xử lý nghiêm minh, kịp thời); (4) Nguyên tắc công bằng, khách quan (mọi tổ chức và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ). (Ban Chấp hành Trung ương, 2011; Bộ Chính trị, 2022; Ban Chấp hành Trung ương, 2025b; Ban Chấp hành Trung ương, 2026).
a) Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai có các đặc điểm chung sau:
Thứ nhất, hệ thống tổ chức của Đảng được tổ chức theo đơn vị hành chính cấp xã (gồm: Xã, phường, đặc khu); cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cấp Trung ương. Đây là hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng có chức năng lãnh đạo toàn diện ở mỗi cấp và toàn Đảng (Ban Chấp hành Trung ương, 2025b). Điều này cho thấy hệ thống tổ chức của Đảng được thiết lập rộng khắp, gắn với các lĩnh vực của đời sống xã hội, qua đó bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước và xã hội theo quy định của Hiến pháp. Vì vậy, công tác kiểm tra, giám sát nói chung, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai nói riêng được thực hiện trong toàn hệ thống chính trị, gắn với hoạt động của từng tổ chức đảng và trách nhiệm của mỗi đảng viên.
Thứ hai, công tác kiểm tra, giám sát đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai được thực hiện với kỷ luật nghiêm minh, xuất phát từ việc các tổ chức đảng được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc, quy định và phương thức lãnh đạo thống nhất của Đảng.
Thứ ba, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai được thực hiện trên cơ sở Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng và theo Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Công tác này có tính độc lập tương đối, không trùng lặp và không thay thế chức năng kiểm tra, thanh tra, kiểm toán hay điều tra của các cơ quan nhà nước.
Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai được thực hiện trong nội bộ của tổ chức đảng. Tuy nhiên, gắn với vai trò lãnh đạo của Đảng, hoạt động này có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất giữa các hình thức kiểm tra, giám sát của Đảng với các hình thức hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị và xã hội, đặc biệt là với Nhà nước. Sự phối hợp này không chỉ nhằm bảo đảm uy tín, kỷ luật của Đảng trong những trường hợp đảng viên phạm tội hình sự cần được xử lý mà trong rất nhiều vụ việc kiểm tra, giám sát phức tạp, đòi hỏi chuyên môn sâu, có ứng dụng phương tiện khoa học, công nghệ khi cần thiết áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật...
b) Mục đích công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai là:
Một là, mục đích tổng quát: nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nói chung và công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai nói riêng, góp phần làm cho nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng bảo đảm tiết kiệm, bền vững, hiệu quả cao nhất.
Hai là, mục đích cụ thể: (1) Bảo đảm thực hiện đúng và có hiệu quả các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai; mỗi hoạt động công tác kiểm tra, giám sát phải đạt được các kết quả theo mục tiêu cụ thể đã đề ra; (2) Đạt được sự phân công hợp lý, rõ ràng nhiệm vụ, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, có tính hệ thống, thông suốt giữa cơ quan kiểm tra, giám sát của Đảng với cơ quan thanh tra, kiểm toán, công an, kiểm sát, tòa án trong thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai; (3) Xây dựng, củng cố, nâng cao nhận thức thống nhất và quyết tâm chính trị cao của các tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị; sự đồng thuận, ủng hộ và tham gia của xã hội vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai; (4) Qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai, hệ thống quan điểm, giải pháp về kiểm tra, giám sát tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với thực tế, hoàn thiện pháp luật, tổ chức bộ máy, nhân sự dưới sự lãnh đạo của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát nói chung, về công tác kiểm tra giám sát đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai nói riêng.
2.4. Nội dung và phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai
a) Nội dung công tác kiểm tra, giám sát đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai được tiếp cận theo quy trình chung: xây dựng chủ trương - tổ chức triển khai - kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
Một là, kiểm tra, giám sát việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản. Đây là nội dung nền tảng, mang tính định hướng chiến lược, xuất phát từ nhận thức khoa học về mâu thuẫn xã hội trong quản lý đất đai. Việc xây dựng và ban hành văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo về quản lý, sử dụng đất đai phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của cấp ủy, tổ chức đảng liên quan đến lĩnh vực đất đai.
Hai là, kiểm tra, giám sát công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Bảo đảm tính khoa học, công khai, minh bạch, hiệu quả và tính khả thi của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp, phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia và các quy hoạch ngành có liên quan. Quá trình lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai; tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục trong công tác quy hoạch.
Ba là, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nguyên tắc, quy trình trong quản lý đất đai. Mục tiêu bảo đảm tính minh bạch, công khai, dân chủ và đúng pháp luật trong các khâu của quá trình quản lý đất đai. Trọng tâm là giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; công tác định giá đất, đấu giá quyền sử dụng đất; cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... Tập trung vào trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện; trách nhiệm nêu gương; trách nhiệm giải trình; việc thực hiện chế độ kỷ luật, kỷ cương về đất đai nhằm thực hiện nghiêm các quy định về những điều đảng viên không được làm, về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên (Ban Chấp hành Trung ương, 2018; Ban Chấp hành Trung ương, 2021).
Bốn là, kiểm tra, giám sát công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong lĩnh vực đất đai. Nội dung này hiện là trọng tâm chính của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Mục tiêu cao nhất là phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm và lãng phí trong quản lý và sử dụng đất đai.
Năm là, kiểm tra, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nhằm bảo đảm việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai được thực hiện kịp thời, đúng pháp luật và hiệu quả, mục tiêu cuối cùng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân theo quy định của Luật Đất đai và Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo.
b) Phương pháp kiểm tra, giám sát
Phương pháp cơ bản trong công tác kiểm tra, giám sát nói chung và đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất nói riêng là hệ thống các cách thức cơ sở, gốc rễ, cốt yếu nhất được chủ thể kiểm tra, giám sát sử dụng thường xuyên, phổ biến, liên tục trong sự tổng thể liên thông, phối hợp, vận dụng các phương pháp khác theo quy định để tiến hành công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả; gồm năm phương pháp cơ bản sau (Cao Văn Thống, 2020): (1) Dựa vào tổ chức đảng; (2) Phát huy tinh thần tự giác của đảng viên; (3) Phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng; (4) Phối hợp với các cơ quan nhà nước và đoàn thể; (5) Thực hiện phương pháp thẩm tra, xác minh.
Ngoài ra, cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần tiến hành nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều 30, Điều 32, Điều lệ Đảng, với các phương pháp:
Giám sát thường xuyên: thông qua sinh hoạt cấp ủy, hoạt động của hội đồng nhân dân, phản ánh từ Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị và tổ chức chính trị xã hội và nhân dân, báo chí, dư luận; ứng dụng công nghệ, dữ liệu số trong theo dõi, phân tích dữ liệu đất đai, nhất là về quy hoạch đất đai...
Giám sát chuyên đề: giám sát theo chuyên đề, có thể mở rộng nội dung, đối tượng giám sát; lựa chọn vấn đề trọng tâm như: chuyển mục đích sử dụng đất, đấu giá đất, bồi thường tái định cư, quản lý đất công, đất rừng, đất ven biển... để xây dựng kế hoạch, tổ chức các đoàn giám sát rõ đối tượng, nội dung, thời gian.
Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm: chú trọng thu thập thông tin, hồ sơ, tài liệu, thẩm tra, xác minh, làm việc với tổ chức, cá nhân liên quan, bảo đảm nguyên tắc khách quan, chặt chẽ, thận trọng, đúng quy định; kết luận rõ vi phạm, trách nhiệm tập thể, cá nhân; xử lý nghiêm minh, kịp thời các vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên; đồng thời kiến nghị biện pháp khắc phục, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận sau kiểm tra, giám sát.
Kết hợp giữa kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột xuất: phối hợp chặt chẽ giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị và tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân.
2.5. Cơ chế trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai
Nhìn chung, cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên (cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra) đối với tổ chức đảng cấp dưới (cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, chi bộ) trong các cơ quan đảng trung ương, Quốc hội, Chính phủ, quân đội, công an, tỉnh ủy, thành ủy, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể các cấp. Về nguyên tắc, hình thức, phương pháp, thủ tục chung thì cơ bản giống nhau, nhưng về trình tự, cách thức và thẩm quyền cụ thể thì có sự khác nhau đối với từng tổ chức đảng trong từng cơ quan nói trên và ở từng cấp (trung ương, tỉnh, xã). Theo quy định của Đảng (Nghị quyết Trung ương 5 khóa X) thì cấp ủy, tổ chức đảng ở mỗi cấp phải ban hành quy trình kiểm tra của cấp mình cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị và tổ chức thực hiện. Cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới phải căn cứ quy trình, quy chế do cấp trên ban hành để vận dụng ban hành quy trình, quy chế ở cấp mình cho sát hợp.
Như vậy, cơ chế kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai có thể được hiểu là hệ thống các hoạt động, quy trình do cấp ủy, ban thường vụ, ủy ban kiểm tra cấp ủy các cấp thực hiện nhằm theo dõi, đánh giá và kiểm soát việc thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết và các quy định của Đảng về lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai; đồng thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực đất đai do cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai gây ra.
2.6. Mối quan hệ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai
a) Biểu hiện cụ thể của mối quan hệ trong quản lý và sử dụng đất đai:
Trong khâu hoạch định chủ trương, chính sách về đất đai: kiểm tra, giám sát cung cấp thông tin thực tiễn, phản ánh khó khăn, vướng mắc từ cơ sở, là căn cứ để cấp ủy lãnh đạo ban hành nghị quyết, chỉ thị phù hợp.
Trong khâu tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị về đất đai: kiểm tra, giám sát, bảo đảm việc triển khai đúng tiến độ, đúng quy trình; kịp thời phát hiện biểu hiện buông lỏng lãnh đạo, lợi dụng chủ trương để trục lợi.
Trong khâu tổng kết, rút kinh nghiệm: kiểm tra, giám sát giúp lượng hóa kết quả thực hiện, phát hiện những mô hình hay, cách làm tốt để nhân rộng; phát hiện khuyết điểm, vi phạm để nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa hoặc xem xét, xử lý. Qua đó, Đảng rút ra được bài học về quản lý, chỉ đạo trong từng giai đoạn, nâng cao năng lực hoạch định chính sách và năng lực tổ chức thực hiện.
b) Tác động hai chiều của mối quan hệ:
Tác động của công tác lãnh đạo, chỉ đạo đến hoạt động kiểm tra, giám sát: cấp ủy càng nhận thức rõ vai trò của kiểm tra, giám sát thì công tác này càng được đầu tư về nhân lực, phương pháp thực hiện. Lãnh đạo đúng hướng sẽ tạo điều kiện để kiểm tra, giám sát đi sâu, thực chất, không hình thức;
Tác động của kiểm tra, giám sát đến lãnh đạo, chỉ đạo: kết quả kiểm tra, giám sát là “tấm gương phản chiếu” hiệu quả lãnh đạo. Từ kết quả kiểm tra, lãnh đạo có thể điều chỉnh chủ trương, chấn chỉnh phương thức lãnh đạo, củng cố niềm tin của nhân dân. Ngược lại, nếu công tác kiểm tra, giám sát yếu kém, có tình trạng bao che, nể nang thì năng lực lãnh đạo bị suy giảm, thậm chí bị lợi dụng.
c) Những yêu cầu đặt ra để bảo đảm mối quan hệ hài hòa và hiệu quả:
Nhận thức đầy đủ, thống nhất trong toàn Đảng: phải coi kiểm tra, giám sát không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà là chức năng lãnh đạo. Khi cấp ủy coi trọng kiểm tra, giám sát như một công cụ lãnh đạo, mối quan hệ này mới trở nên thực chất.
Thể chế hóa rõ ràng mối quan hệ này trong quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước: quy định rõ trách nhiệm kiểm tra, giám sát của cấp ủy trong quản lý đất đai. Bảo đảm sự tương thích giữa quy định của Đảng và pháp luật về thanh tra, kiểm toán, kiểm tra đất đai. Tránh chồng chéo giữa kiểm tra của Đảng và thanh tra của Nhà nước nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát chặt chẽ quyền lực.
Nâng cao năng lực, bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ kiểm tra: cán bộ kiểm tra phải “trong sáng như gương, sắc bén như gươm” (Vũ Tuân, 2025), vững vàng về chính trị, tinh thông về nghiệp vụ, hiểu sâu về lĩnh vực đất đai. Có bản lĩnh đấu tranh, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Tăng cường công khai, minh bạch, ứng dụng công nghệ trong công tác kiểm tra, giám sát và kiểm tra, giám sát trên dữ liệu: xây dựng cơ sở dữ liệu số về đất đai và về kết quả kiểm tra, giám sát; kết nối thông tin giữa các cơ quan đảng - nhà nước - mặt trận. Minh bạch hóa kết quả kiểm tra, giúp nhân dân tham gia giám sát, góp phần “dân chủ hóa” quyền lực lãnh đạo của Đảng.
3. Kết luận
Một số vấn đề lý luận nêu trên là một phần của cơ sở lý luận về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nói chung và là những vấn đề chính, cơ bản về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với việc lãnh đạo, chỉ đạo quản lý và sử dụng đất đai nói riêng. Việc nghiên cứu, hệ thống các cơ sở lý luận về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng ngày càng được hoàn thiện, bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ, sát thực tế, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với giai đoạn phát triển mới, tạo cơ sở chính trị, pháp lý cho cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Có ý nghĩa làm cho nguồn lực đất đai được quản lý, khai thác, sử dụng bảo đảm tiết kiệm, bền vững, đạt hiệu quả cao nhất.
_________________
Ngày nhận bài: 07/4/2026; Ngày bình duyệt:7-5-2026; Ngày duyệt đăng: 12-5-2026.
Email tác giả: dat.cqubkt@gmail.com
Ban Chấp hành Trung ương (2011). Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ban Chấp hành Trung ương (2018). Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.
Ban Chấp hành Trung ương (2021). Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm.
Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 16/6/2022 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao”.
Ban Chấp hành Trung ương (2025a). Quy định số 294-QĐ/TW ngày 26/5/2025 về thi hành Điều lệ Đảng.
Ban Chấp hành Trung ương (2025b). Quy định số 296-QĐ/TW ngày 30/5/2025 quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Cao Văn Thống (2020). Hoàn thiện các phương pháp cơ bản thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Vũ Tuân (2025). Tổng Bí thư: Cán bộ kiểm tra phải trong sáng như gương, sắc bén như gươm. https://vnexpress.net.