DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.9064
Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của người dân và doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh đối với bảo vệ môi trường sinh thái trên cơ sở tiếp cận mô hình Nhận thức - Thái độ - Hành vi (KAP). Từ đó, bài viết đề xuất mô hình chu trình truyền thông xanh tương tác dựa trên minh bạch hóa dữ liệu và tăng cường sự tham gia của cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông môi trường và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Bắc Ninh. Bài viết là kết quả nghiên cứu của Đề tài “Nghiên cứu đề xuất chu trình truyền thông hiệu quả nhằm tăng cường nhận thức của người dân và doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường sinh thái ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay”. Mã số: KXBN - 10(25)
PGS, TS TRẦN THANH GIANG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
TS NGUYỄN HỮU DŨNG
Học viện Chính trị khu vực IV

1. Mở đầu
Bắc Ninh đang đứng trước những cơ hội phát triển mới với mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030. Bắc Ninh xác định phát triển công nghiệp xanh và bền vững là một định hướng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ I (nhiệm kỳ 2025-2030) xác định mục tiêu xây dựng Bắc Ninh trở thành trung tâm công nghiệp hiện đại, phát triển theo hướng tăng trưởng xanh. Ủy ban nhân dân tỉnh ra Quyết định số 48/2025/QĐ-UBND ngày 23-10-2025 ban hành quy chế quản lý, vận hành hệ thống quan trắc môi trường tự động, liên tục trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Thực tiễn quản trị môi trường cho thấy, các giải pháp về thể chế và công nghệ chỉ có thể phát huy hiệu quả khi gắn với sự tham gia và thay đổi hành vi của cộng đồng. Bảo vệ môi trường sinh thái không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước mà còn đòi hỏi sự tham gia tích cực của người dân và doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, việc phân tích mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ và hành vi của các chủ thể xã hội - thường được tiếp cận thông qua mô hình Nhận thức - Thái độ - Hành vi (Knowledge - Attitude - Practice, KAP) - có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của các hoạt động truyền thông và quản lý môi trường.
Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát tại phường Võ Cường, phường Nam Sơn, xã Yên Phong, xã Yên Trung và một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh vào tháng 12-2025. Đối tượng khảo sát gồm người dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và đại diện doanh nghiệp. Nhóm nghiên cứu phát ra tổng số 400 phiếu, trung bình 50 phiếu tại mỗi địa bàn xã, phường và 20 phiếu tại cơ quan, doanh nghiệp được lựa chọn khảo sát; thu về 326 phiếu hợp lệ và sử dụng làm cơ sở phân tích thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của các chủ thể đối với bảo vệ môi trường sinh thái tại địa phương. Dữ liệu khảo sát được xử lý theo hướng thống kê mô tả kết hợp phân tích định tính nhằm làm rõ mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ và hành vi trong bảo vệ môi trường sinh thái.
Bài viết phân tích thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của người dân và doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh đối với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái theo cách tiếp cận mô hình KAP. Trên cơ sở dữ liệu khảo sát thực tế kết hợp với phân tích các văn bản định hướng phát triển của địa phương năm 2025 - 2026, nghiên cứu chỉ ra khoảng cách giữa nhận thức và hành vi trong thực hành bảo vệ môi trường của cộng đồng. Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù nhận thức và thái độ của người dân và doanh nghiệp đối với bảo vệ môi trường sinh thái ở mức tương đối cao, song việc chuyển hóa thành hành vi thực tiễn vẫn còn hạn chế do những rào cản về hạ tầng kỹ thuật và hiệu quả truyền thông chính sách. Đồng thời, bài viết đề xuất mô hình “chu trình truyền thông xanh tương tác” nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách môi trường tại địa phương.
2. Nội dung
2.1. Thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của người dân và doanh nghiệp đối với bảo vệ môi trường sinh thái tại Bắc Ninh
Thứ nhất, nhận thức về bảo vệ môi trường sinh thái
Kết quả khảo sát cho thấy, nhận thức của người dân Bắc Ninh về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường sinh thái ở mức cao. Trong số các đối tượng được khảo sát, có 82,8% cho rằng bảo vệ môi trường sinh thái là “rất quan trọng” và 16,6% đánh giá là “quan trọng”. Như vậy, tổng cộng 99,4% số người được hỏi nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề bảo vệ môi trường đối với đời sống hiện nay.
Bảng 1. Nhận thức của người dân về tầm quan trọng của bảo vệ môi trường sinh thái
| Mức độ đánh giá | Tỷ lệ (%) |
| Rất quan trọng | 82,8 |
| Quan trọng | 16,6 |
| Bình thường | 0,6 |
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu (2025)
Tuy nhiên, khi xem xét nhóm công nhân và người lao động tại các cơ sở sản xuất, mức độ nhận thức có sự khác biệt nhất định. Tỷ lệ người lao động cho rằng bảo vệ môi trường là “rất quan trọng” đạt 55%, thấp hơn so với nhóm cư dân nói chung; đồng thời có khoảng 35% đánh giá vấn đề này ở mức “bình thường”. Điều này cho thấy: đối với nhóm lao động trực tiếp, các yếu tố như thu nhập, điều kiện làm việc và áp lực sản xuất có thể làm giảm mức độ ưu tiên đối với các vấn đề môi trường dài hạn.
Bảng 2. So sánh nhận thức giữa các nhóm đối tượng khảo sát
| Nhóm khảo sát | Rất quan trọng (%) | Bình thường (%) |
| Người dân | 82,8 | 0,6 |
| Công nhân | 55 | 35 |
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu (2025)
Về khả năng nhận diện các vấn đề môi trường nổi cộm, người dân Bắc Ninh cho rằng ô nhiễm không khí (70,7%), rác thải sinh hoạt và công nghiệp (67,7%) và ô nhiễm nguồn nước (50,3%) là những vấn đề đáng quan tâm nhất. Ngoài ra, có 44,3% số người được hỏi nhận thấy các biểu hiện của biến đổi khí hậu như nắng nóng kéo dài hoặc mưa lớn bất thường đang xuất hiện rõ hơn trong những năm gần đây.
Bảng 3. Các vấn đề môi trường được người dân quan tâm
| Vấn đề môi trường | Tỷ lệ (%) |
| Ô nhiễm không khí | 70,7 |
| Rác thải sinh hoạt và công nghiệp | 67,7 |
| Ô nhiễm nguồn nước | 50,3 |
| Biến đổi khí hậu | 44,3 |
Nguồn: Khảo sát của nhóm nghiên cứu (2025)
Đối với nhóm công nhân và người lao động, các vấn đề môi trường được nhận diện chủ yếu gắn với không gian sản xuất. Hai vấn đề được đề cập nhiều nhất là tình trạng nước thải chưa được xử lý đúng quy trình và ô nhiễm tiếng ồn (cùng chiếm khoảng 40%). Ngoài ra, các yếu tố như bụi, hóa chất trong không khí và việc sử dụng năng lượng chưa hiệu quả cũng được nhiều người lao động quan tâm.
Thứ hai, thái độ của người dân và doanh nghiệp đối với bảo vệ môi trường
Kết quả khảo sát cho thấy, đa số người dân Bắc Ninh thể hiện thái độ tích cực đối với bảo vệ môi trường sinh thái. 100% số người được hỏi cho rằng những hành động nhỏ của cá nhân có thể góp phần cải thiện môi trường sống. Điều này phản ánh sự chuyển biến trong nhận thức xã hội, khi người dân ngày càng ý thức rõ hơn về trách nhiệm của mình đối với các vấn đề môi trường.
Tuy nhiên, khi phân định vai trò giữa các chủ thể trong bảo vệ môi trường, phần lớn người dân vẫn cho rằng chính quyền đóng vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vấn đề môi trường, tiếp đến là cộng đồng dân cư và doanh nghiệp. Điều này cho thấy, mặc dù người dân sẵn sàng tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, nhưng vẫn kỳ vọng Nhà nước đóng vai trò điều phối và định hướng chính sách.
Đối với nhóm người lao động trong các doanh nghiệp, phần lớn cho rằng bảo vệ môi trường là trách nhiệm của tất cả các chủ thể trong xã hội. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng các hoạt động bảo vệ môi trường tại doanh nghiệp chưa thực sự trở thành một phần của văn hóa doanh nghiệp.
Thứ ba, hành vi thực tế trong bảo vệ môi trường
Về hành vi trong đời sống sinh hoạt, các hành vi bảo vệ môi trường gắn với lợi ích kinh tế trực tiếp, như tiết kiệm điện và nước trong sinh hoạt, được thực hiện khá phổ biến trong cộng đồng. Khoảng 90% người dân cho biết thường xuyên thực hiện các hành vi như tiết kiệm điện, nước trong sinh hoạt. Ngoài ra, các hành vi như hạn chế sử dụng túi nilon hoặc lên án các hành vi gây ô nhiễm môi trường cũng được nhiều người thực hiện.
Tuy nhiên, một số hành vi đòi hỏi sự thay đổi thói quen sinh hoạt, như phân loại rác thải tại nguồn, vẫn chưa được thực hiện thường xuyên. Một trong những nguyên nhân được nhiều người dân đề cập là hệ thống thu gom rác thải chưa được tổ chức đồng bộ, khiến việc phân loại rác tại hộ gia đình chưa phát huy hiệu quả.
Đối với nhóm công nhân và người lao động, các hành vi bảo vệ môi trường tại nơi làm việc chủ yếu mang tính tuân thủ quy định của doanh nghiệp, như thực hiện đúng quy trình xử lý chất thải hoặc tiết kiệm vật tư, năng lượng trong sản xuất. Trong khi đó, các hành vi mang tính chủ động, như đề xuất sáng kiến cải thiện môi trường làm việc hoặc nhắc nhở đồng nghiệp khi có hành vi gây ô nhiễm, vẫn còn hạn chế.
Từ các kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù nhận thức và thái độ của người dân và doanh nghiệp đối với bảo vệ môi trường sinh thái ở mức tương đối cao, nhưng việc chuyển hóa thành hành vi thực tiễn vẫn còn khoảng cách nhất định. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là sự thiếu đồng bộ của hạ tầng kỹ thuật, hạn chế trong truyền thông chính sách và thiếu cơ chế khuyến khích hành vi bảo vệ môi trường trong cộng đồng.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, giữa ba yếu tố nhận thức, thái độ và hành vi trong bảo vệ môi trường tồn tại một khoảng cách nhất định. Mặc dù nhận thức và thái độ của người dân và doanh nghiệp đối với bảo vệ môi trường sinh thái ở mức tương đối cao, nhưng việc chuyển hóa thành hành vi thực tiễn chưa hoàn toàn tương xứng. Hiện tượng này phản ánh khoảng cách giữa nhận thức và hành vi thường được đề cập trong các nghiên cứu về hành vi xã hội và truyền thông môi trường. Trong nhiều trường hợp, việc nâng cao nhận thức chưa đủ để thúc đẩy thay đổi hành vi nếu thiếu các điều kiện hỗ trợ như hạ tầng kỹ thuật, cơ chế khuyến khích hoặc môi trường chính sách phù hợp. Do đó, để thúc đẩy hành vi bảo vệ môi trường trong cộng đồng, các hoạt động truyền thông chính sách cần gắn với việc cải thiện các điều kiện thực thi và tạo động lực xã hội cho các hành vi thân thiện với môi trường.
Để khái quát kết quả khảo sát theo mô hình KAP, bảng 4 tổng hợp các biểu hiện chính của nhận thức, thái độ và hành vi của người dân và doanh nghiệp đối với bảo vệ môi trường sinh thái tại tỉnh Bắc Ninh.
Bảng 4. Tổng hợp nhận thức, thái độ và hành vi bảo vệ môi trường sinh thái (KAP)

Thứ tư, phân tích tổng hợp mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ và hành vi
Kết quả khảo sát cho thấy, giữa ba yếu tố nhận thức, thái độ và hành vi trong bảo vệ môi trường sinh thái tồn tại mối quan hệ tương đối chặt chẽ nhưng chưa hoàn toàn đồng bộ. Nhìn chung, mức độ nhận thức của người dân và doanh nghiệp đối với vấn đề môi trường ở Bắc Ninh khá cao, thể hiện qua tỷ lệ gần như tuyệt đối những người được khảo sát đánh giá bảo vệ môi trường là vấn đề quan trọng. Điều này phản ánh hiệu quả nhất định của các hoạt động truyền thông môi trường và các chương trình tuyên truyền của địa phương trong thời gian qua.
Tuy nhiên, sự chuyển hóa từ nhận thức sang hành vi thực tế còn những khoảng trống đáng chú ý. Một số hành vi bảo vệ môi trường mang tính tự nguyện và đòi hỏi sự thay đổi thói quen sinh hoạt, như phân loại rác thải tại nguồn hoặc giảm sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần, vẫn chưa được thực hiện thường xuyên trong cộng đồng. Điều này cho thấy, mặc dù nhận thức về môi trường đã được nâng cao, nhưng các điều kiện hỗ trợ hành vi, như hệ thống hạ tầng thu gom rác thải hoặc các cơ chế khuyến khích cụ thể, vẫn chưa thực sự đồng bộ.
Ngoài ra, sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng khảo sát cũng cho thấy yếu tố môi trường kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi bảo vệ môi trường. Nhóm công nhân và người lao động trong các cơ sở sản xuất thường có mức độ quan tâm thấp hơn so với nhóm cư dân nói chung. Nguyên nhân có thể xuất phát từ đặc thù môi trường làm việc, áp lực sản xuất cũng như mức độ tiếp cận thông tin về các vấn đề môi trường còn hạn chế.
Từ góc độ truyền thông chính sách, kết quả khảo sát gợi mở rằng các hoạt động truyền thông môi trường không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà cần hướng tới việc tạo lập các điều kiện hỗ trợ thay đổi hành vi trong cộng đồng. Điều này đòi hỏi sự kết hợp giữa truyền thông, cơ chế chính sách và hạ tầng kỹ thuật nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hình thành các hành vi thân thiện với môi trường trong xã hội.
2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông bảo vệ môi trường sinh thái tại Bắc Ninh
Từ kết quả phân tích thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của người dân và doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh cho thấy, mặc dù nhận thức và thái độ đối với bảo vệ môi trường sinh thái ở mức tương đối cao, nhưng việc chuyển hóa thành hành vi thực tiễn vẫn còn khoảng cách đáng kể. Khoảng cách này không chỉ xuất phát từ hạn chế trong truyền thông chính sách mà còn từ sự thiếu đồng bộ của các điều kiện thực thi, đặc biệt là hạ tầng kỹ thuật, cơ chế quản lý và các yếu tố điều chỉnh hành vi trong cộng đồng.
Trong bối cảnh tỉnh Bắc Ninh mới được hình thành trên cơ sở sáp nhập Bắc Ninh và Bắc Giang (từ ngày 01-7-2025), không gian phát triển kinh tế - xã hội được mở rộng, theo đó là sự đa dạng về điều kiện dân cư, sản xuất và các vấn đề môi trường. Điều này đòi hỏi các giải pháp truyền thông môi trường không chỉ dừng lại ở nâng cao nhận thức mà phải được thiết kế theo hướng gắn với điều kiện thực thi và cơ chế điều chỉnh hành vi phù hợp với từng không gian phát triển.
Trên cơ sở đó, việc nâng cao hiệu quả truyền thông môi trường cần được tiếp cận theo hướng tích hợp giữa truyền thông, hạ tầng kỹ thuật, thể chế quản lý và các yếu tố văn hóa - xã hội. Trong đó, truyền thông đóng vai trò khởi tạo nhận thức, hành vi được hình thành và duy trì thông qua hệ thống điều kiện thực thi và áp lực chuẩn mực trong cộng đồng.
Đối với khu dân cư, các hành vi như phân loại rác thải tại nguồn, giảm sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần hay tham gia giám sát môi trường chỉ có thể được duy trì khi có đầy đủ các điều kiện hạ tầng như hệ thống thùng rác phân loại, điểm thu gom hợp lý và quy trình vận chuyển - xử lý đồng bộ. Tuy nhiên, các điều kiện này cần được vận hành gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát và các quy định cụ thể tại cộng đồng dân cư.
Đối với khu vực sản xuất, hành vi bảo vệ môi trường của người lao động và doanh nghiệp chịu tác động trực tiếp của hệ thống thể chế nội bộ, bao gồm quy trình kiểm soát môi trường, hệ thống giám sát và cơ chế đánh giá, khen thưởng. Việc hình thành hành vi bền vững trong khu vực này đòi hỏi sự kết hợp giữa quy định pháp lý, quản trị doanh nghiệp và các cơ chế khuyến khích phù hợp.
Như vậy, việc thu hẹp khoảng cách giữa nhận thức và hành vi trong bảo vệ môi trường đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa truyền thông chính sách, điều kiện hạ tầng, thiết chế quản lý và các chuẩn mực xã hội. Đây cũng là cơ sở để đề xuất mô hình truyền thông môi trường theo hướng tương tác và gắn với điều kiện thực thi trong thực tiễn.
Đề xuất mô hình “Chu trình truyền thông xanh tương tác”
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất mô hình Chu trình truyền thông xanh tương tác (Green Interactive Cycle - GIC) nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông môi trường trong bối cảnh phát triển mới của tỉnh Bắc Ninh. Mô hình này nhấn mạnh sự kết nối giữa dữ liệu môi trường, hoạt động truyền thông, các điều kiện thực thi hành vi, thiết chế quản lý và sự tham gia của cộng đồng.
Khác với phương thức truyền thông một chiều truyền thống, mô hình GIC được thiết kế như một chu trình liên tục, trong đó thông tin môi trường không chỉ được truyền tải mà còn được chuyển hóa thành hành vi thông qua các cơ chế thực thi và điều chỉnh xã hội.
Sơ đồ 1. Chu trình truyền thông xanh tương tác (GIC)

Nguồn: Đề xuất của nhóm tác giả trên cơ sở kết quả nghiên cứu
Chu trình truyền thông xanh tương tác gồm bốn giai đoạn cơ bản:
Thứ nhất, minh bạch hóa dữ liệu môi trường gắn với trách nhiệm giải trình
Sử dụng hệ thống quan trắc môi trường tự động để công khai các chỉ số môi trường theo thời gian thực tại các khu công nghiệp, làng nghề và khu dân cư. Việc minh bạch dữ liệu không chỉ cung cấp thông tin mà còn tạo áp lực xã hội và trách nhiệm giải trình, qua đó thúc đẩy các chủ thể điều chỉnh hành vi theo các chuẩn mực môi trường.
Thứ hai, cá nhân hóa nội dung truyền thông gắn với điều kiện thực thi
Các hoạt động truyền thông cần được thiết kế phù hợp với từng nhóm đối tượng và từng không gian phát triển. Nội dung truyền thông không chỉ dừng lại ở cung cấp thông tin mà phải hướng dẫn các hành vi cụ thể gắn với điều kiện hạ tầng và quy trình thực tế, qua đó giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng thực hiện và duy trì hành vi bảo vệ môi trường.
Thứ ba, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng gắn với cơ chế giám sát xã hội
Phát huy vai trò của người dân, các tổ chức chính trị - xã hội và người lao động trong việc giám sát các vấn đề môi trường. Sự tham gia này giúp chuyển đổi vai trò của cộng đồng từ đối tượng tiếp nhận thông tin sang chủ thể thực hành và kiểm soát hành vi môi trường.
Thứ tư, thiết lập cơ chế phản hồi và củng cố chuẩn mực hành vi
Xây dựng cơ chế phản hồi hai chiều giữa cơ quan quản lý và cộng đồng, đồng thời áp dụng các hình thức ghi nhận, khen thưởng và chế tài phù hợp nhằm củng cố và duy trì các hành vi tích cực. Đây là yếu tố quan trọng để hình thành các chuẩn mực hành vi bền vững trong xã hội.
Bốn giai đoạn này tạo thành một chu trình truyền thông xanh tương tác liên tục, trong đó truyền thông đóng vai trò khởi tạo, còn hành vi được hình thành, điều chỉnh và duy trì thông qua hệ thống điều kiện thực thi và các cơ chế xã hội.
Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả truyền thông môi trường tại Bắc Ninh:
Thứ nhất, đối với cơ quan quản lý nhà nước
Cần ưu tiên hoàn thiện đồng bộ hệ thống hạ tầng môi trường trên toàn địa bàn tỉnh, đặc biệt là hệ thống phân loại, thu gom và xử lý rác thải phù hợp với đặc điểm của từng khu vực. Thí dụ, tại các khu đô thị và khu dân cư tập trung, cần triển khai đồng bộ hệ thống thùng rác phân loại theo màu sắc gắn với lịch thu gom cố định theo từng loại rác, đồng thời kết hợp cơ chế kiểm tra, giám sát và chế tài đối với hành vi không tuân thủ. Tại khu vực nông thôn, cần tổ chức các điểm tập kết rác liên thôn, liên xã gắn với mô hình tổ tự quản môi trường, đồng thời lồng ghép các quy định về bảo vệ môi trường vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư nhằm tạo áp lực xã hội và hình thành chuẩn mực hành vi.
Thứ hai, đối với doanh nghiệp và khu công nghiệp
Cần hoàn thiện hệ thống quản trị môi trường nội bộ theo hướng tăng cường giám sát và trách nhiệm giải trình. Tại các khu công nghiệp, có thể triển khai hệ thống giám sát tự động gắn với công khai dữ liệu xả thải theo thời gian thực; tại các làng nghề, cần phát triển các mô hình xử lý chất thải tập trung kết hợp với cơ chế giám sát cộng đồng. Đồng thời, cần xây dựng các cơ chế khuyến khích người lao động tham gia bảo vệ môi trường, như sáng kiến nhằm tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải. Ví dụ, các doanh nghiệp trong khu công nghiệp có thể áp dụng cơ chế chấm điểm môi trường nội bộ gắn với đánh giá thi đua hằng quý; trong khi tại các làng nghề, có thể thí điểm mô hình “tổ sản xuất xanh” với cam kết và giám sát lẫn nhau giữa các hộ sản xuất.
Thứ ba, đối với các cơ quan truyền thông và hệ thống chính trị cơ sở
Cần đổi mới nội dung và phương thức truyền thông theo hướng cụ thể hóa hành vi, gắn thông điệp với điều kiện thực thi tại từng địa bàn. Tại khu vực đô thị, đẩy mạnh các nền tảng truyền thông số, tại khu vực nông thôn, cần phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong việc hướng dẫn trực tiếp và duy trì các hành vi bảo vệ môi trường. Thí dụ, tại khu vực đô thị có thể triển khai các ứng dụng số tạo điều kiện để người dân phản ánh vi phạm môi trường kèm hình ảnh; tại khu vực nông thôn, các tổ chức xã hội có thể tổ chức sinh hoạt định kỳ gắn với hướng dẫn thực hành phân loại rác và giám sát việc thực hiện trong cộng đồng.
Thứ tư, đối với cộng đồng dân cư
Khuyến khích xây dựng các mô hình cộng đồng tự quản về môi trường gắn với việc giám sát và duy trì hành vi. Thí điểm triển khai tại một số địa bàn trọng điểm theo hướng đồng bộ, có đánh giá định kỳ, từ đó rút kinh nghiệm và nhân rộng ra các khu vực lân cận, tiến tới áp dụng trên phạm vi toàn tỉnh.
Thí dụ, mở rộng các mô hình “khu dân cư phân loại rác tại nguồn” hoặc “tuyến đường xanh - sạch- đẹp” do cộng đồng tự quản, trong đó các hộ gia đình cam kết thực hiện và được giám sát, đánh giá định kỳ theo tiêu chí cụ thể.
3. Kết luận
Nghiên cứu thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của người dân và doanh nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh đối với bảo vệ môi trường sinh thái cho thấy cộng đồng đã hình thành nhận thức và thái độ tích cực đối với vấn đề môi trường. Phần lớn các chủ thể đều nhận thức được tầm quan trọng của bảo vệ môi trường sinh thái và sẵn sàng tham gia các hoạt động liên quan. Đây là nền tảng xã hội quan trọng để địa phương triển khai các chính sách phát triển theo hướng tăng trưởng xanh và bền vững.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, còn tồn tại khoảng cách giữa nhận thức và hành vi trong thực hành bảo vệ môi trường của cộng đồng. Nhiều hành vi bảo vệ môi trường chưa được thực hiện thường xuyên hoặc chưa trở thành thói quen trong đời sống và sản xuất. Khoảng cách này phản ánh vấn đề phổ biến trong các kết quả nghiên cứu về hành vi xã hội, khi việc nâng cao nhận thức chưa đủ để thúc đẩy thay đổi hành vi nếu thiếu các điều kiện thực thi phù hợp. Trong trường hợp tỉnh Bắc Ninh, các nguyên nhân chủ yếu bao gồm sự thiếu đồng bộ của hạ tầng kỹ thuật, hạn chế trong hiệu quả truyền thông chính sách và chưa có các cơ chế đủ mạnh để khuyến khích và duy trì hành vi bảo vệ môi trường.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ và hành vi trong bảo vệ môi trường tại địa phương, cơ sở, đồng thời đề xuất cách tiếp cận truyền thông môi trường theo hướng tích hợp giữa truyền thông, điều kiện hạ tầng, thể chế quản lý và sự tham gia của cộng đồng. Điểm nhấn là mô hình chu trình truyền thông xanh tương tác, trong đó truyền thông không chỉ đóng vai trò nâng cao nhận thức mà còn góp phần định hướng, thúc đẩy và duy trì hành vi thông qua các cơ chế thực thi và điều chỉnh xã hội.
Việc triển khai mô hình này cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh, trước hết thông qua thí điểm tại các địa bàn trọng điểm như khu đô thị, khu công nghiệp, làng nghề và khu vực nông thôn, bảo đảm tính đồng bộ giữa truyền thông, hạ tầng và thể chế. Trên cơ sở kết quả thí điểm, các giải pháp có thể được điều chỉnh, hoàn thiện và từng bước nhân rộng ra các khu vực lân cận, tiến tới áp dụng trên phạm vi toàn tỉnh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
_________________
Ngày nhận: 31-3-2026; Ngày bình duyệt: 17-4-2026; Ngày quyết định đăng: 6-5-2026.
Email tác giả: giangttvnu@gmail.com