DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1220
Tóm tắt: Bài viết làm rõ vai trò, nội dung quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế và phân tích thực trạng tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016-2025. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng lập kế hoạch, quản lý nguồn vốn, tăng cường phối hợp, hỗ trợ người vay và đổi mới đánh giá hiệu quả sau vay.
NGUYỄN THỊ THỦY
Thành đoàn Hải Phòng

Abstract: This article clarifies the role and key aspects of loan management in supporting youth economic development and analyzes the current situation in Hai Phong City during the 2016-2025 period. Based on these findings, the article proposes a set of solutions to improve loan planning and management, strengthen coordination among relevant stakeholders, enhance support for borrowers, and reform post-loan effectiveness assessment, thereby improving the contribution of policy credit to youth employment, income generation, and economic development.
Keywords: loan management; policy credit; economic development; youth; Hai Phong.
1. Mở đầu
Trong giai đoạn phát triển mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng, đặt ra yêu cầu khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội (ĐCSVN, 2026, tr.145). Thanh niên, với vai trò là lực lượng quan trọng trong lao động, sản xuất, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, cần được tạo điều kiện thuận lợi hơn về việc làm, sinh kế và tiếp cận các nguồn lực tài chính. Chính phủ đã xác định tiếp tục hỗ trợ thanh niên vay vốn ưu đãi từ các nguồn vốn giải quyết việc làm, khởi nghiệp và lập nghiệp (Chính phủ, 2025). Đồng thời, Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo nhấn mạnh yêu cầu phát triển thị trường vốn, bảo lãnh tín dụng và các hình thức cho vay phù hợp nhằm mở rộng khả năng tiếp cận nguồn lực cho các chủ thể khởi nghiệp (Chính phủ, 2026). Trong bối cảnh đó, vấn đề không chỉ là mở rộng khả năng tiếp cận vốn mà còn phải nâng cao hiệu quả quản lý, bảo đảm nguồn vốn được phân bổ đúng đối tượng, sử dụng đúng mục đích và phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội. Vì vậy, nghiên cứu quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế tại thành phố Hải Phòng có ý nghĩa thiết thực, góp phần vừa bảo đảm an toàn nguồn vốn, vừa nâng cao khả năng tạo việc làm, tăng thu nhập và phát triển bền vững các mô hình kinh tế của thanh niên.
2. Nội dung
2.1. Vai trò và nội dung quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế
Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi, là lực lượng xã hội quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, có khả năng tiếp cận nhanh với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và các phương thức sản xuất, kinh doanh mới. Nhà nước tạo điều kiện để thanh niên tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi nhằm tạo việc làm, phát triển sản xuất, kinh doanh, đồng thời hỗ trợ kiến thức, kỹ năng, thị trường, pháp lý, khoa học và công nghệ trong quá trình khởi nghiệp.
Trong quá trình lập nghiệp và phát triển kinh tế, vốn là một trong những điều kiện quan trọng để thanh niên hiện thực hóa ý tưởng sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, do khả năng tích lũy tài sản, kinh nghiệm quản trị và điều kiện bảo đảm tín dụng còn hạn chế, một bộ phận thanh niên gặp khó khăn khi tiếp cận tín dụng thương mại. Vì vậy, vốn vay ưu đãi có ý nghĩa trong bổ sung nguồn lực tài chính, giúp thanh niên tạo việc làm, duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hỗ trợ thanh niên tiếp cận vốn để lập nghiệp, khởi nghiệp cũng là nội dung được xác định trong Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021-2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2021) và Chương trình “Hỗ trợ Thanh niên khởi nghiệp” giai đoạn 2022-2030 (Thủ tướng Chính phủ, 2022).
Vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế có thể được hiểu là nguồn vốn tín dụng mà thanh niên hoặc các cơ sở sản xuất, kinh doanh do thanh niên tham gia, làm chủ được tiếp cận nhằm tạo việc làm, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh, phát triển sinh kế. Trong đó, tín dụng chính sách hỗ trợ tạo việc làm được thực hiện thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội với nguồn vốn từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương ủy thác, nguồn vốn huy động được ngân sách nhà nước cấp bù theo quy định và các nguồn vốn do tổ chức, cá nhân ủy thác.
Vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế có một số vai trò chủ yếu. Thứ nhất, bổ sung nguồn lực tài chính để hình thành, duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, vốn lưu động, đổi mới công nghệ và phát triển thị trường. Thứ hai, góp phần tạo việc làm, duy trì việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định sinh kế; khi phương án sử dụng vốn có hiệu quả, thanh niên không chỉ tự tạo việc làm mà còn có thể mở rộng quy mô và thu hút thêm lao động. Thứ ba, góp phần thúc đẩy tinh thần lập nghiệp, khởi nghiệp và nâng cao năng lực kinh tế của thanh niên. Tuy nhiên, hiệu quả của nguồn vốn không chỉ phụ thuộc vào quy mô tín dụng mà còn vào năng lực sử dụng vốn và sự kết hợp với các hỗ trợ về quản trị, pháp lý, khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và kết nối thị trường.
Quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế là quá trình các chủ thể có liên quan phối hợp rà soát nhu cầu, xây dựng kế hoạch và phân bổ nguồn vốn, lựa chọn đối tượng, tổ chức cho vay, theo dõi quá trình sử dụng và thu hồi vốn, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả nhằm bảo đảm nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích, an toàn và tạo ra hiệu quả kinh tế - xã hội. Theo cách tiếp cận này, mục tiêu quản lý không chỉ là bảo toàn vốn, hạn chế nợ quá hạn mà còn phải góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và duy trì sự phát triển của các mô hình kinh tế thanh niên.
Quản lý vốn vay có sự tham gia của nhiều chủ thể với chức năng khác nhau. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, bố trí nguồn lực và chỉ đạo phối hợp; Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện nghiệp vụ tín dụng; tổ chức Đoàn tuyên truyền chính sách, nắm bắt nhu cầu, hỗ trợ thanh niên tiếp cận vốn và phối hợp kiểm tra, giám sát; các tổ tiết kiệm và vay vốn thực hiện các nhiệm vụ quản lý thanh niên vay vốn theo cơ chế ủy thác.
Quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế gồm bốn nội dung chủ yếu. Một là, rà soát nhu cầu và xây dựng kế hoạch vốn vay. Việc rà soát cần xác định số thanh niên có nhu cầu, mục đích sử dụng vốn, lĩnh vực hoạt động, quy mô đầu tư và khả năng hoàn trả; trên cơ sở đó phân loại theo nhóm đối tượng, lĩnh vực và địa bàn để xây dựng kế hoạch và phân bổ nguồn vốn phù hợp.
Hai là, tổ chức thực hiện cho vay và quản lý quá trình sử dụng vốn. Nội dung này bao gồm tuyên truyền chính sách, hướng dẫn hoàn thiện phương án và hồ sơ, bình xét, thẩm định, giải ngân, theo dõi sử dụng vốn và thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Quá trình cho vay phải bảo đảm đúng đối tượng, đúng mục đích, công khai, thuận tiện, đồng thời kiểm soát được rủi ro và hỗ trợ thanh niên sử dụng vốn hiệu quả.
Ba là, kiểm tra, giám sát và xử lý các vấn đề phát sinh. Hoạt động kiểm tra cần tập trung vào bình xét đối tượng, quản lý hồ sơ, tình hình sử dụng vốn, khả năng trả nợ và hoạt động của các chủ thể tham gia quản lý. Kiểm tra không chỉ nhằm phát hiện sai sót, bảo đảm an toàn nguồn vốn mà còn phải nhận diện sớm những khó khăn trong sản xuất, kinh doanh để hỗ trợ thanh niên điều chỉnh phương án hoặc xử lý rủi ro theo quy định.
Bốn là, đánh giá kết quả và hiệu quả vốn vay. Về phương diện quản lý tín dụng, cần xem xét số thanh niên được vay vốn, quy mô dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn, khả năng thu hồi vốn, mức độ sử dụng vốn đúng mục đích và chất lượng hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn. Về phương diện kinh tế – xã hội, cần quan tâm đến số mô hình được hình thành hoặc mở rộng, việc làm được duy trì hoặc tạo mới, sự thay đổi về thu nhập, doanh thu và khả năng duy trì mô hình sau vay. Việc kết hợp hai nhóm chỉ tiêu cho phép đánh giá không chỉ mức độ an toàn của khoản vay mà còn hiệu quả phát triển do nguồn vốn tạo ra, qua đó phản ánh đầy đủ hơn tác động của tín dụng đối với quá trình lập nghiệp, khởi nghiệp và phát triển kinh tế của thanh niên.
2.2. Thực trạng quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế tại thành phố Hải Phòng
Trong những năm qua, quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế tại thành phố Hải Phòng được thực hiện thông qua cơ chế phối hợp giữa Ban Chấp hành Đoàn các cấp, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội, chính quyền địa phương và các tổ tiết kiệm và vay vốn. Tổ chức Đoàn thực hiện tuyên truyền chính sách, nắm bắt nhu cầu, hướng dẫn thanh niên hoàn thiện hồ sơ, tham gia bình xét, quản lý hoạt động nhận ủy thác, kiểm tra và giám sát; Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện nghiệp vụ tín dụng; chính quyền địa phương phối hợp xác nhận đối tượng và xử lý các vấn đề phát sinh. Cơ chế phối hợp này đã góp phần mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng chính sách của thanh niên, song trong quá trình triển khai vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục.
Thứ nhất, về rà soát nhu cầu và xây dựng kế hoạch vốn vay. Ban Chấp hành Đoàn các cấp đã phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội và chính quyền địa phương tổ chức rà soát nhu cầu vay vốn của thanh niên, xác định mục đích sử dụng, lĩnh vực đầu tư và quy mô vốn đề nghị để tổng hợp, xây dựng kế hoạch.
Số thanh niên được vay vốn tăng từ 2.590 người năm 2016 lên 11.798 người năm 2024 và tăng lên 18.045 người năm 2025, sau khi sáp nhập Hải Phòng và Hải Dương (Bảng 1), phản ánh sự mở rộng đáng kể về quy mô và phạm vi tiếp cận tín dụng chính sách. Kết quả này cho thấy công tác nắm bắt nhu cầu và đưa nguồn vốn đến thanh niên từng bước đi vào nền nếp, góp phần đáp ứng nhu cầu tạo việc làm, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, chất lượng rà soát nhu cầu tại một số cơ sở chưa đồng đều. Việc rà soát vẫn chủ yếu tập trung vào số thanh niên có nhu cầu và số vốn đề nghị, trong khi phân loại theo lĩnh vực sản xuất, quy mô mô hình, khả năng tiêu thụ sản phẩm, dòng tiền, hiệu quả dự kiến và mức độ rủi ro chưa được thực hiện đầy đủ. Đối với các mô hình ứng dụng công nghệ, đổi mới thiết bị hoặc mở rộng thị trường, yêu cầu về vốn và năng lực quản trị ngày càng cao, làm cho việc xác định nhu cầu và khả năng hoàn trả trở nên phức tạp hơn. Nguyên nhân chủ yếu là nhu cầu phát triển kinh tế của thanh niên ngày càng đa dạng, dữ liệu về thanh niên vay vốn chưa được kết nối thành hệ thống thống nhất, trong khi năng lực phân tích phương án sản xuất, kinh doanh của cán bộ tham gia quản lý ở một số cơ sở còn hạn chế và cán bộ Đoàn có sự luân chuyển tương đối thường xuyên. Điều này ảnh hưởng đến tính liên tục và chiều sâu của công tác rà soát, dự báo và xây dựng kế hoạch vốn.
Thứ hai, về tổ chức thực hiện cho vay và quản lý quá trình sử dụng vốn. Quy mô tín dụng chính sách do tổ chức Đoàn Thanh niên nhận ủy thác tại Hải Phòng nhìn chung được mở rộng, đồng thời chất lượng nguồn vốn cơ bản được duy trì.
Bảng 1. Về quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2016–2025
| Năm | Thanh niên được vay vốn (người) | Tổng dư nợ (tỷ đồng) | Tổ tiết kiệm và vay vốn do Đoàn quản lý (tổ) | Tỷ lệ nợ quá hạn (%) |
| 2016 | 2.590 | 276,3 | 302 | 0,20 |
| 2017 | 2.901 | 299,3 | 256 | 0,19 |
| 2018 | 3.027 | 321,9 | 276 | 0,17 |
| 2019 | 3.673 | 362,4 | 287 | 0,16 |
| 2020 | 3.926 | 390,0 | 289 | 0,15 |
| 2021 | 8.996 | 311,9 | 257 | 0,23 |
| 2022 | 9.477 | 384,5 | 265 | 0,16 |
| 2023 | 10.397 | 482,5 | 277 | 0,18 |
| 2024 | 11.798 | 639,1 | 299 | 0,13 |
| 2025 | 18.045 | 1.259,3 | 476 | 0,08 |
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Báo cáo tổng hợp kết quả cho vay uỷ thác các năm 2021, 2022, 2023, 2024 và 2025 của Ngân hàng Chính sách xã hội Chi nhánh thành phố Hải Phòng)
Số liệu cho thấy quy mô tín dụng có xu hướng mở rộng rõ rệt. Tổng dư nợ tăng từ 276,315 tỷ đồng năm 2016 lên 390,012 tỷ đồng năm 2020 và đạt 1.259,347 tỷ đồng năm 2025; đồng thời tỷ lệ nợ quá hạn giảm từ 0,20% xuống 0,08%. Riêng mức tăng mạnh về số thanh niên vay vốn, dư nợ và số tổ tiết kiệm và vay vốn năm 2025 có liên quan đến việc mở rộng phạm vi quản lý sau khi thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương hợp nhất đơn vị hành chính từ ngày 01/7/2025.
Vì vậy, số liệu năm 2025 vừa phản ánh xu hướng mở rộng tín dụng, vừa chịu tác động của sự thay đổi về không gian, dân số và phạm vi quản lý.
Bên cạnh kết quả đạt được, sự gia tăng nhanh về số thanh niên vay vốn, dư nợ và phạm vi địa bàn cũng làm tăng khối lượng công việc quản lý. Năng lực của đội ngũ tham gia hoạt động nhận ủy thác chưa thật đồng đều; cán bộ Đoàn có sự luân chuyển, còn một số ban quản lý tổ tiết kiệm và vay vốn hạn chế về kỹ năng quản lý hồ sơ, theo dõi sử dụng vốn và xử lý tình huống phát sinh. Hoạt động hỗ trợ sau vay cũng chưa thực sự đồng bộ; sự kết nối giữa tín dụng với tư vấn quản trị, pháp lý, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và thị trường còn hạn chế. Vì vậy, ở một số trường hợp, quản lý vẫn tập trung nhiều vào khoản vay và nghĩa vụ trả nợ mà chưa gắn chặt với quá trình phát triển mô hình kinh tế của thanh niên.
Thứ ba, về kiểm tra, giám sát và xử lý các vấn đề phát sinh. Cùng với mở rộng quy mô tín dụng, chất lượng hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn do tổ chức Đoàn quản lý từng bước được nâng lên. Sau quá trình rà soát, sắp xếp, số tổ từ 302 tổ năm 2016 giảm xuống 256 tổ năm 2017 và tăng lên 289 tổ năm 2020. Năm 2023, có 252 trong tổng số 277 tổ được xếp loại tốt, chiếm 90,97%; tỷ lệ này tăng lên 92,98% năm 2024 và 96,22% năm 2025. Đến năm 2025 không còn tổ được xếp loại trung bình hoặc yếu. Kết quả này góp phần nâng cao chất lượng bình xét, quản lý hồ sơ, theo dõi thanh niên vay vốn và đôn đốc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Công tác kiểm tra, giám sát được Ban Chấp hành Đoàn các cấp phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội và chính quyền địa phương thực hiện tương đối thường xuyên, tập trung vào bình xét đối tượng, quản lý hồ sơ, mục đích sử dụng vốn, thu lãi, thu hồi nợ và xử lý rủi ro. Trong điều kiện dư nợ và phạm vi quản lý tăng nhanh, việc duy trì nợ quá hạn ở mức thấp cho thấy công tác kiểm tra, theo dõi và đôn đốc thanh niên vay vốn cơ bản phát huy hiệu quả. Từ năm 2025, việc triển khai Văn bản thỏa thuận số 5656/VBTT-NHCS-HPN-HND-HCCB-ĐTNCSHCM cũng đặt ra yêu cầu tăng cường kiểm tra trực tiếp việc sử dụng vốn, đối chiếu và phân loại các khoản vay còn dư nợ, tạo cơ sở để hoạt động kiểm tra đi sâu hơn vào thực tế sử dụng vốn.
Tuy vậy, hoạt động kiểm tra ở một số nơi vẫn chủ yếu tập trung về hồ sơ, thủ tục và bảo đảm nghĩa vụ trả nợ; việc phát hiện sớm những khó khăn về thị trường, dòng tiền hoặc hiệu quả sản xuất, kinh doanh chưa trở thành nội dung thường xuyên. Số thanh niên vay vốn và phạm vi địa bàn tăng nhanh cũng gây khó khăn cho việc kiểm tra trực tiếp đầy đủ các khoản vay. Bên cạnh đó, thông tin giữa tổ chức Đoàn, Ngân hàng Chính sách xã hội, tổ tiết kiệm và vay vốn và chính quyền địa phương chưa được tích hợp đồng bộ, làm hạn chế khả năng cảnh báo sớm đối với các khoản vay có nguy cơ phát sinh rủi ro. Nguyên nhân chủ yếu là phương thức kiểm tra vẫn tập trung nhiều vào tiêu chí an toàn tín dụng, năng lực nhận diện rủi ro của đội ngũ quản lý ở cơ sở chưa đồng đều và chưa có cơ sở dữ liệu dùng chung phục vụ giám sát theo mức độ rủi ro.
Thứ tư, về đánh giá kết quả và hiệu quả vốn vay. Cùng với sự gia tăng dư nợ và số thanh niên tiếp cận vốn, kết quả trên cho thấy tín dụng chính sách đã góp phần hỗ trợ thanh niên đầu tư sản xuất, duy trì việc làm và mở rộng quy mô hoạt động. Tuy nhiên, hệ thống đánh giá hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu quản lý tín dụng như số thanh niên vay vốn, dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn, tình trạng trả nợ và chất lượng hoạt động của tổ tiết kiệm và vay vốn. Các chỉ tiêu phản ánh trực tiếp hiệu quả kinh tế – xã hội như mức tăng doanh thu, thu nhập, năng suất lao động, số việc làm được tạo mới, khả năng mở rộng thị trường và tỷ lệ mô hình tiếp tục hoạt động ổn định sau vay chưa được theo dõi đầy đủ, liên tục. Vì vậy, có thể đánh giá tương đối rõ mức độ an toàn của nguồn vốn nhưng chưa đủ cơ sở để lượng hóa toàn diện tác động của vốn vay đối với sự phát triển kinh tế của thanh niên.
Nguyên nhân là mục tiêu và hệ thống thông tin quản lý trong thời gian qua vẫn tập trung nhiều vào yêu cầu bảo toàn vốn và thực hiện nghiệp vụ tín dụng, chưa hình thành bộ chỉ tiêu thống nhất về hiệu quả phát triển sau vay. Dữ liệu về thanh niên vay vốn, kết quả sản xuất, kinh doanh và hoạt động hỗ trợ sau vay còn phân tán giữa các chủ thể; cơ chế cập nhật và chia sẻ thông tin chưa đồng bộ. Trong khi đó, đánh giá sự thay đổi về thu nhập, doanh thu, việc làm và tính bền vững của mô hình đòi hỏi theo dõi trong một khoảng thời gian nhất định và sự phối hợp của nhiều cơ quan, nhưng nguồn lực dành cho hoạt động này còn hạn chế.
Nhìn chung, quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế tại Hải Phòng đã đạt kết quả tích cực về mở rộng khả năng tiếp cận vốn, tăng quy mô dư nợ, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn và duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp. Tuy nhiên, những hạn chế trong rà soát và phân loại nhu cầu, năng lực đội ngũ quản lý, chia sẻ thông tin, kiểm tra theo mức độ rủi ro và đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội sau vay cho thấy cần chuyển dần từ trọng tâm quản lý an toàn khoản vay sang quản lý hiệu quả phát triển, gắn nguồn vốn với năng lực sản xuất, kinh doanh và tính bền vững của các mô hình kinh tế thanh niên.
2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế
Kết quả phân tích cho thấy quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế tại Hải Phòng đã đạt những kết quả tích cực về mở rộng khả năng tiếp cận vốn, tăng quy mô dư nợ, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn và duy trì tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp. Tuy nhiên, những hạn chế về rà soát nhu cầu, năng lực quản lý, phối hợp và chia sẻ thông tin, kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả sau vay cho thấy công tác quản lý cần tiếp tục được đổi mới. Trong bối cảnh quy mô tín dụng và phạm vi quản lý ngày càng mở rộng, cần chuyển dần từ trọng tâm bảo đảm an toàn khoản vay sang nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tính bền vững của các mô hình kinh tế thanh niên. Theo đó, cần tập trung vào một số giải pháp sau:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng rà soát nhu cầu và xây dựng kế hoạch vốn vay. Ban Chấp hành Đoàn các cấp cần phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội và chính quyền địa phương rà soát thường xuyên nhu cầu vay vốn của thanh niên, bảo đảm kế hoạch vốn sát với nhu cầu thực tế của từng địa bàn và nhóm đối tượng. Nội dung rà soát cần chuyển từ chủ yếu thống kê số thanh niên và số vốn đề nghị sang đánh giá đầy đủ hơn về lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, quy mô mô hình, mục đích sử dụng vốn, khả năng tiêu thụ sản phẩm, dòng tiền và khả năng hoàn trả. Trên cơ sở đó, nhu cầu vay vốn cần được phân loại theo ngành nghề, quy mô và mức độ rủi ro để nâng cao chất lượng lựa chọn đối tượng và phân bổ nguồn vốn.
Đối với các mô hình ứng dụng công nghệ, đổi mới thiết bị, chuyển đổi số hoặc mở rộng thị trường, cần chú trọng tư vấn hoàn thiện phương án sản xuất, kinh doanh trước khi vay vốn. Tổ chức Đoàn cần phát huy lợi thế gần gũi với thanh niên để phát hiện các mô hình có tiềm năng, đồng thời nhận diện những trường hợp cần hỗ trợ về phương án kinh doanh và năng lực quản trị. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng kế hoạch vốn cần tính đến sự khác biệt về nhu cầu và điều kiện phát triển giữa các địa bàn, hạn chế phân bổ bình quân, dàn trải.
Thứ hai, nâng cao chất lượng tổ chức cho vay và quản lý quá trình sử dụng vốn. Thành phố cần tiếp tục quan tâm bố trí nguồn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng Chính sách xã hội, ưu tiên các chương trình trực tiếp tạo việc làm, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh của thanh niên. Đối với những mô hình có nhu cầu vốn lớn hơn khả năng đáp ứng của tín dụng chính sách, tổ chức Đoàn cần tăng cường kết nối với các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, Hội Doanh nhân trẻ và các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp để mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn lực phù hợp.
Cùng với mở rộng nguồn vốn, cần nâng cao năng lực của đội ngũ trực tiếp tham gia quản lý hoạt động nhận ủy thác. Thành đoàn Hải Phòng và Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố cần thường xuyên tập huấn cho cán bộ đoàn và ban quản lý tổ tiết kiệm và vay vốn về nghiệp vụ tín dụng, quản lý hồ sơ, phân tích phương án sản xuất, kinh doanh, nhận diện rủi ro và theo dõi sử dụng vốn. Đối với cán bộ đoàn có sự luân chuyển, cần thực hiện đầy đủ việc bàn giao hồ sơ, dữ liệu thanh niên vay vốn và tình trạng các khoản vay để bảo đảm tính liên tục trong quản lý. Việc đánh giá, xếp loại tổ tiết kiệm và vay vốn cần gắn với củng cố những tổ còn hạn chế và nhân rộng các mô hình hoạt động hiệu quả.
Quản lý vốn vay đồng thời phải gắn chặt hơn với hỗ trợ thanh niên sau vay. Tổ chức Đoàn cần phối hợp với các cơ quan chuyên môn, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và hiệp hội nghề nghiệp hỗ trợ thanh niên về quản trị tài chính, pháp lý, ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số, thương mại điện tử và kết nối thị trường. Sự kết hợp giữa tín dụng và hỗ trợ phi tài chính sẽ góp phần nâng cao năng lực sử dụng vốn, giảm rủi ro và tăng khả năng phát triển bền vững của các mô hình kinh tế thanh niên.
Thứ ba, đổi mới kiểm tra, giám sát và tăng cường phối hợp, chia sẻ thông tin. Công tác kiểm tra cần tiếp tục bảo đảm các yêu cầu về bình xét đối tượng, hồ sơ, mục đích sử dụng vốn và thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đồng thời chuyển mạnh hơn sang kiểm tra theo mức độ rủi ro. Các khoản vay có dấu hiệu chậm trả, doanh thu suy giảm, thị trường tiêu thụ khó khăn, thay đổi mục đích sử dụng vốn hoặc chịu tác động lớn của các yếu tố khách quan cần được nhận diện và kiểm tra sớm. Cách tiếp cận này vừa nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro, vừa sử dụng hiệu quả nguồn lực kiểm tra trong điều kiện số thanh niên vay vốn và phạm vi địa bàn quản lý ngày càng tăng.
Đối với thanh niên gặp khó khăn do nguyên nhân khách quan, tổ chức Đoàn cần phối hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội và chính quyền địa phương xác định nguyên nhân, hướng dẫn xử lý theo quy định và hỗ trợ điều chỉnh phương án sản xuất, kinh doanh khi cần thiết. Đối với các trường hợp sử dụng vốn sai mục đích hoặc không thực hiện nghĩa vụ, cần xử lý phù hợp để bảo đảm kỷ luật tín dụng và an toàn nguồn vốn.
Cùng với đó, cần nâng cao hiệu quả phối hợp và chia sẻ thông tin giữa tổ chức Đoàn, Ngân hàng Chính sách xã hội, chính quyền địa phương và các tổ tiết kiệm và vay vốn. Dữ liệu về thanh niên vay vốn cần từng bước được chuẩn hóa, gồm nhu cầu vốn, lĩnh vực hoạt động, quy mô khoản vay, tình hình sử dụng vốn, lịch sử trả nợ và những khó khăn phát sinh. Việc hình thành cơ sở dữ liệu thống nhất sẽ hỗ trợ theo dõi liên tục, hạn chế tình trạng thông tin phân tán và nâng cao khả năng cảnh báo sớm đối với các khoản vay có nguy cơ phát sinh rủi ro.
Thứ tư, đổi mới đánh giá kết quả và hiệu quả vốn vay theo hướng gắn an toàn tín dụng với hiệu quả phát triển kinh tế của thanh niên. Bên cạnh các chỉ tiêu hiện hành như số thanh niên vay vốn, quy mô dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn, tình trạng trả nợ và chất lượng tổ tiết kiệm và vay vốn, cần từng bước bổ sung các chỉ tiêu phản ánh trực tiếp hiệu quả kinh tế - xã hội sau vay. Các chỉ tiêu có thể tập trung vào sự thay đổi thu nhập, doanh thu, số việc làm được duy trì hoặc tạo mới, khả năng mở rộng sản xuất, thị trường tiêu thụ và tỷ lệ mô hình tiếp tục hoạt động ổn định sau một khoảng thời gian nhất định.
Việc đánh giá cần được thiết kế phù hợp với từng chương trình, lĩnh vực và quy mô vay, tránh tạo thêm gánh nặng hành chính cho cán bộ cơ sở và thanh niên vay vốn. Đối với các mô hình có quy mô tương đối lớn hoặc có khả năng nhân rộng, cần theo dõi sâu hơn để đánh giá tác động của nguồn vốn. Tổ chức Đoàn và Ngân hàng Chính sách xã hội cần thống nhất một số chỉ tiêu cơ bản, phương thức thu thập và chu kỳ cập nhật dữ liệu. Kết quả đánh giá cần được sử dụng làm căn cứ điều chỉnh kế hoạch vốn, xác định nhóm đối tượng ưu tiên, hoàn thiện hoạt động hỗ trợ sau vay và nhân rộng các mô hình sử dụng vốn hiệu quả.
3. Kết luận
Nâng cao hiệu quả quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế cần được tiếp cận không chỉ từ yêu cầu bảo đảm an toàn tín dụng mà còn từ vai trò của nguồn vốn như một nguồn lực thúc đẩy phát triển. Trong điều kiện không gian phát triển của Hải Phòng được mở rộng, cùng yêu cầu đẩy mạnh khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, quản lý vốn vay cần ngày càng dựa trên nhu cầu thực tế, dữ liệu, mức độ rủi ro và hiệu quả sau vay. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ góp phần chuyển quản lý vốn vay hỗ trợ thanh niên phát triển kinh tế tại Hải Phòng từ trọng tâm quản lý khoản vay sang quản lý hiệu quả của một nguồn lực phát triển, vừa bảo đảm an toàn vốn, vừa nâng cao khả năng tạo việc làm, tăng thu nhập và phát triển bền vững các mô hình kinh tế thanh niên. Đặc biệt, việc gắn tín dụng với nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng khoa học - công nghệ và kết nối thị trường sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hỗ trợ các mô hình kinh tế thanh niên phát triển bền vững và đóng góp thiết thực hơn vào phát triển kinh tế - xã hội.
_________________
Ngày nhận bài: 8/8/2026; Ngày bình duyệt: 14/8/2026; Ngày quyết định đăng: 21/8/2026.
Email tác giả: nguyenthuy8820@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Chính phủ (2025). Nghị quyết số 349/NQ-CP của Chính phủ: Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 166-KL/TW ngày 10/6/2025 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” trong tình hình mới.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 86/NQ-CP của Chính phủ: Ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026b). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1331/QĐ-TTg ngày 24/7/2021 ban hành Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021–2030.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 897/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chương trình “Hỗ trợ Thanh niên khởi nghiệp” giai đoạn 2022–2030.