Diễn đàn

Nâng cao hiệu quả hoạt động đối thoại với công nhân, người lao động

03/07/2026 11:11

Tóm tắt: Đối thoại với công nhân, người lao động là kênh quan trọng để các chủ thể lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, từ đó hoàn thiện và thực thi chính sách. Bài viết tập trung phân tích thực trạng hoạt động đối thoại giữa các chủ thể với công nhân, người lao động. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính thực chất của hoạt động đối thoại, góp phần bảo đảm quyền lợi chính đáng và khẳng định vai trò của giai cấp công nhân trong sự nghiệp phát triển đất nước.

ThS ĐINH CÔNG TUYẾN
Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí minh

đói thoại
Người lao động Công ty Supe Lâm Thao phát biểu ý kiến tại Chương trình Đối thoại tháng 5 về chấp hành kỷ luật lao động và an toàn vệ sinh lao động_Ảnh: IT

1. Mở đầu

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta luôn nhất quán xác định giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2008). Đây là cơ sở để Đảng ta định hướng bằng các nghị quyết lớn để phát triển giai cấp công nhân.

Hệ thống chính sách luôn hướng đến xây dựng giai cấp công nhân với phương châm: “Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của toàn dân tộc trong mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016).

Đối thoại tại nơi làm việc và đối thoại xã hội trở thành phương thức cốt lõi để phát huy quyền làm chủ, kịp thời lắng nghe, phản ánh và điều chỉnh chính sách đối với người lao động, đồng thời giải quyết các lợi ích từ sớm.

2. Nội dung

2.1. Quan điểm của Đảng và thực tiễn hoạt động đối thoại với công nhân, người lao động

Đối thoại là quá trình trao đổi thông tin giữa hai hay nhiều chủ thể trên tinh thần tôn trọng và lắng nghe lẫn nhau, nhằm làm rõ vấn đề, tìm kiếm tiếng nói chung, giải quyết mâu thuẫn và tăng cường sự hiểu biết giữa các bên. Bản chất của đối thoại là sự tương tác hai chiều, bình đẳng, cởi mở và mang tính xây dựng, không chỉ dừng lại ở việc trao đổi thông tin mà còn hướng tới tạo sự đồng thuận và hợp tác. Tiếp cận từ góc độ công tác dân vận, chủ trương của Đảng về hoàn thiện chính sách thông qua đối thoại với công nhân và người lao động gắn liền với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo “gần dân, sát dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân”, thể hiện ở những nội dung cốt lõi sau:

Thứ nhất, tăng cường đối thoại với công nhân, người lao động để hoàn thiện chính sách. Đảng xác định việc lắng nghe ý kiến của công nhân thông qua các hình thức đối thoại trực tiếp là kênh quan trọng để nắm bắt thực tiễn và kịp thời điều chỉnh chính sách. Tinh thần này được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 20-NQ/TW năm 2008 về Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 về Đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới, trong đó yêu cầu phát huy mạnh mẽ cơ chế đối thoại, thương lượng và phản biện xã hội để bảo vệ quyền lợi người lao động, đồng thời góp phần hoàn thiện chính sách lao động và an sinh xã hội.

Thứ hai, phát huy vai trò của công tác dân vận trong việc phản hồi và hoàn thiện chính sách. Theo tinh thần Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 về Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, các cấp ủy đảng và chính quyền phải tăng cường tiếp xúc, đối thoại với nhân dân, trong đó có công nhân và người lao động, để kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Qua đó, công tác dân vận trở thành kênh quan trọng giúp phản ánh thực tiễn đời sống lao động vào quá trình hoạch định và điều chỉnh chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc đối thoại và tiếp xúc với nhân dân, người lao động. Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý phản ánh, kiến nghị của dân yêu cầu cán bộ lãnh đạo phải thường xuyên tiếp dân, đối thoại trực tiếp để lắng nghe ý kiến và giải quyết kiến nghị của nhân dân. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng phong cách lãnh đạo gần dân, sát dân, đồng thời giúp các cơ quan lãnh đạo hoàn thiện chính sách sát hợp với thực tiễn đời sống của giai cấp công nhân và người lao động.

Thứ tư, coi đối thoại xã hội là kênh quan trọng để hoàn thiện thể chế và chính sách lao động. Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng ta chủ trương thúc đẩy cơ chế đối thoại, thông qua đó, những bất cập của chính sách lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, điều kiện làm việc… được phát hiện sớm và kịp thời điều chỉnh, qua đó bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, góp phần củng cố niềm tin của giai cấp công nhân đối với Đảng và Nhà nước.

Từ những định hướng lý luận nêu trên, thực tiễn tổ chức hoạt động đối thoại với công nhân, người lao động tại Việt Nam thời kỳ đổi mới đã ghi nhận những bước chuyển biến căn bản. Thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28/01/2008 về Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vai trò của giai cấp công nhân đã được tăng cường, thể hiện trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Đặc biệt, từ khi “Tháng Công nhân” chính thức được triển khai trên phạm vi cả nước từ năm 2012, các hoạt động chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân, người lao động được đẩy mạnh, gắn liền với việc quan tâm tổ chức đối thoại trực tiếp giữa người sử dụng lao động, tổ chức công đoàn và cơ quan quản lý nhà nước với giai cấp công nhân.

Chính phủ duy trì hoạt động đối thoại trực tiếp với giai cấp công nhân. Năm 2016, tỉnh Đồng Nai là địa phương đầu tiên được chọn để tổ chức buổi gặp mặt và đối thoại giữa Thủ tướng Chính phủ với 3.000 công nhân đại diện cho người lao động 8 tỉnh phía Nam, mở đầu cho hoạt động đối thoại thường niên đầy ý nghĩa này. Năm 2017, cuộc đối thoại được tổ chức tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung với hơn 2.000 công nhân tham dự, thể hiện tinh thần lắng nghe và chia sẻ của người đứng đầu Chính phủ đối với người lao động các khu công nghiệp ở khu vực này. Đến năm 2018, Hà Nam đánh dấu bước tiến với sự tham gia phối hợp của lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương và đại diện doanh nghiệp từ 11 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng, mở rộng phạm vi đối thoại, gắn kết chặt chẽ giữa Chính phủ, doanh nghiệp và công nhân. Năm 2019, tại Thành phố Hồ Chí Minh, cuộc gặp gỡ quy tụ đại diện các bộ, ban, ngành và 1.000 công nhân, lao động kỹ thuật cao đến từ các vùng kinh tế trọng điểm và 16 ngành công nghệ mũi nhọn của đất nước.

Trong hai năm 2020-2021, dù đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Thủ tướng Chính phủ vẫn chỉ đạo duy trì các cuộc đối thoại trực tuyến, bảo đảm không gián đoạn kênh thông tin giữa Chính phủ với công nhân và người lao động. Năm 2022, cuộc đối thoại tại Bắc Giang với hơn 4.500 công nhân và 63 điểm cầu trực tuyến trên cả nước đã khẳng định sự thích ứng linh hoạt của Chính phủ, mở rộng quy mô tiếp cận và tạo diễn đàn để công nhân trực tiếp phản ánh tâm tư, nguyện vọng đến người đứng đầu Chính phủ.

Năm 2023, phương thức đối thoại được đổi mới linh hoạt khi Thủ tướng trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với các đại biểu tham dự Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam, qua đó lắng nghe ý kiến của đại diện tiêu biểu cho hàng triệu đoàn viên, người lao động cả nước. Năm 2024, Thủ tướng tham dự Diễn đàn Nâng cao năng suất lao động quốc gia do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, tạo không gian đối thoại chính sách theo chiều sâu, nơi cán bộ công đoàn, đoàn viên và người lao động cùng đề xuất các giải pháp nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng tăng trưởng.

Khái quát hóa mô hình này, trong năm 2025, các công đoàn cơ sở trên phạm vi cả nước đã đồng loạt tổ chức “Đối thoại tháng 5”, tạo không gian để người đứng đầu cấp ủy, lãnh đạo doanh nghiệp trực tiếp lắng nghe, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho người lao động.

Đặc biệt, bước ngoặt về mặt thể chế chính là việc Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành Chương trình số 05/CT-BCH ngày 06/9/2024 về Nâng cao hiệu quả công tác đối thoại, thương lượng tập thể giai đoạn 2023-2028, qua đó tập trung tăng cường bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động, đồng thời góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và bền vững.

Qua các cuộc đối thoại, hàng loạt vấn đề bức thiết gắn với nhu cầu lao động và đời sống của công nhân đã được phản ánh trực tiếp, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoàn thiện và thực thi chính sách, pháp luật.

2.2. Những chuyển biến về chính sách qua các cuộc đối thoại với công nhân

Một là, cơ chế, hình thức đối thoại đã có sự đổi mới, hướng tới việc giải quyết thiết thực, hiệu quả tâm tư, nguyện vọng của công nhân, người lao động. Từ năm 2016 đến nay, cơ chế đối thoại với công nhân lao động đã chuyển từ hình thức lắng nghe trực tiếp sang phối hợp nhiều bên. Từ những cuộc gặp trực tiếp quy mô lớn tại Đồng Nai, Đà Nẵng, đến việc linh hoạt chuyển sang hình thức trực tuyến trong giai đoạn đại dịch Covid-19, và gần đây là tích hợp đối thoại vào các diễn đàn chuyên đề về năng suất lao động, đổi mới sáng tạo.

Phạm vi chủ thể tham dự cũng liên tục được mở rộng, người đứng đầu Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, đại diện công nhân, công đoàn địa phương, tập đoàn kinh tế. Nhờ đó, kết quả đối thoại không dừng lại ở mức độ khuyến nghị, gợi mở giải pháp mà đã gắn liền với các kết luận chỉ đạo cụ thể, mang tính ràng buộc trách nhiệm thực thi của chính quyền các cấp. Nội dung đối thoại cũng không còn “chung chung”, “theo lối mòn”, mà phản ánh sát nhu cầu thực tế, định hướng những chính sách thích ứng với chuyển đổi số.

Hai là, thông qua đối thoại, hệ thống chính sách, pháp luật có liên quan thiết thực đến đời sống, việc làm của công nhân lao động ngày càng được hoàn thiện. Đối thoại đã trở thành kênh thông tin phản hồi thực tiễn hữu hiệu để Nhà nước xây dựng, ban hành, sửa đổi chính sách, pháp luật như Bộ luật Lao động, Luật doanh nghiệp, Luật Công đoàn, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Bảo hiểm, Luật Bình đẳng giới… nhằm giải quyết nguyện vọng, đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu, cấp bách, cơ bản, lâu dài cho công nhân, lao động.

Điển hình như qua kênh nắm bắt ý kiến thực tiễn, Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 được sửa đồi nhiều lần, tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động, thiết lập quan hệ lao động giữa cảc chủ thể, điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến quan hệ lao động, như hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương, bảo hiểm xã hội, thời gian làm việc, vệ sinh lao động, kỷ luật lao động, giải quyết tranh chấp lao động, đình công, v.v.. Bộ luật Lao động năm 2019 đánh dấu bước tiến lớn trong việc bảo vệ quyền lợi công nhân khi mở rộng phạm vi điều chỉnh, trao quyền thành lập tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp, tối ưu hóa thời giờ làm việc, nghỉ ngơi và bổ sung các quy định đặc thù bảo vệ lao động nữ, nhóm yếu thế.

Đi vào các chiều cạnh dân sinh cụ thể, kết quả rõ nét nhất quá trình đối thoại là việc điều chỉnh tăng lương tối thiểu vùng, được thực hiện đồng bộ trong giai đoạn 2016-2020. Về vấn đề nhà ở xã hội, đến nay, hệ thống pháp luật về cơ bản đã được ban hành tương đối đầy đủ, đặc biệt là các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho việc phát triển nhà ở xã hội để giải quyết nhu cầu của công nhân lao động. Ngay sau khi Luật Nhà ở năm 2014 được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã ban hành nhiều nghị định để hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở có liên quan đến nhà ở xã hội, bao gồm: Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội; Nghị định số 49/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội. Chính phủ đã thông qua Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030, thể hiện quyết tâm giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân.

Về an sinh xã hội, trong hai năm 2020, 2021, khi công nhân lao động bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, Nhà nước đã kịp thời ban hành các gói chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, công nhân lao động, tiêu biểu như: Quyết định 3749/QĐ-TLĐ ngày 15/12/2021 về việc chi hỗ trợ cho đoàn viên, người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, Quyết định 33/2021/QĐ-TTg sửa đổi Quyết định 23/2021/QĐ-TTg quy định về thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, Nghị định 92/2021/NĐ-CP hướng dẫn chính sách miễn, giảm thuế nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân vượt qua khó khăn do tác động của dịch bệnh Covid-19… Qua đó, giúp doanh nghiệp từng bước phục hồi sản xuất, công nhân lao động vượt qua khó khăn. Song song đó, các chương trình nâng cao tay nghề, dạy học suốt đời cho công nhân đến năm 2030 cũng được triển khai quyết liệt, hướng tới liên thông đào tạo và chứng chỉ nghề để người lao động tự tin tham gia thị trường lao động trong nước và quốc tế.

Ba là, các cuộc đối thoại tạo động lực thúc đẩy Công đoàn Việt Nam đổi mới mạnh mẽ nội dung và phư­ơng thức hoạt động. Công đoàn Việt Nam đã phát huy tốt vai trò đại diện thông qua việc tham mưu, phản biện trực tiếp vào quá trình sửa đổi Bộ luật Lao động, nhất là các điều khoản về tuổi nghỉ hưu và thời gian làm thêm giờ; bảo vệ quyền lợi tiền lương của người lao động trong Hội đồng Tiền lương Quốc gia; đồng thời chủ trì các phong trào thi đua “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”... Những đóng góp này trực tiếp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của giai cấp công nhân. Qua đó, Công đoàn khẳng định vai trò trong việc xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành Chương trình Nâng cao hiệu quả công tác đối thoại, thương lượng tập thể giai đoạn 2023-2028, thiết lập các chỉ tiêu về hoạt động đối thoại trong các doanh nghiệp (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, 2024). Kết quả cho thấy, tổ chức công đoàn các cấp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, chăm lo, đối thoại và bảo vệ quyền lợi công nhân. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã có nhiều tham mưu chiến lược để xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh thông qua việc xây dựng các thiết chế công đoàn đồng bộ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất…

Bốn là, qua đối thoại, việc tiếp nhận ý kiến và thực thi chính sách của các doanh nghiệp được tiến hành chủ động, có nhiều sáng tạo. Sau các cuộc đối thoại với công nhân, nhiều doanh nghiệp đã chủ động xây dựng, chuẩn hóa hệ thống quy định, như xây dựng văn hóa doanh nghiệp, quan tâm đến chế độ, chính sách và đời sống cho công nhân… Khảo sát tại các doanh nghiệp ngành xây dựng cho thấy, tỷ lệ thực thi trách nhiệm xã hội ở mức cao: 95,7% doanh nghiệp thực hiện chế độ trợ cấp, thăm hỏi ốm đau, hiếu hỷ; 89,8% doanh nghiệp thực hiện trợ cấp khó khăn cho người lao động; 63,23% thực hiện chế độ phúng viếng đối với bố mẹ đẻ, bố mẹ vợ hoặc chồng của người lao động khi qua đời. Đối với các phúc lợi tự nguyện khác, tỷ lệ thưởng các ngày lễ 30/4, 1/5, 2/9 và tết Dương lịch dao động từ 40% đến 44% (Nguyễn Thị Lệ Thủy, 2019).

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hoạt động đối thoại với công nhân, người lao động vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần được quan tâm tăng cường. Nội dung đối thoại ở nhiều nơi vẫn chủ yếu tập trung vào giải quyết các vấn đề sự vụ, như tiền lương, phúc lợi, điều kiện làm việc…, trong khi chưa thực sự đi sâu trao đổi những vấn đề có tính chiến lược đối với sự phát triển của giai cấp công nhân, như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thích ứng với chuyển đổi số, chuyển dịch cơ cấu việc làm hay bảo đảm an sinh lâu dài của người lao động. Bên cạnh đó, công tác chuẩn bị nội dung đối thoại và tổng hợp kiến nghị từ cơ sở ở một số nơi còn mang tính hành chính, chưa phản ánh đầy đủ tiếng nói đa dạng của công nhân ở các ngành nghề, vùng miền và khu vực kinh tế khác nhau.

Cơ chế giám sát, theo dõi và đánh giá việc thực hiện các cam kết sau đối thoại chưa thật sự chặt chẽ, thiếu tính ràng buộc trách nhiệm giữa các bên liên quan. Vì vậy, không ít kiến nghị của công nhân, đặc biệt là các vấn đề như tiền lương, nhà ở, điều kiện an toàn lao động, vẫn lặp lại qua nhiều năm nhưng chưa được giải quyết bằng những giải pháp căn cơ và bền vững. Hình thức tổ chức đối thoại ở một số nơi còn nặng về báo cáo, trao đổi một chiều, chưa tạo được môi trường thảo luận cởi mở, thực chất, gắn với những vấn đề cụ thể tại doanh nghiệp và đời sống của người lao động. Vai trò của tổ chức công đoàn trong việc tổng hợp, chuyển tải và phản hồi kiến nghị của công nhân ở một số nơi còn hạn chế, chưa thực sự phát huy đầy đủ vai trò là cầu nối hiệu quả giữa công nhân với các cơ quan quản lý nhà nước.

Nội dung đối thoại cũng còn thiếu những vấn đề có ý nghĩa lâu dài với sự phát triển của giai cấp công nhân, như cơ hội phấn đấu vào Đảng, phát triển tổ chức công đoàn, nâng cao trình độ chính trị và ý thức giai cấp. Ngoài ra, việc tổ chức đối thoại định kỳ giữa người sử dụng lao động với công nhân lao động ở một số doanh nghiệp, đặc biệt trong khu vực ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vẫn chưa được thực hiện nghiêm túc, làm giảm đi vai trò cầu nối của tổ chức công đoàn và cản trở tiến trình hoàn thiện chính sách phát triển giai cấp công nhân trong bối cảnh mới.

2.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đối thoại với công nhân, người lao động

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của công nhân về ý nghĩa và vai trò của đối thoại, đẩy mạnh công tác phổ biến pháp luật, chính sách. Cần chú trọng tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người lao động, đặc biệt là những vấn đề thiết thực như việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, phúc lợi và an toàn lao động. Đồng thời, cần đa dạng hóa phương thức tuyên truyền cho phù hợp với đặc điểm của lao động công nghiệp và môi trường số; phát huy vai trò của tổ chức công đoàn, các thiết chế văn hóa công nhân và đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở. Qua đó nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật và khuyến khích công nhân chủ động, tích cực tham gia đối thoại một cách thực chất.

Thứ hai, nâng cao chất lượng chuẩn bị nội dung và tổ chức đối thoại trên cơ sở nắm chắc tình hình công nhân. Các cuộc đối thoại cần được chuẩn bị khoa học, bài bản, từ việc khảo sát, tổng hợp ý kiến của công nhân tại doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất và các nhóm lao động mới trong nền kinh tế số. Nội dung đối thoại phải phản ánh đúng những vấn đề thiết thực của công nhân như việc làm, thu nhập, điều kiện lao động, đồng thời mở rộng sang những vấn đề mới như tác động của hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và an toàn thông tin trên không gian mạng. Hình thức đối thoại cần linh hoạt, kết hợp trực tiếp và trực tuyến, phù hợp với đặc điểm nhóm ngành nghề, địa bàn, bảo đảm việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của công nhân được đầy đủ.

Thứ ba, phát huy vai trò nòng cốt của tổ chức công đoàn trong công tác vận động công nhân. Tổ chức công đoàn các cấp cần chủ động đổi mới phương thức nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của công nhân thông qua các kênh truyền thống và nền tảng số. Công đoàn cơ sở phải thực sự trở thành cầu nối giữa công nhân với cấp ủy đảng, chính quyền và doanh nghiệp, có trách nhiệm tổng hợp kiến nghị, tham gia tổ chức đối thoại và giám sát việc thực hiện các cam kết sau đối thoại. Đồng thời, cần chú trọng bồi dưỡng, nâng cao năng lực của cán bộ công đoàn về kỹ năng tổ chức đối thoại, phân tích chính sách và truyền thông xã hội nhằm nâng cao hiệu quả đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Thứ tư, gắn kết chặt chẽ kết quả đối thoại với quá trình hoàn thiện thể chế và chính sách lao động. Các ý kiến, kiến nghị từ đối thoại cần được tổng hợp, phân tích và chuyển hóa thành cơ sở thực tiễn phục vụ việc điều chỉnh, bổ sung chính sách lao động và an sinh xã hội. Cần thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức công đoàn và các chủ thể liên quan để tiếp thu, xử lý và phản hồi kịp thời các kiến nghị của công nhân, người lao động. Sau mỗi lần đối thoại, cần công khai nội dung kiến nghị, cơ quan chịu trách nhiệm và thời hạn giải quyết, đồng thời tăng cường giám sát việc thực hiện. Qua đó, đối thoại trở thành một kênh quan trọng nâng cao chất lượng hoạch định và thực thi chính sách.

Thứ năm, phát huy vai trò của đối thoại với công nhân trong công tác tư tưởng của Đảng. Các cuộc đối thoại với công nhân là phương thức quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng. Thông qua đối thoại, các cấp ủy, chính quyền và tổ chức công đoàn cần kịp thời cung cấp thông tin chính thống, định hướng dư luận xã hội, giải thích rõ chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước; qua đó góp phần củng cố niềm tin của giai cấp công nhân đối với Đảng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

3. Kết luận

Đối thoại với công nhân , người lao động là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển và hội nhập. Cơ chế đối thoại thực chất, dân chủ và thường xuyên không chỉ giúp chính sách sát thực tiễn, mà còn củng cố vững chắc niềm tin của người lao động đối với Đảng và Nhà nước. Đây là cơ chế quan trọng bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, đồng thời phát huy trí tuệ, trách nhiệm và vai trò tiên phong của giai cấp công nhân. Trong bối cảnh chuyển đổi số và tái cấu trúc nền kinh tế, chất lượng đối thoại càng có ý nghĩa quyết định hiệu quả hoạch định và thực thi chính sách. Vì vậy, thể chế hóa và nâng cao hiệu quả đối thoại cần được xác định là giải pháp chiến lược nhằm xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

_________________

Ngày nhận bài: 11/3/2026; Ngày bình duyệt: 28/5/2026; Ngày quyết định đăng: 2/7/2026.

Email tác giả: congtuyen.hn@gmail.com

ĐCSVN (2008). Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

ĐCSVN (2016). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 60). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 131.

Nguyễn Thị Lệ Thủy (2019). Công đoàn Xây dựng Việt Nam chăm lo phúc lợi xã hội cho cán bộ, viên chức, người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa. Trong Kỷ yếu Tọa đàm khoa học “Phúc lợi xã hội cho công nhân, viên chức, người lao động và vai trò của Công đoàn Việt Nam”. Hội đồng Lý luận Trung ương và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam phối hợp tổ chức.

Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (2024). Chương trình số 05/CT-BCH ngày 06/9/2024 về “Nâng cao hiệu quả công tác đối thoại, thương lượng tập thể giai đoạn 2023-2028”.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Nâng cao hiệu quả hoạt động đối thoại với công nhân, người lao động
    POWERED BY