DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1797
Tóm tắt: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra nhiều dự báo chính xác về những sự kiện quan trọng của thế giới và Việt Nam. Những dự báo đó được hình thành từ tư duy khoa học, sự vận dụng sáng tạo phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tầm nhìn chiến lược và khả năng nắm bắt quy luật vận động của thực tiễn. Bài viết phân tích thực trạng công tác nghiên cứu chiến lược trong Công an nhân dân hiện nay, từ đó đưa ra một số kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu chiến lược theo phương pháp luận về dự báo chiến lược của Hồ Chí Minh nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
TS BÙI THANH TUẤN
Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an, Bộ Công an

1. Mở đầu
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, lãnh tụ thiên tài của Đảng, của cách mạng Việt Nam. Người để lại di sản đồ sộ về tư tưởng, đạo đức, phong cách và phương pháp cách mạng, là tấm sáng ngời về phẩm chất đạo đức, tư tưởng, phong cách, phương pháp và lối sống, là hình tượng mẫu mực về trí tuệ uyên bác, nhãn quan sắc bén, năng lực tiên tri, dự báo, với sự am tường lịch sử, giá trị văn hóa dân tộc và thế giới. Thông qua nghiên cứu về những dự báo thiên tài có thể thấy, Hồ Chí Minh đã nắm vững quy luật vận động, xem xét sự vật, hiện tượng trong điều kiện cụ thể nhất định, một cách khách quan, toàn diện; Người dự báo được chiều hướng phát triển một cách khoa học dựa trên việc nắm vững, vận dụng sáng tạo lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin trên cơ sở kết hợp văn hóa Đông - Tây và vốn tri thức lịch sử và thực tiễn rộng lớn… là nội dung cốt lõi trong phương pháp luận về dự báo chiến lược. “Trong bối cảnh thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, bất ổn, khó lường (…) xuất hiện nhiều vấn đề rất mới, chưa có tiền lệ” (ĐCSVN, 2026, tr.45), việc nghiên cứu, nhận diện phương pháp luận về dự báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng với công tác dự báo của Đảng, của các cấp, các ngành, trong đó có công tác nghiên cứu chiến lược Công an nhân dân để góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
2. Nội dung
2.1. Phương pháp luận về dự báo chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh - định hướng, chỉ dẫn quan trọng cho công tác nghiên cứu chiến lược Công an nhân dân
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với tầm nhìn chiến lược và khả năng dự báo xuất sắc, thể hiện qua nhiều nhận định chính xác về những biến chuyển quan trọng của lịch sử thế giới và Việt Nam. Đáng chú ý là hai dự báo:
Thứ nhất, trong bài viết trên Báo Việt Nam độc lập (số 114, ngày 01/01/1942), trả lời câu hỏi: Năm nay tình hình thế giới và trong nước sẽ thế nào? Người đã đưa ra dự báo về thời cơ để tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền: “Ta có thể quyết đoán rằng, Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại. Anh - Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là một dịp rất tốt cho dân ta khởi nghĩa đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho Tổ quốc ta được độc lập, tự do” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.250-251). Khi viết “Lịch sử nước ta” tại mục “Những năm quan trọng” do Việt Minh Tuyên truyền Bộ xuất bản, tháng 02/1942, Hồ Chí Minh đã viết “1945 Việt Nam độc lập” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.267). Đúng như dự đoán, ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Thứ hai, trong bản thảo Diễn văn kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 15 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 02/9/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự báo: “chậm lắm là 15 năm nữa Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc Nam nhất định sẽ sum họp một nhà”. Trong bản Di chúc ngày 10/5/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.621). Mùa Xuân năm 1975, với thắng lợi vĩ đại của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà.
Có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà dự báo chiến lược thiên tài với tầm nhìn sâu rộng và năng lực nhận diện chính xác xu thế vận động của thời đại. Năng lực đó được hình thành từ nhãn quan chính trị sắc bén, sự am hiểu sâu sắc lịch sử, văn hóa và thực tiễn cách mạng cùng với sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là phương pháp luận duy vật biện chứng vào phân tích và dự báo các vấn đề của dân tộc và thế giới. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, nhiều dự báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được lịch sử chứng minh là đúng đắn. Những dự báo chính xác của Người dựa trên tư duy khoa học, nhận thức sâu sắc các quy luật vận động khách quan, xem xét sự vật, hiện tượng trong điều kiện lịch sử cụ thể, toàn diện và biện chứng. Từ đó, Người dự báo về xu hướng phát triển một cách khoa học; làm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, xác định mục tiêu, kế hoạch, tổ chức lực lượng và đề ra các quyết sách chiến lược, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Những giá trị cốt lõi trong phương pháp luận về dự báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm, năng lực của mỗi tổ chức, cá nhân trong công tác nghiên cứu khoa học, chiến lược, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và nâng cao chất lượng dự báo hiện nay. Việc nghiên cứu, vận dụng phương pháp luận về dự báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng với công tác dự báo của Đảng và cần được được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của các cấp, các ngành để góp phần đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi thời điểm, bối cảnh, tình hình trong và ngoài nước.
Trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược nhằm nhận diện kịp thời những biến động của tình hình trong nước, khu vực và thế giới, qua đó cung cấp cơ sở khoa học cho quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển đất nước. Việc đánh giá chính xác tình hình, phân tích sự vật, hiện tượng trong điều kiện lịch sử cụ thể, trên quan điểm khách quan, toàn diện và phát triển là nguyên tắc phương pháp luận được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng trong lãnh đạo cách mạng. Nhiều dự báo chiến lược của Người đã trở thành căn cứ quan trọng trong việc xây dựng đường lối của Đảng, góp phần vào những thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và những thành tựu của công cuộc 40 năm đổi mới đất nước.
2.2. Thực trạng và yêu cầu đổi mới công tác nghiên cứu chiến lược Công an nhân dân
Những năm qua, công tác nghiên cứu chiến lược trong Công an nhân dân đã có bước phát triển cả về tư duy, tổ chức và phương pháp nghiên cứu, từng bước khẳng định vai trò là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ tham mưu chiến lược cho Đảng, Nhà nước trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an đã quan tâm chỉ đạo đổi mới mạnh mẽ công tác nghiên cứu chiến lược, nâng cao chất lượng dự báo, tham mưu và hoạch định chính sách.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục phát triển nội dung dự báo chiến lược: “chủ động triển khai công tác nghiên cứu, dự báo đúng tình hình, kịp thời đề ra các chủ trương, đối sách xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ” (ĐCSVN, 2026, tr.54). Nhiều chương trình, đề án, chiến lược quan trọng đã được nghiên cứu, tham mưu xây dựng, trong đó có Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược tổng thể quốc gia về phòng ngừa, ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và nhiều đề án liên quan đến chuyển đổi số, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và bảo đảm an ninh con người (Bộ Chính trị, 2022; Bộ Công an, 2025).
Hiệu quả của công tác nghiên cứu chiến lược được thể hiện rõ trong việc cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ tham mưu với Đảng, Nhà nước xử lý nhiều vấn đề an ninh chiến lược nảy sinh trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, các thách thức an ninh phi truyền thống và quá trình chuyển đổi số quốc gia. Đặc biệt, việc xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và triển khai Đề án 06 đã tạo bước đột phá trong quản trị quốc gia, được Chính phủ đánh giá là một trong những điểm sáng của chuyển đổi số Việt Nam. Đến cuối năm 2025, hệ thống dữ liệu dân cư đã thu nhận trên 104 triệu hồ sơ công dân, cấp hơn 87 triệu thẻ căn cước công dân gắn chip và cung cấp hàng chục tiện ích phục vụ người dân, doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phòng ngừa tội phạm và bảo đảm an ninh, trật tự (Bộ Công an, 2025; Chính phủ, 2025). Đây cũng là minh chứng cho việc kết hợp giữa nghiên cứu chiến lược, ứng dụng khoa học công nghệ và thực tiễn quản lý an ninh quốc gia.
Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu chiến lược đã góp phần nâng cao năng lực nắm tình hình, dự báo và tham mưu xử lý các vấn đề an ninh từ sớm, từ xa. Năm 2025, lực lượng Công an nhân dân đã bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn các sự kiện chính trị, đối ngoại quan trọng của đất nước; chủ động phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn nhiều âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; xử lý hiệu quả các nguy cơ liên quan đến an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao và tội phạm xuyên quốc gia. Theo báo cáo của Bộ Công an, tỷ lệ điều tra khám phá án hình sự tiếp tục duy trì ở mức trên 75%, trong đó án rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đạt trên 90%; nhiều đường dây tội phạm công nghệ cao, lừa đảo xuyên quốc gia với quy mô đặc biệt lớn đã được phát hiện, triệt phá, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội (Bộ Công an, 2025). Những kết quả đó cho thấy công tác nghiên cứu chiến lược ngày càng phát huy vai trò là “tai mắt chiến lược”, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong bối cảnh mới.
Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, công tác nghiên cứu chiến lược trong Công an nhân dân có mặt chưa đáp ứng kịp đòi hỏi từ thực tiễn công tác, chiến đấu; trong khi đó, một số cấp ủy chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu chiến lược. Cùng với đó, việc ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là các thành tựu từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như: trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… trong nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác nghiên cứu chiến lược chưa mang lại hiệu quả cao. Trong khi đó, công tác nghiên cứu chiến lược Công an nhân dân đứng trước yêu cầu cần được nhanh chóng, kịp thời hơn; góp phần thống nhất nhận thức, tư duy trong xử lý nhiều vấn đề đối ngoại, đối nội, kể cả vấn đề nhạy cảm, phức tạp, không để xảy ra bị động, bất ngờ, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi để đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới. Điều này đòi hỏi lực lượng Công an nhân dân tập trung nâng cao năng lực nắm bắt, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình, tập trung tham mưu cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo triển khai nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác bảo vệ an ninh, trật tự, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững an ninh cơ sở.
Cùng với đó, sự phát triển mạnh mẽ của nhiều ứng dụng công nghệ mới, mở ra hướng mới trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự, tạo ra nhiều thuận lợi thay đổi căn bản cách thức, phương pháp tiến hành công tác nghiên cứu chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới. Trong khi đó, bối cảnh, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó đoán định với môi trường chính trị, kinh tế, an ninh liên tục bất ổn. Ở trong nước, sau 40 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là tình hình chính trị ổn định; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị đạt kết quả quan trọng; song phát triển chưa ổn định, thiếu bền vững. Hơn nữa, “từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất định hình cục diện thế giới mới, với cạnh tranh chiến lược nước lớn ngày càng gay gắt, quyết liệt, nhiều bất ổn, an ninh truyền thống, phi truyền thống diễn biến phức tạp; đây cũng là giai đoạn có tính quyết định thực hiện 2 mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành lập nước” (Báo Điện tử Chính phủ, 2025). Điều này đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ mới đối với công tác nghiên cứu chiến lược Công an nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới.
2.3. Một số kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu chiến lược của lực lượng Công an nhân dân
Thứ nhất, thống nhất nhận thức công tác nghiên cứu chiến lược của lực lượng Công an nhân dân tiếp tục “đi trước một bước”, với tính dự báo, tính khoa học, tính lý luận, tính thực tiễn và đưa ra những đánh giá, rút ra quy luật vận động của sự vật, hiện tượng dựa trên các căn cứ, cơ sở lý luận và thực tiễn tin cậy, vững chắc; dự báo xu hướng, đề xuất, tham mưu, kiến nghị sát, đúng, trúng, kịp thời các chiến lược, chính sách, kế hoạch, giải pháp… bảo đảm lợi ích, an ninh quốc gia. Theo đó, cần xác định rõ hơn về các yếu tố tác động, nguy cơ, thách thức, những khả năng, tình huống có thể xảy ra liên quan đến an ninh, trật tự để làm cơ sở đề ra quan điểm, định hướng giải pháp, đối sách phù hợp, hiệu quả và bảo đảm yêu cầu, đòi hỏi đặt ra cho nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, thống nhất, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, thúc đẩy việc nâng cao tính chủ động, nhanh chóng, kịp thời nắm bắt; đưa ra những dự báo, tham mưu chính xác… để định hướng tổ chức triển khai các nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng lực lượng Công an nhân dân; bảo đảm và đáp ứng tốt những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đối với công tác nghiên cứu chiến lược Công an nhân dân. Cùng với đó, các nội dung nghiên cứu chiến lược cần quán triệt sâu sắc đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng, bám sát nhiệm vụ của lực lượng Công an nhân dân; các đề xuất, giải pháp cần có tính tổng thể, toàn diện, giải quyết những vấn đề cơ bản, có tính chiến lược lâu dài nhưng cũng phải có tính cụ thể, thiết thực, giải quyết những vấn đề về sách lược, chiến thuật, phù hợp với thực tiễn bảo vệ an ninh, trật tự và sự phát triển bền vững, chất lượng cao của đất nước đang đặt ra.
Thứ ba, tập trung bám sát tình hình thực tiễn các mặt công tác công an để tổng kết, dự báo, luận giải những vấn đề mới từ bối cảnh tình hình thế giới, khu vực, trong nước; phạm vi không gian, địa bàn mới (không gian mạng, không gian vũ trụ, không gian kết nối…) và yêu cầu, nhiệm vụ mới trong bảo vệ an ninh, trật tự. Chủ động nhận diện sớm, rõ những yếu tố tác động đến an ninh, trật tự, nhất là những vấn đề có tính quy luật, các yếu tố ảnh hưởng đến sức mạnh, tiềm lực của lực lượng Công an nhân dân; những tác động tiêu cực đến chế độ xã hội chủ nghĩa, kinh tế, quốc phòng, đối ngoại, văn hóa, môi trường… và các lợi ích cốt lõi của quốc gia, dân tộc.
Thứ tư, tổ chức nghiên cứu, làm rõ các kiến thức mới về khoa học dự báo nhằm nâng cao năng lực, phương pháp làm việc nghiên cứu chiến lược trong sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp thu thập, xử lý thông tin; phương pháp dự báo; phương pháp xác định đối tượng, mục tiêu, phạm vi dự báo… Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác công an trong kỷ nguyên phát triển mới, trọng tâm là ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo… giúp tổng hợp, phân tích, đánh giá thông tin, dữ liệu phục vụ công tác nghiên cứu, tham mưu, dự báo chiến lược Công an nhân dân. Chú trọng xây dựng hệ thống số liệu và dữ liệu thông tin chuyên ngành trực tiếp phục vụ công tác nghiên cứu chiến lược. Cần nghiên cứu triển khai thực hiện các dự án, đề án chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu kết nối với công an các đơn vị, địa phương để thu thập, hệ thống hóa và chia sẻ thông tin đa dạng, đa chiều theo từng lĩnh vực, địa bàn… để “xây dựng bức tranh tổng thể” về các vấn đề an ninh, trật tự phục vụ tối ưu, hiệu quả cho công tác nghiên cứu chiến lược Công an nhân dân.
Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu chiến lược Công an nhân dân có năng lực chuyên môn cao, có tầm nhìn và khả năng dự báo. Đội ngũ cán bộ này cần được tập trung đào tạo, bồi dưỡng để có tư duy, năng lực, phương pháp luận về dự báo chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là am hiểu kinh tế - xã hội, đối ngoại và khoa học - công nghệ; có năng lực nghiên cứu chiến lược về xu thế vận động, điều chỉnh chính sách, sự phát triển, hoạt động của đối tác, đối tượng trên từng địa bàn, lĩnh vực phụ trách; có năng lực nghiên cứu, xây dựng, hoạch định những vấn đề có tính cơ bản, chiến lược về các mặt công tác công an nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn công tác, chiến đấu; chủ động nhận diện nguy cơ, thách thức với sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự để tham mưu với Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền địa phương chủ trương, đối sách hóa giải từ sớm, từ xa, ngay từ địa bàn cơ sở.
Thứ sáu, thực hiện cơ chế khuyến khích hoạt động sáng tạo và nghiên cứu khoa học trong đội ngũ cán bộ nghiên cứu chiến lược, từ đó phát triển tư duy độc lập, khả năng giải quyết vấn đề; khuyến khích đội ngũ cán bộ nghiên cứu chiến lược không ngừng học hỏi, nghiên cứu, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thúc đẩy văn hóa học tập suốt đời nhằm đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng phức tạp. Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ với bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp, tạo nền tảng để cán bộ nghiên cứu chiến lược hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, chú trọng giáo dục về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tinh thần trách nhiệm với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Bên cạnh đó, cùng với việc quy hoạch, phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực nghiên cứu chất lượng cao, cần có chiến lược đào tạo, với sự, đa dạng hóa các hình thức, kênh hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nghiên cứu chiến lược Công an nhân dân. Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu chiến lược về việc sử dụng thành thạo các thành tựu khoa học, công nghệ trong phân tích, đánh giá, nhận định tình hình thế giới, khu vực và trong nước liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự.
3. Kết luận
Thời gian qua, lực lượng Công an nhân dân đã chủ động, tiên phong trong công tác nghiên cứu chiến lược để chủ động nắm chắc, đánh giá, dự báo sát, đúng tình hình thế giới, khu vực, trong nước để tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước các chủ trương, giải pháp bảo vệ lợi ích, an ninh quốc gia và nâng cao vị thế, uy tín của đất nước; hoàn thiện quan điểm, đường lối, chính sách bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Để nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu chiến lược Công an nhân dân đáp ứng yêu cầu đặt ra, cần chú trọng việc nghiên cứu, quán triệt, vận dụng phương pháp luận về dự báo chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời với việc thực hiện đồng bộ, có hiệu quả nhiều giải pháp khác. Điều này cũng góp phần quán triệt đúng tinh thần “an ninh chủ động” của Đại hội XIV: “Chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời các tình huống về quốc phòng, an ninh, các vấn đề trật tự, an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống” (ĐCSVN, 2026, tr.114).
_________________
Ngày nhận bài: 09/5/2026; Ngày bình duyệt:16/6/2026; Ngày quyết định đăng: 6/7/2026.
Email tác giả: tbtthanhtuan@gmail.com
Ban Chỉ đạo Đề án 06 Chính phủ (2025). Báo cáo sơ kết thực hiện Đề án 06 giai đoạn 2022 - 2025 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030).
Báo Điện tử Chính phủ (2025). Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VIII. https://baochinhphu.vn.
Bộ Công an (2025). Báo cáo tổng kết công tác công an năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.
Bộ Chính trị (2022). Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 về đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
Chính phủ (2025). Báo cáo kết quả triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia (Đề án 06).
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. Hoàng Ngọc Hiếu (2022). Tư duy tổng hợp, khả năng dự báo và nắm vững quy luật vận động đối với cách mạng Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh. http://truongchinhtrils.vn.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. Phạm Văn Sơn (2021). Tư duy khoa học của Hồ Chí Minh qua những dự báo thiên tài. https://tapchi.vdi.org.vn.
Trương Anh Sáng (2022). Chủ tịch Hồ Chí Minh: Thiên tài dự báo tương lai cách mạng Việt Nam. https://vanhoavaphattrien.vn.
Bùi Thanh Tuấn (2025). Công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược Công an nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới. Tạp chí Công an nhân dân, số 10/2025 (Kỳ 3), tr.25-28.