Thực tiễn

Nâng cao năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp ở tỉnh Hưng Yên

10/06/2026 17:12

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số ở cấp xã, qua đó nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Bài viết làm rõ tầm quan trọng của năng lực số đối với cán bộ, công chức cấp xã và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới. Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp tỉnh Hưng Yên năm 2026.

PGS, TS PHẠM QUỐC THÀNH
Trường Đại học Thái Bình

cc xa
Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Nghĩa Trụ tiếp nhận hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính cho người dân_Ảnh: VOV

1. Mở đầu

Ngày 01/7/2025 đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong cải cách hành chính nhà nước khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gồm cấp tỉnh và cấp xã, chính thức đi vào hoạt động trên phạm vi toàn quốc. Đây là bước đột phá về tái cấu trúc bộ máy nhà nước sâu rộng trong nhiều thập kỷ qua với định hướng “tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2024).

Vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay đồng nghĩa với việc cấp xã đảm nhiệm thêm nhiệm vụ, quyền hạn; được phân cấp, phân quyền nhiều hơn, hoạt động trên phạm vi rộng hơn, đặt ra yêu cầu cần tăng cường ứng dụng công nghệ số để phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Năng lực số trở thành điều kiện tiên quyết để cán bộ, công chức cấp xã thực thi công vụ hiệu quả. Thực tiễn triển khai thời gian qua đã chỉ ra những vấn đề cần được nhìn thẳng: khối lượng công việc và trách nhiệm pháp lý của cấp xã tăng mạnh trong khi năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã vẫn là điểm yếu mang tính hệ thống; tình trạng thủ tục hành chính giải quyết chậm vẫn còn tồn tại, dữ liệu chưa liên thông đồng bộ, cán bộ, công chức chưa thành thạo các nền tảng số dùng chung,... đang là những vướng mắc thực sự, không phải là hiện tượng nhất thời. Trên thực tế, khi cán bộ cấp xã "chưa thành thạo công nghệ, việc triển khai dịch vụ công trực tuyến, hướng dẫn người dân và kết nối các chương trình phát triển kinh tế - xã hội sẽ gặp nhiều trở ngại" (Bích Liên, 2026).

Tiếp cận từ góc độ chính trị học, đặt năng lực số của cán bộ công chức cấp xã trong mối quan hệ với hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước và hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp, bài viết làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực số của cán bộ công chức cấp xã và đề xuất giải pháp có tính khả thi nâng cao hiệu quả năng lực số của cán bộ công chức cấp xã trong giai đoạn chuyển đổi quan trọng hiện nay.

2. Nội dung

2.1. Nhận thức về năng lực số

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, năng lực số trở thành một trong những yêu cầu quan trọng đối với mỗi cá nhân, tổ chức và đặc biệt là đội ngũ cán bộ công chức trong thực thi công vụ. Việc nhận thức đúng về năng lực số có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội hàm, vai trò và các yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ công chức cấp xã trong quá trình xây dựng chính quyền số. Hiện nay, có các quan điểm khác nhau về năng lực số:

Theo Ủy ban châu Âu, năng lực số được hiểu là “việc sử dụng và tham gia một cách tự tin, có tư duy phản biện và có trách nhiệm đối với công nghệ số phục vụ học tập, công việc và tham gia vào đời sống xã hội. Năng lực số được xác định là sự kết hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ” (European Commission, 2022). Khung năng lực số (Digcomp 2.0) được đề xuất, áp dụng cho mọi đối tượng là công dân tại châu Âu với 05 phạm vi/lĩnh vực năng lực số: (1) Năng lực thông tin và dữ liệu; (2) Giao tiếp và hợp tác; (3) Sáng tạo nội dung số; (4) An toàn; (5) Giải quyết vấn đề (European Commission, 2016).

Theo UNESCO, “Năng lực số là khả năng truy cập, quản lý, hiểu, tích hợp, truyền đạt, đánh giá và tạo ra thông tin một cách an toàn, phù hợp thông qua công nghệ số nhằm phục vụ việc làm, lao động bền vững và hoạt động khởi nghiệp. Năng lực số bao gồm các năng lực thường được gọi với những tên khác nhau như: năng lực sử dụng máy tính, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), năng lực thông tin và năng lực truyền thông” (UNESCO Institute of Statistics, 2018, tr.6). Khung năng lực số của UNESCO được đề xuất năm 2018, áp dụng cho mọi công dân toàn cầu, được xây dựng dựa trên năm lĩnh vực năng lực số trong DigComp 2.0 và bổ sung hai lĩnh vực năng lực mới, bao gồm: Vận hành thiết bị và phần mềm; Năng lực liên quan đến nghề nghiệp (UNESCO, 2018).

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Năng lực số là khả năng sử dụng công nghệ số để hoàn thành nhiệm vụ cụ thể hoặc để giải quyết vấn đề trong thực tiễn” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025). Khung năng lực số được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 2025 áp dụng đối với “các cơ sở giáo dục, các chương trình giáo dục, đào tạo (sau đây gọi chung là chương trình giáo dục) và người học trong hệ thống giáo dục quốc dân; các tổ chức, cá nhân có liên quan” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2025), gồm 6 miền năng lực với 24 năng lực thành phần, được chia thành 4 trình độ từ cơ bản đến chuyên sâu theo 8 bậc.

Mỗi quan điểm về năng lực số đều có những nét đặc thù riêng, phù hợp với đối tượng áp dụng và phạm vi tác động khác nhau. Tuy nhiên, điểm chung nổi bật là các quan điểm này không chỉ giới hạn ở kỹ năng sử dụng công nghệ số thuần túy mà còn mở rộng sang các năng lực nhận thức và năng lực xã hội trong môi trường số. Từ góc độ tiếp cận bài viết, năng lực số của cán bộ công chức cấp xã là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực hành động cho phép cá nhân sử dụng, quản lý, khai thác và sáng tạo công nghệ số một cách hiệu quả, an toàn và có trách nhiệm trong thực thi công vụ; đồng thời có khả năng thích ứng, hợp tác và giải quyết vấn đề trong môi trường số nhằm nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công và hiệu quả quản trị địa phương trong bối cảnh chuyển đổi số.

Cán bộ, công chức cấp xã giữ vị trí là “điểm tiếp xúc” giữa nhà nước và công dân. Khi điểm tiếp xúc này thiếu năng lực số, toàn bộ chuỗi cung ứng dịch vụ công bị gián đoạn dù hạ tầng kỹ thuật có hoàn hảo đến đâu. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh: “giao nhiệm vụ mà không đi kèm phương tiện thực thi sẽ dẫn đến tình trạng quá tải và kém hiệu quả trong vận hành bộ máy” (Trung tâm Truyền thông khoa học và Công nghệ, 2025). Hiện nay, đào tạo, bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ cán bộ công chức cấp xã không phải là kiến thức bổ sung tùy chọn, mà là yêu cầu cốt lõi gắn với vị trí việc làm trong kỷ nguyên mới, Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định rõ: “Đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào vị trí việc làm gắn với công tác sử dụng, quản lý công chức phù hợp với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao của cơ quan, đơn vị” (Chính phủ, 2025).

Năng lực số đang trở thành yêu cầu cốt lõi đối với đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Nhận thức đúng đắn về năng lực số không chỉ giúp đội ngũ cán bộ công chức nâng cao khả năng thích ứng với môi trường quản trị hiện đại, mà còn góp phần bảo đảm hiệu quả vận hành bộ máy hành chính, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công và tăng cường tương tác với người dân trên nền tảng số. Đây là điều kiện quan trọng để xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của chính quyền số trong giai đoạn hiện nay.

2.2. Tầm quan trọng về năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã

Thứ nhất, năng lực số giúp nâng cao hiệu quả thực thi công vụ của cán bộ, công chức cấp xã

(i) Năng lực số giúp cán bộ, công chức cấp xã sử dụng hiệu quả các hệ thống thông tin và nền tảng công nghệ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Hiện nay, phần lớn các hoạt động hành chính như quản lý văn bản, xử lý hồ sơ, báo cáo thống kê, lưu trữ dữ liệu hay giải quyết thủ tục hành chính đều được thực hiện trên môi trường số. Khi cán bộ công chức có kỹ năng sử dụng thành thạo các phần mềm quản lý, hệ thống một cửa điện tử, cổng dịch vụ công trực tuyến và chữ ký số, quá trình xử lý công việc sẽ được thực hiện nhanh chóng, chính xác và đồng bộ hơn, góp phần giảm thời gian xử lý hồ sơ, hạn chế sai sót trong quá trình thực thi công vụ và nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã.

(ii) Năng lực số giúp cán bộ công chức nâng cao khả năng phối hợp và trao đổi thông tin giữa các cơ quan hành chính nhà nước. Trong mô hình quản trị hiện đại, việc liên thông dữ liệu và xử lý công việc trên môi trường mạng là yêu cầu tất yếu. Cán bộ công chức có năng lực số tốt sẽ dễ dàng khai thác, cập nhật và chia sẻ thông tin trên các hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, qua đó bảo đảm tính chính xác và kịp thời trong hoạt động quản lý, điều hành. Việc sử dụng văn bản điện tử, họp trực tuyến và xử lý công việc trên nền tảng số cũng giúp giảm bớt các thủ tục trung gian, tiết kiệm chi phí hành chính và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cấp chính quyền.

(iii) Năng lực số hỗ trợ cán bộ, công chức cấp xã nâng cao khả năng phân tích thông tin và ra quyết định trong quá trình thực thi công vụ. Trong bối cảnh dữ liệu số ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng, việc khai thác và sử dụng dữ liệu hiệu quả sẽ giúp cán bộ, công chức đánh giá tình hình thực tiễn nhanh chóng, từ đó đưa ra các quyết định quản lý phù hợp với yêu cầu phát triển của địa phương. Nâng cao năng lực số giúp cán bộ, công chức chủ động tiếp cận các nguồn thông tin mới, cập nhật kịp thời các văn bản pháp luật, quy trình nghiệp vụ và các chính sách liên quan đến lĩnh vực phụ trách.

Thứ hai, năng lực số của cán bộ công chức là điều kiện quan trọng để triển khai chính quyền số ở cấp xã

Năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là điều kiện cần thiết để triển khai hiệu quả mô hình chính quyền số tại cấp xã, góp phần thực hiện hiệu quả Văn kiện Đại hội XIV của Đảng: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” (ĐCSVN, 2026, tr.266-267).

(i) Chính quyền số chỉ có thể vận hành hiệu quả khi đội ngũ cán bộ công chức có khả năng sử dụng và khai thác các nền tảng công nghệ số trong hoạt động quản lý, điều hành. Hiện nay, các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử như quản lý văn bản, xử lý hồ sơ trực tuyến, sử dụng cơ sở dữ liệu dân cư, hệ thống thông tin báo cáo hay cổng dịch vụ công trực tuyến,... Nếu cán bộ công chức thiếu kỹ năng số, quá trình vận hành các hệ thống này sẽ gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tình trạng xử lý chậm trễ, sai sót hoặc không khai thác được đầy đủ hiệu quả của các nền tảng công nghệ đã được đầu tư.

(ii) Năng lực số giúp cán bộ công chức cấp xã thích ứng với sự thay đổi của phương thức quản trị trong bối cảnh chuyển đổi số. Khác với mô hình quản lý hành chính truyền thống chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy tờ và xử lý thủ công, chính quyền số yêu cầu hoạt động quản lý phải dựa trên dữ liệu số, sự liên thông thông tin và khả năng xử lý công việc trên môi trường mạng, đòi hỏi cán bộ công chức không chỉ biết sử dụng công nghệ mà còn phải có tư duy số, khả năng khai thác dữ liệu và thích ứng với các quy trình làm việc mới. Khi có năng lực số tốt, cán bộ, công chức sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận công nghệ mới, đổi mới phương pháp làm việc và nâng cao chất lượng quản trị ở địa phương.

(iii) Năng lực số là yếu tố quan trọng giúp bảo đảm tính liên thông và đồng bộ trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Cán bộ, công chức cấp xã có năng lực số sẽ giúp quá trình phối hợp giữa cấp xã với cấp tỉnh diễn ra nhanh chóng, chính xác và hiệu quả hơn, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, giảm tình trạng chồng chéo trong xử lý công việc và tạo sự thống nhất trong hoạt động điều hành của bộ máy hành chính nhà nước.

Việc triển khai chính quyền số không chỉ phụ thuộc vào hạ tầng công nghệ mà còn phụ thuộc rất lớn vào yếu tố con người. Trong thực tế, nhiều địa phương đã được đầu tư hệ thống công nghệ thông tin tương đối đồng bộ nhưng hiệu quả khai thác còn hạn chế do đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu về kỹ năng số. Vì vậy, nâng cao năng lực số cho cán bộ công chức cấp xã chính là giải pháp mang tính nền tảng nhằm bảo đảm quá trình chuyển đổi số diễn ra thực chất, đồng bộ và hiệu quả.

Thứ ba, năng lực số góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp

(i) Năng lực số giúp cán bộ công chức cấp xã hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng hiệu quả các dịch vụ công trực tuyến. Trong thực tế, không phải mọi người dân đều có kỹ năng công nghệ tốt hoặc hiểu rõ quy trình thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường mạng. Vì vậy, cán bộ, công chức có năng lực số tốt sẽ đóng vai trò như “cầu nối”, hướng dẫn người dân thực hiện các thao tác nộp hồ sơ trực tuyến, tra cứu kết quả giải quyết thủ tục, cũng như sử dụng các nền tảng số của cơ quan nhà nước, góp phần giảm bớt rào cản công nghệ, giúp dịch vụ công đến gần hơn với người dân và doanh nghiệp.

(ii) Năng lực số góp phần rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính và giảm chi phí xã hội cho người dân, doanh nghiệp. Khi cán bộ công chức sử dụng thành thạo các hệ thống quản lý hồ sơ điện tử, phần mềm một cửa và các nền tảng liên thông dữ liệu, quá trình tiếp nhận, xử lý và trả kết quả được thực hiện nhanh chóng, hạn chế tối đa việc phải đi lại nhiều lần hoặc bổ sung giấy tờ thủ công, qua đó không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính mà còn tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người dân.

(iii) Năng lực số giúp nâng cao tính minh bạch và công khai trong quá trình cung cấp dịch vụ công. Khi toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục được thực hiện trên môi trường số, người dân và doanh nghiệp có thể dễ dàng theo dõi tiến độ xử lý hồ sơ, tra cứu thông tin và phản hồi ý kiến đối với cơ quan nhà nước, góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời tăng cường niềm tin của người dân đối với chính quyền địa phương.

Thứ tư, nâng cao năng lực số góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chuyên nghiệp và hiện đại

(i) Nâng cao năng lực số giúp hình thành phong cách làm việc chuyên nghiệp, khoa học và hiệu quả cho cán bộ công chức cấp xã. Khi thành thạo các công cụ số, phần mềm quản lý và nền tảng làm việc trực tuyến, cán bộ, công chức có khả năng tổ chức công việc một cách hệ thống, xử lý nhiệm vụ nhanh chóng và chính xác hơn, góp phần thay đổi thói quen làm việc dựa trên phương thức thủ công, từng bước chuyển sang môi trường làm việc số hóa, qua đó nâng cao tính chuyên nghiệp trong thực thi công vụ.

(ii) Năng lực số góp phần thúc đẩy tinh thần học tập suốt đời và khả năng tự thích ứng của đội ngũ cán bộ, công chức. Trong bối cảnh công nghệ liên tục thay đổi, việc cập nhật kiến thức và kỹ năng số trở thành yêu cầu thường xuyên. Cán bộ, công chức có năng lực số tốt sẽ chủ động tiếp cận các nền tảng học tập trực tuyến, tự nâng cao trình độ chuyên môn, qua đó đáp ứng kịp thời yêu cầu mới của công việc, giúp hình thành đội ngũ cán bộ, công chức có tư duy mở, linh hoạt và thích ứng cao với sự thay đổi của môi trường quản lý.

(iii) Năng lực số tạo nền tảng để chuẩn hóa hoạt động công vụ, hướng tới xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực đồng đều, đáp ứng yêu cầu của chính quyền số. Khi các quy trình làm việc được số hóa và chuẩn hóa trên nền tảng công nghệ, việc đánh giá hiệu quả công việc cũng trở nên khách quan, minh bạch hơn, góp phần thúc đẩy tính kỷ luật, trách nhiệm và hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã.

Năng lực số có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu của chuyển đổi số và vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Đây không chỉ là điều kiện để cải thiện hiệu quả thực thi công vụ, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, mà còn là nền tảng để đổi mới phương thức quản trị, tăng cường tính minh bạch, liên thông và hiệu quả trong hoạt động của bộ máy hành chính ở cơ sở. Việc chú trọng bồi dưỡng và phát triển năng lực số cho cán bộ công chức cấp xã là yêu cầu tất yếu, có ý nghĩa chiến lược, góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, phục vụ và phát triển bền vững.

2.3. Thực trạng năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Hưng Yên hiện nay

a) Những kết quả bước đầu

Một là, chuyển biến rõ rệt trong cải cách thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả xử lý công việc ở cấp xã

Trong thời gian qua, quá trình chuyển đổi số ở cấp xã đã tạo ra những chuyển biến tích cực và rõ nét trong cải cách thủ tục hành chính, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Theo Báo cáo tình hình thực hiện cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2025 “tỷ lệ hồ sơ trực tuyến được tiếp nhận, xử lý trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tỉnh đạt 95,7% trên tổng số hồ sơ toàn tỉnh (cấp tỉnh: 97,83%; cấp xã: 95,46%); 100% hồ sơ thủ tục hành chính được tiếp nhận, xử lý trên Hệ thống đều được các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện số hóa thành phần hồ sơ, cập nhật kết quả giải quyết; ban hành kết quả bản điện tử có ký số đảm bảo theo quy định” (Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên, 2025, tr.8-9). Đây là con số có ý nghĩa lớn không chỉ về mặt thời gian mà còn phản ánh hiệu quả cải cách thể chế gắn với ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước.

Từ góc độ năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã, những kết quả này cho thấy sự cải thiện đáng kể về kỹ năng vận hành hệ thống điện tử, xử lý hồ sơ số và phối hợp liên thông dữ liệu. Khi cán bộ, công chức đã từng bước làm chủ các công cụ số như hệ thống một cửa điện tử, chữ ký số và phần mềm quản lý văn bản, quy trình giải quyết thủ tục hành chính được rút ngắn, giảm tình trạng trùng lặp, hạn chế sai sót và nâng cao tính minh bạch. Xa hơn, điều này phản ánh sự chuyển dịch từ mô hình hành chính truyền thống sang mô hình hành chính số, trong đó năng lực con người trở thành yếu tố quyết định hiệu quả vận hành hệ thống.

Hai là, mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến và thúc đẩy mạnh mẽ số hóa dữ liệu quản lý nhà nước ở địa phương

Theo báo cáo, tỉnh Hưng Yên “đã cập nhật, công khai hơn 2.160 thủ tục trên Cổng dịch vụ công quốc gia và của tỉnh, đạt tỉ lệ 100%; gần 96% hồ sơ được nộp trực tuyến” (Cổng thông tin điện tử tỉnh Hưng Yên, 2026). Đây là một bước tiến quan trọng trong việc chuyển đổi phương thức cung ứng dịch vụ công từ trực tiếp sang trực tuyến, góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp.

Tại Hưng Yên, thời điểm tháng 12/2025, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến toàn trình đủ điều kiện đạt 91,35%; tỷ lệ dịch vụ công có phát sinh hồ sơ nộp trực tuyến (toàn trình + một phần) đạt 98,7%; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình đạt 94,73%; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến một phần đạt 96,61% và tỷ lệ thủ tục hành chính được tích hợp, triển khai thanh toán trực tuyến đạt 100% (Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên, 2025, tr.12-13). Đây là minh chứng rõ nét cho quá trình xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung, một trong những trụ cột quan trọng của chính quyền số.

Những kết quả này chỉ có thể đạt được khi đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có năng lực số tương đối tốt, đặc biệt trong việc nhập liệu, khai thác, chuẩn hóa và vận hành hệ thống dữ liệu điện tử. Việc số hóa dữ liệu quy mô lớn không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo ra nền tảng cho phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu. Đồng thời, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cao cũng phản ánh mức độ thay đổi hành vi của người dân và sự thích ứng của bộ máy hành chính với môi trường số.

Ba là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng năng lực số và hình thành phương thức học tập số trong đội ngũ cán bộ công chức cấp xã

Song song với quá trình hiện đại hóa hệ thống hành chính, công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực số cho cán bộ, công chức cấp xã đã có những bước phát triển quan trọng, góp phần tạo nền tảng cho sự chuyển đổi bền vững. Ở cấp quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ đã triển khai tập huấn trực tuyến trên nền tảng số dành cho 18.000 cán bộ công chức cấp xã trên toàn quốc với 19 chuyên đề (Thu Giang, 2025). Điểm đáng chú ý của mô hình này là việc áp dụng cơ chế học tập số hóa với đội ngũ hỗ trợ 24/7. Cách tiếp cận này không chỉ giúp minh bạch hóa quá trình đào tạo mà còn chuyển trọng tâm từ “đào tạo theo khóa học” sang “đào tạo theo năng lực”, cho phép cá nhân hóa quá trình học tập và đánh giá thực chất hơn.

Đây là bước chuyển quan trọng từ mô hình đào tạo truyền thống sang phát triển năng lực số, góp phần hình thành thói quen tự học, tự cập nhật kiến thức của cán bộ, công chức, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và phương thức quản trị hiện đại, tạo nền tảng để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có tư duy số, năng lực số và khả năng làm việc trong môi trường chính quyền số một cách bền vững.

b) Một số hạn chế

Một là, năng lực số của cán bộ công chức cấp xã chưa đồng đều, vẫn tồn tại sự chênh lệch giữa các địa phương, giữa các nhóm cán bộ, công chức theo độ tuổi và vị trí công tác. Mặc dù nhiều cán bộ, công chức đã tiếp cận và sử dụng được các hệ thống thông tin trong quản lý hành chính, nhưng mức độ thành thạo và khả năng khai thác công nghệ khác nhau. Sự không đồng đều về năng lực số dẫn đến tình trạng “điểm nghẽn cục bộ” trong vận hành chính quyền số. Khi một số cán bộ, công chức có thể làm chủ công nghệ trong khi số khác còn hạn chế, tính liên thông và đồng bộ của hệ thống hành chính bị ảnh hưởng, làm giảm hiệu quả chung của toàn bộ bộ máy, đặc biệt trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ và xử lý dữ liệu thống nhất giữa các cấp.

Hai là, rào cản về điều kiện tiếp cận đào tạo và sự thiếu hụt cơ chế hỗ trợ phát triển năng lực số một cách thực chất. Mặc dù nhu cầu học tập, cập nhật kỹ năng số là rất lớn, song trong thực tế, không phải cán bộ công chức nào cũng có điều kiện tham gia đầy đủ các chương trình đào tạo, bồi dưỡng. Về mặt lý luận, đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật đào tạo mà là vấn đề chính sách và tổ chức thực thi. Khi cán bộ, công chức vừa phải đảm nhiệm khối lượng công việc hành chính lớn, vừa thiếu thời gian và nguồn lực để học tập, việc nâng cao năng lực số dễ bị gián đoạn hoặc mang tính hình thức. Do đó, nếu không có cơ chế hỗ trợ phù hợp về thời gian học tập, kinh phí đào tạo và nền tảng học tập số linh hoạt, quá trình nâng cao năng lực số sẽ khó đạt hiệu quả thực chất và bền vững.

Ba là, khó khăn trong đồng bộ dữ liệu, hạn chế về tư duy vận hành hệ thống số và bất cập trong đánh giá hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng. Quá trình vận hành chính quyền số ở cấp xã vẫn gặp một số khó khăn trong việc đồng bộ, tích hợp và khai thác dữ liệu. Điều này phản ánh không chỉ hạn chế về hạ tầng công nghệ mà còn cho thấy năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu vận hành hệ thống dữ liệu liên thông. Khi chưa nắm vững nguyên lý hoạt động của hệ thống dữ liệu số, cán bộ công chức khó có thể chủ động xử lý lỗi, phát hiện bất thường hoặc phối hợp hiệu quả giữa các hệ thống, từ đó ảnh hưởng đến tính ổn định của toàn bộ hệ thống hành chính số. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng, cán bộ, công chức cấp xã cũng cần hình thành tư duy tự học, khai thác tài nguyên số và cập nhật kỹ năng liên tục, nếu không sẽ khó đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của mô hình chính quyền số và quản trị hiện đại.

Thứ ba, một số vấn đề đặt ra

Một là, cần phải thu hẹp khoảng cách năng lực số và bảo đảm tính đồng đều trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Sự không đồng đều về năng lực số giữa các địa phương và giữa các nhóm cán bộ công chức đang tạo ra sự chênh lệch trong hiệu quả vận hành chính quyền số. Một bộ phận cán bộ công chức đã có khả năng sử dụng tương đối thành thạo các hệ thống số, trong khi vẫn còn nhóm cán bộ công chức gặp khó khăn trong thao tác cơ bản, dẫn đến tình trạng “không đồng nhịp” trong xử lý công việc.

Vấn đề đặt ra là phải có cơ chế thu hẹp khoảng cách này một cách thực chất, không chỉ dừng lại ở đào tạo đại trà mà cần chuyển sang tiếp cận theo năng lực. Cần phân loại năng lực số của cán bộ công chức theo từng nhóm đối tượng, từ đó thiết kế chương trình bồi dưỡng phù hợp với từng mức độ; cần tăng cường hỗ trợ cho các địa phương còn khó khăn về nguồn nhân lực và hạ tầng, nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong triển khai chính quyền số. Nếu không giải quyết được vấn đề này, nguy cơ hình thành sự phân hóa trong hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính cấp xã là rất rõ ràng.

Hai là, cần phải tháo gỡ rào cản về điều kiện đào tạo, bảo đảm cơ hội phát triển năng lực số cho cán bộ công chức cấp xã

Mặc dù nhu cầu nâng cao năng lực số của cán bộ công chức là rất lớn, nhưng thực tế cho thấy họ vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các chương trình đào tạo do hạn chế về thời gian, kinh phí và điều kiện tổ chức học tập. Vấn đề đặt ra là phải đổi mới mô hình đào tạo theo hướng linh hoạt và phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn. Cụ thể, cần đẩy mạnh đào tạo trực tuyến, học tập qua nền tảng số, học liệu mở và mô hình học tập cá nhân hóa để cán bộ, công chức có thể chủ động về thời gian và không gian học tập; cần có cơ chế hỗ trợ cụ thể về thời gian làm việc, kinh phí đào tạo và khuyến khích tự học; việc học tập cần được tích hợp vào quá trình làm việc thực tiễn thay vì tách rời, qua đó giúp việc nâng cao năng lực số trở thành một hoạt động thường xuyên, liên tục và gắn với nhu cầu công việc cụ thể. Nếu không giải quyết tốt vấn đề này, hoạt động đào tạo sẽ dễ rơi vào hình thức và khó tạo ra sự thay đổi thực chất trong năng lực của đội ngũ cán bộ công chức.

Ba là, nâng cao năng lực vận hành dữ liệu và hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả đào tạo trong môi trường chính quyền số

Năng lực vận hành dữ liệu của cán bộ, công chức cấp xã chưa thực sự tương thích với đòi hỏi cao của quá trình chuyển đổi số về khả năng khai thác, xử lý và liên thông dữ liệu giữa các hệ thống. Việc đồng bộ dữ liệu giữa các lĩnh vực như hộ tịch, dân cư, thuế hay cấp phép hành chính vẫn còn gặp khó khăn, một phần do hạn chế về hạ tầng, nhưng quan trọng hơn là hạn chế về năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức. Vấn đề đặt ra là phải nâng cao năng lực không chỉ ở mức sử dụng phần mềm mà còn ở mức hiểu và vận hành hệ thống dữ liệu. Cán bộ, công chức cần được trang bị tư duy dữ liệu, hiểu nguyên lý liên thông và biết cách xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình vận hành hệ thống số. Nếu không, nguy cơ gián đoạn dữ liệu, sai lệch thông tin và giảm hiệu quả xử lý công việc là rất lớn.

Song song với đó, công tác đào tạo hiện nay vẫn chưa có cơ chế đánh giá hiệu quả sau đào tạo một cách thực chất. Do đó, cần xây dựng hệ thống đánh giá dựa trên kết quả đầu ra, tức là đo lường sự thay đổi trong hiệu suất làm việc và khả năng ứng dụng kỹ năng số vào thực tiễn công vụ; cần có cơ chế phản hồi giữa đơn vị đào tạo và đơn vị sử dụng cán bộ để điều chỉnh nội dung đào tạo phù hợp hơn với yêu cầu thực tế.

2.4. Một số giải pháp nâng cao năng lực số cho cán bộ công chức cấp xã

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và chuyển đổi tư duy số trong đội ngũ cán bộ công chức cấp xã

Cần coi việc nâng cao nhận thức về năng lực số là bước khởi đầu mang tính quyết định, bởi hạn chế hiện nay không chỉ nằm ở kỹ năng mà còn ở tư duy tiếp cận công nghệ của một bộ phận cán bộ, công chức. Theo đó, cần đưa năng lực số trở thành tiêu chí bắt buộc trong đánh giá, xếp loại và quy hoạch cán bộ công chức, gắn trực tiếp với kết quả thực thi công vụ hằng năm. Khi năng lực số được “chuẩn hóa thành yêu cầu công vụ”, cán bộ công chức sẽ buộc phải chủ động thay đổi thay vì tiếp cận mang tính đối phó.

Cần thực hiện cơ chế “học từ thực tiễn công vụ”, tức là thay vì tuyên truyền hoặc tập huấn lý thuyết chung, cần tổ chức các hoạt động bắt buộc gắn với công việc hằng ngày như: xử lý hồ sơ trên hệ thống một cửa điện tử, sử dụng chữ ký số trong toàn bộ quy trình, cập nhật và khai thác dữ liệu dân cư, hoặc thực hành giải quyết tình huống hành chính trên nền tảng số. Nhận thức chỉ thực sự được chuyển hóa khi cán bộ, công chức trực tiếp trải nghiệm lợi ích của công nghệ trong giảm tải công việc, tăng tốc xử lý và hạn chế sai sót.

Cần thiết lập môi trường làm việc “số mặc định”, trong đó mọi quy trình có thể số hóa đều phải thực hiện trên nền tảng điện tử, hạn chế tối đa song song giấy tờ thủ công. Việc thay đổi môi trường tổ chức sẽ tạo áp lực tích cực, buộc cán bộ công chức phải thích ứng, từ đó hình thành thói quen sử dụng công nghệ và dần chuyển đổi tư duy từ “làm thủ công có hỗ trợ” sang “làm số hóa là chính”. Đây là điều kiện quan trọng để khắc phục tình trạng không đồng đều về năng lực số giữa các cá nhân.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế, chính sách đào tạo và bồi dưỡng năng lực số theo hướng thực chất, linh hoạt và gắn với vị trí việc làm

Cần xây dựng khung năng lực số chuẩn hóa cho từng vị trí việc làm ở cấp xã, làm cơ sở pháp lý và kỹ thuật để tổ chức đào tạo. Khung năng lực này phải xác định rõ từng nhóm kỹ năng bắt buộc như: kỹ năng sử dụng hệ thống một cửa điện tử, kỹ năng xử lý văn bản điện tử, kỹ năng khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia, kỹ năng phân tích dữ liệu phục vụ tham mưu, và kỹ năng sử dụng công cụ số trong tương tác với người dân. Việc chuẩn hóa này giúp khắc phục tình trạng đào tạo dàn trải, không trọng tâm.

Trên cơ sở khung năng lực, cần tổ chức đào tạo theo mô hình module hóa và cá nhân hóa theo khoảng trống năng lực, tức là mỗi cán bộ công chức được đánh giá mức độ thành thạo và chỉ học những nội dung còn thiếu. Cách tiếp cận này vừa tiết kiệm nguồn lực, vừa nâng cao hiệu quả đào tạo, đồng thời khắc phục hạn chế hiện nay là đào tạo không gắn với nhu cầu thực tế.

Cần phát triển mạnh hệ thống đào tạo trực tuyến và học liệu số mở, cho phép cán bộ công chức học linh hoạt về thời gian nhưng vẫn phải đảm bảo chuẩn đầu ra. Cơ chế đào tạo cần chuyển từ “đánh giá hoàn thành khóa học” sang “đánh giá năng lực ứng dụng thực tế”, thông qua các chỉ số như: tỷ lệ xử lý hồ sơ trực tuyến, mức độ sử dụng hệ thống liên thông, khả năng khai thác dữ liệu phục vụ công việc, và chất lượng xử lý tình huống thực tế.

Thứ ba, tăng cường đầu tư hạ tầng số, chuẩn hóa dữ liệu và nâng cao năng lực vận hành hệ thống liên thông

Cần tiếp tục đầu tư đồng bộ hạ tầng công nghệ ở cấp xã, bảo đảm đầy đủ các yếu tố: thiết bị đầu cuối, đường truyền internet ổn định, phần mềm dùng chung, hệ thống bảo mật và an toàn thông tin. Hạ tầng phải được thiết kế theo nguyên tắc thống nhất toàn hệ thống, tránh tình trạng mỗi địa phương sử dụng nền tảng riêng gây phân mảnh dữ liệu, giảm hiệu quả liên thông.

Đẩy mạnh chuẩn hóa và tích hợp cơ sở dữ liệu liên ngành, đặc biệt là các cơ sở dữ liệu cốt lõi như dân cư, hộ tịch, đất đai, tài chính ngân sách và thủ tục hành chính. Việc chuẩn hóa dữ liệu phải đi kèm với hướng dẫn vận hành cụ thể, giúp cán bộ công chức cấp xã hiểu rõ quy trình nhập liệu, cập nhật, khai thác và xử lý lỗi trong hệ thống.

Song song với đầu tư hạ tầng, cần tăng cường đào tạo thực hành trực tiếp trên hệ thống thật theo phương châm “làm đến đâu, học đến đó”, thay vì chỉ đào tạo lý thuyết. Việc xử lý hồ sơ thực tế trên nền tảng số sẽ giúp cán bộ, công chức hình thành kỹ năng vận hành nhanh hơn, đồng thời giảm sai sót trong quá trình thực thi công vụ.

Cần thiết lập cơ chế giám sát và đánh giá vận hành hệ thống theo thời gian thực dựa trên dữ liệu số như: thời gian xử lý hồ sơ, tỷ lệ lỗi hệ thống, mức độ sử dụng dịch vụ công trực tuyến, và mức độ liên thông dữ liệu giữa các bộ phận. Đây là cơ sở quan trọng để phát hiện điểm nghẽn trong vận hành, từ đó kịp thời điều chỉnh quy trình và hỗ trợ cán bộ, công chức nâng cao hiệu quả giải quyết công việc.

3. Kết luận

Nâng cao năng lực số cho cán bộ, công chức cấp xã là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Năng lực số không chỉ là công cụ hỗ trợ thực thi công vụ mà đã trở thành một trong những yếu tố quyết định chất lượng hoạt động của bộ máy hành chính cấp xã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Thực tiễn cho thấy quá trình chuyển đổi số đã mang lại nhiều kết quả tích cực như cải thiện hiệu suất xử lý hồ sơ, đẩy mạnh số hóa dữ liệu và mở rộng dịch vụ công trực tuyến, song vẫn còn tồn tại những hạn chế về năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

Việc nâng cao năng lực số cho cán bộ, công chức cấp xã cần được triển khai đồng bộ trên cả ba phương diện: nhận thức, cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện. Đây không chỉ là giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế hiện tại mà còn là điều kiện quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số; là nền tảng để thúc đẩy xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, hiệu quả và phục vụ tốt hơn người dân trong giai đoạn phát triển mới.

_________________

Ngày nhận bài: 31/5/2026; Ngày bình duyệt: 8/6/2025; Ngày quyết định đăng: 10/6/2026.

Email tác giả: phamquocthanhTBU@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2025). Thông tư 02/2025/TT-BGDĐT ngày 24/01/2025 quy định khung năng lực số cho người học. https://thuvienphapluat.vn.

Chính phủ (2025). Nghị định số 171/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức. https://thuvienphapluat.vn.

Cổng thông tin điện tử tỉnh Hưng Yên (2026). Hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp từ chuyển đổi số. https://hungyen.gov.vn.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

European Commission (2016). DigComp 2.0: The Digital Competence Framework for Citizens. pp.8-9.

European Commission (2022). DigComp Framework. https://joint-research-centre.ec.europa.eu.

Thu Giang (2025). Giảm tải cho cấp xã bằng chuyển đổi số: Bộ Khoa học và Công nghệ đào tạo 18.000 cán bộ cơ sở. Báo Điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn.

Tổng Bí thư Tô Lâm (2024). Tinh - Gọn - Mạnh - Hiệu năng - Hiệu lực - Hiệu quả. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn.

Bích Liên (2026). Nâng cao kỹ năng số cho cán bộ cấp xã. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn.

Trung tâm Truyền thông khoa học và Công nghệ (2025). Công nghệ số - Trụ cột hỗ trợ chính quyền địa phương 2 cấp và 5 nhóm giải pháp từ Bộ Khoa học và Công nghệ. https://mst.gov.vn.

UNESCO Institute of Statistics (2018). A global framework of reference on digital literacy skills for indicator 4.4.2. UIS information paper, 51. p. 6.

UNESCO (2018). Digital Literacy Global Framework (DLGF). https://connect.unevoc.unesco.org.

Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên (2025). Báo cáo số 735/BC-VPUB ngày 16/12/2025 về Tình hình thực hiện cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2025. tr.8-9, 12-13.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Nâng cao năng lực số của cán bộ, công chức cấp xã trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp ở tỉnh Hưng Yên
    POWERED BY