Thực tiễn

Phát triển thị trường du lịch tỉnh Bắc Ninh - cơ hội và định hướng chiến lược

24/04/2026 10:47

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.2738
Tóm tắt: Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2020 - 2024, ngành du lịch đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng, tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của các lĩnh vực không đồng đều. Bài viết nghiên cứu thực trạng thị trường du lịch tỉnh Bắc Ninh trước hợp nhất, từ đó đề xuất những giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh sau hợp nhất hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang với những định hướng lớn. Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu phát triển thị trường trọng điểm cho ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh”.

ThS NGUYỄN HẢI LIÊN
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
TS NGUYỄN HOA MAI

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

i1-dulich.vnecdn.net-2022-05-12-_hoi-lim-bac-ninh-2332-1652337260.jpg
Mỗi năm, Hội Lim thu hút khoảng 10 vạn lượt du khách tham dự trong các ngày hội chính (12-14 tháng Giêng), với các hoạt động nổi bật_Ảnh: Báo Nhân dân

1. Mở đầu

Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16-01-2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch vùng đồng bằng sông Hồng đang chứng kiến sự cạnh tranh giữa các điểm đến văn hóa - tâm linh. Tỉnh Bắc Ninh, với 1.589 di tích, 4 di tích quốc gia đặc biệt và di sản Quan họ được UNESCO công nhận, sở hữu lợi thế độc đáo nhưng vẫn chưa khai thác tương xứng tiềm năng. Số liệu năm 2024 cho thấy nghịch lý: doanh thu lữ hành tăng 140,9% trong khi lưu trú - ăn uống chỉ tăng 3,4%, phản ánh hiện tượng “khách đến nhiều nhưng ít ở lại” (Chi cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2025).

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 18-5-2023 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững đã nhấn mạnh phương châm “Sản phẩm đặc sắc - Dịch vụ chuyên nghiệp - Thủ tục thuận tiện, đơn giản - Giá cả cạnh tranh - Môi trường vệ sinh sạch, đẹp - Điểm đến an toàn, văn minh, thân thiện”. Đây là định hướng then chốt để tỉnh Bắc Ninh xây dựng thương hiệu du lịch mới có sức cạnh tranh khu vực.

Đặc biệt, theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12-6-2025 của Quốc hội về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, từ ngày 01-7-2025, tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang chính thức hợp nhất, tỉnh Bắc Ninh mới với quy mô dân số, diện tích và nguồn lực du lịch lớn hơn đáng kể. Đây là bối cảnh hoàn toàn mới, đòi hỏi phải xem xét lại chiến lược phát triển du lịch trong không gian địa lý rộng hơn, kết hợp di sản Quan họ Bắc Ninh với di sản thiên nhiên - văn hóa Bắc Giang (Tây Yên Tử, dân ca Soọng Cô, lễ hội Xương Giang).

2. Nội dung

2.1. Thực trạng thị trường du lịch tỉnh Bắc Ninh

Về quy mô và cơ cấu thị trường

Thị trường du lịch tỉnh Bắc Ninh hậu Covid-19 ghi nhận sự phục hồi và tăng trưởng tích cực nhưng cấu trúc phát triển còn thiếu cân đối. Năm 2024, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 102.967 tỷ đồng, tăng 12,6% so với 2023 (Chi cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2025), trong đó các ngành gắn trực tiếp với du lịch có sự phân hóa trong tăng trưởng đáng chú ý:

Một là, lĩnh vực lữ hành phục hồi mạnh nhất với mức tăng 140,9% năm 2024. Đây là một bước bứt phá cho thấy nhu cầu du lịch tiềm năng là rất lớn và hạ tầng giao thông liên vùng đã phát huy tác động tích cực. Tuy nhiên, tăng trưởng lữ hành chủ yếu phản ánh lưu lượng khách đi qua địa bàn, chưa phản ánh mức độ gắn bó của khách với điểm đến.

Hai, lĩnh vực dịch vụ khác tăng 28,8%, minh chứng cho nhu cầu tiêu dùng giải trí - văn hóa tại lễ hội và sự kiện đang gia tăng.

Ba, lĩnh vực lưu trú - ăn uống chỉ tăng 3,4%, mức tăng thấp nhất trong ba nhóm và thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng lượng khách (Chi cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2025). Hiện tượng này là do tỉnh vẫn thiếu các dịch vụ hấp dẫn khách du lịch ở lại qua đêm, bên cạnh đó giao thông thuận tiện và Bắc Ninh gần các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, dẫn đến khách hạn chế lưu trú qua đêm dù lượng khách đến tăng. Điều này khiến Bắc Ninh vẫn bị định vị như một “điểm ghé qua” hơn là một “điểm đến ở lại”.

Về phân khúc thị trường và hành vi của du khách

Cơ cấu khách du lịch Bắc Ninh năm 2024 phản ánh một thị trường còn đang ở giai đoạn phát triển sơ khai, khi sức hút chủ yếu vẫn dựa vào lợi thế địa lý gần Hà Nội hơn là năng lực cạnh tranh nội tại của điểm đến. Sự phụ thuộc cao vào thị trường nội địa với tỷ trọng 93,2% khách trong nước, với phần lớn tập trung ở phân khúc khách văn hóa - lễ hội (58%), khách tham quan di tích - làng nghề (28%) và khách MICE (nhóm khách du lịch kết hợp hội họp, khen thưởng, hội thảo và sự kiện/triển lãm) có quy mô vừa (14%) (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, 2024). Số liệu này phản ánh đúng lợi thế tài nguyên của tỉnh, nhưng lại cho thấy một rủi ro cơ cấu đáng lo ngại: ba phân khúc này đều có đặc điểm chung là chi tiêu thấp, lưu trú ngắn và tần suất trở lại không cao. Một thị trường du lịch lành mạnh không chỉ cần đông khách, mà cần đúng khách - những người ở lại đủ lâu, chi tiêu đủ nhiều và gắn bó đủ sâu để tạo ra giá trị kinh tế bền vững.

Đối tương khách quốc tế có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, từ 27.000 lượt (năm 2022) lên 61.000 lượt (năm 2024), mức tăng 126% chỉ trong hai năm (Tổng cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2024). Với Bắc Giang, trong tổng số 2,6 triệu lượt khách, có 22.000 lượt khách quốc tế, 2.578.000 lượt khách trong nước, tăng 27% so với năm 2023 và đạt 104% kế hoạch đề ra năm 2024 (Hà Yến, 2024). Đây là tín hiệu cho thấy Bắc Ninh, Bắc Giang đang dần xuất hiện trên bản đồ du lịch quốc tế, bởi sức lan tỏa của thương hiệu di sản Quan họ, Khu Du lịch tâm linh - sinh thái Tây Yên Tử và sự phát triển của các khu công nghiệp FDI thu hút chuyên gia nước ngoài. Tuy nhiên, 65% lượng khách quốc tế đến từ ba thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc, cho thấy cơ cấu nguồn khách thiếu đa dạng. Đây là một điểm dễ tổn thương khi các thị trường này gặp biến động do địa chính trị, dịch bệnh hay chính sách thị thực…

Về năng lực cung ứng dịch vụ

Hệ thống cung ứng dịch vụ du lịch Bắc Ninh năm 2024 có sự tăng trưởng về lượng với 402 cơ sở lưu trú với 8.200 phòng. Trong đó, 25 cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn từ 3 sao trở lên, chiếm 6,2% (Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, 2025). Theo thống kê, toàn tỉnh Bắc Giang hiện có 445 cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch gồm: 1 khách sạn 4 sao, 10 khách sạn 3 sao, 30 khách sạn 1 - 2 sao, còn lại là cơ sở kinh doanh nhà nghỉ với khoảng 5.000 phòng, chủ yếu tập trung ở thành phố Bắc Giang và hơn 1.200 cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống (Vi Lệ Thanh, 2024). Trong khi đó, Quảng Ninh có 18% cơ sở đạt chuẩn 4-5 sao, Ninh Bình 15% và Hà Nội 22% (Bảng 1). Điều này phản ánh một chiến lược phát triển lưu trú chưa được định hướng rõ ràng về phân khúc chất lượng mục tiêu. Hệ quả được phản ánh trực tiếp qua tỷ lệ lấp đầy 62% - thấp hơn 14 điểm so với Ninh Bình (76%), thấp hơn 12 điểm so với Hà Nội (74%) và thấp hơn tới 18 điểm so với Quảng Ninh (80%) (Bảng 1). Tuy nhiên, là tỷ lệ lấp đầy thấp trong bối cảnh lượng khách đang tăng mạnh. Nguyên nhân là do phần lớn khách đến Bắc Ninh không ở lại qua đêm, khiến công suất buồng phòng hiện hữu, dù chưa nhiều, vẫn không được khai thác hiệu quả. Đây là biểu hiện rõ ràng nhất của việc thiếu sản phẩm đêm hấp dẫn, dẫn đến khách không ở lại, khiến nhà đầu tư muốn đầu tư vào lưu trú chất lượng cao; từ đó lại tiếp tục làm suy yếu khả năng giữ chân khách.

Bảng 1. Năng lực lưu trú của các tỉnh năm 2024

Chỉ tiêuBắc NinhQuảng NinhNinh BìnhHà Nội
Số cơ sở lưu trú4025803201.250
Tổng số phòng8.20032.00012.50048.000
Tỷ lệ cơ sở lưu trú 4-5 sao (%)6,218,015,022,0
Tỷ lệ lấp đầy (%)62807674

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo các tỉnh

2.2. Yêu cầu đặt ra đối với phát triển thị trường du lịch tỉnh Bắc Ninh

Một là, yêu cầu từ bối cảnh mới

Sự kiện hợp nhất tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang từ ngày 01-7-2025 là bối cảnh lịch sử có ý nghĩa đặc biệt đối với phát triển du lịch. Tỉnh Bắc Ninh mới hình thành kết hợp hai hệ thống tài nguyên du lịch bổ sung lẫn nhau: Bắc Ninh với di sản Quan họ, 1.589 di tích lịch sử - văn hóa, làng nghề truyền thống; Bắc Giang với Quần thể di tích Tây Yên Tử, Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Rỗ, chè Bắc Giang, vải thiều Lục Ngạn và bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số. Quy mô không gian du lịch mở rộng tạo điều kiện hình thành các tuyến du lịch liên hoàn 3 - 4 ngày.

Hai là, yêu cầu từ bối cảnh hội nhập và cạnh tranh

Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 18-5-2023 của Chính phủ yêu cầu các địa phương “đa dạng hóa hình thức, sản phẩm du lịch, chú trọng liên kết giữa du lịch với các ngành khác trong chuỗi giá trị, gắn với phát triển xanh, bền vững và phương châm lấy trải nghiệm của khách du lịch làm trung tâm”. Đây là một mệnh lệnh chính sách xuất phát từ yêu cầu của thực tế. Trong bối cảnh ASEAN Tourism Strategic Plan 2026 - 2030 đặt mục tiêu 600 triệu lượt khách nội khối (ASEAN 2024), cùng sức ép cạnh tranh giữa các điểm đến văn hóa - tâm linh trong vùng đồng bằng sông Hồng sẽ ngày càng gay gắt hơn. Khi dòng khách tăng mà các điểm đến không kịp nâng cấp năng lực cạnh tranh về chất, thiếu sức hấp dẫn có chiều sâu, kết quả tất yếu là bị loại khỏi lựa chọn của du khách.

Lợi thế cạnh tranh bền vững của Bắc Ninh chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa di sản văn hóa phi vật thể Quan họ với hệ sinh thái thiên nhiên - tâm linh Tây Yên Tử; giữa không gian đô thị - làng nghề - sông nước trữ tình của vùng Kinh Bắc với cảnh quan rừng núi hùng vĩ của Đông Bắc Bộ. Nói cách khác, chiến lược định vị phù hợp nhất cho tỉnh không phải là “to hơn” hay “nhiều hơn”, mà là “khác hơn” và “sâu hơn”.

Ba là, yêu cầu xây dựng chuỗi giá trị và liên kết không gian

Phân tích chuỗi giá trị du lịch Bắc Ninh cho thấy một thực trạng là “chuỗi đứt đoạn”: các điểm đến đơn lẻ có thể hấp dẫn, nhưng các mắt xích để kết nối, như lưu trú, ăn uống, giải trí đêm, và vận tải liên điểm, còn quá yếu để tạo ra một hành trình liền mạch có khả năng giữ chân du khách nhiều ngày. Khiến cho dù tài nguyên du lịch phong phú và phân bố trên một không gian địa lý không quá rộng, vẫn không thể thuyết phục du khách ở lại, bởi mỗi điểm đến đang tồn tại như một ốc đảo trải nghiệm riêng lẻ, thay vì là một mắt xích trong chuỗi hành trình có logic và nhịp độ. Đây là lý do chính quyền tỉnh Bắc Ninh xác định việc đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống hạ tầng điểm du lịch và các tuyến giao thông kết nối các di sản văn hóa tiêu biểu là nhiệm vụ cấp thiết (Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, 2022).

Bốn là, yêu cầu về nguồn nhân lực và chuyển đổi số

Trong chuỗi các điểm nghẽn cấu trúc của du lịch Bắc Ninh, nguồn nhân lực là điểm nghẽn có tính nền tảng nhất. Việc phát triển nguồn nhân lực chưa được đầu tư tương xứng với tốc độ phát triển của ngành. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chất lượng dịch vụ không ổn định, ảnh hưởng đến trải nghiệm của du khách và việc giữ chân khách lưu trú dài ngày. Bên cạnh đó, chuyển đổi số là xu hướng tất yếu đối với ngành du lịch Việt Nam, là cơ hội để ngành du lịch nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

2.3. Giải pháp phát triển thị trường du lịch tỉnh Bắc Ninh

Một là, định vị thị trường và chiến lược thương hiệu du lịch tỉnh Bắc Ninh

Căn cứ vào phương châm phát triển du lịch mà Nghị quyết số 82/NQ-CP của Chính phủ đặt ra là “Sản phẩm đặc sắc - Dịch vụ chuyên nghiệp - Thủ tục thuận tiện, đơn giản - Giá cả cạnh tranh - Môi trường vệ sinh sạch, đẹp - Điểm đến an toàn, văn minh, thân thiện”, tỉnh Bắc Ninh cần nhanh chóng định vị thương hiệu thị trường của mình trên cơ sở khai thác giá trị di sản sẵn có, được vận hành một cách toàn diện, từ sản phẩm đến dịch vụ, từ hạ tầng đến nhân lực, từ truyền thông đến chính sách.

Hai là, phát triển sản phẩm du lịch đêm

Vấn đề của du lịch đêm Bắc Ninh không chỉ là thiếu một không gian biểu diễn hay một con phố ẩm thực, mà còn là thiếu một chuỗi trải nghiệm đêm có khả năng giữ chân du khách để giải bài toán lưu trú.

Xây dựng mô hình “Không gian Quan họ đêm” là mắt xích trung tâm và có tính biểu tượng cao nhất trong hệ sinh thái du lịch đêm, trong đó không gian biểu diễn với tiêu chuẩn nghệ thuật cao, được đặt trong khu vực có giá trị cảnh quan và được vận hành với quy trình dịch vụ chuyên nghiệp. Có thể tổ chức tại những điểm du lịch nổi tiếng như: hồ Lim, đền Đô và Nhà hát Dân ca Quan họ của tỉnh.

Bên cạnh đó, thiết kế, lắp đặt hệ thống chiếu sáng nghệ thuật tại các di tích trọng điểm của tỉnh, như Chùa Phật Tích, Chùa Dâu, Đền Đô… nhằm tạo ra hành trình đi bộ đêm kết nối các di tích trong bán kính hợp lý. Kinh nghiệm từ hệ thống chiếu sáng nghệ thuật Đền Hùng đã thu hút 2,5 triệu lượt khách/năm và tăng doanh thu du lịch địa phương lên 35% (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ, 2023).

Hình thành hệ thống chợ đêm ẩm thực - văn hóa Kinh Bắc. Quy hoạch chợ đêm tại các vị trí trung tâm du lịch của tỉnh, giúp tạo không gian tiêu dùng kết hợp ẩm thực địa phương với mua sắm các sản phẩm thủ công và biểu diễn nghệ thuật dân gian. Trong đó, chú trọng các hoạt động mang bản sắc Bắc Ninh như: hát Quan họ, trải nghiệm là tranh Đông Hồ, không gian thưởng trà và tìm hiểu về các làng nghề; biến chợ đêm từ nơi mua sắm thành một không gian văn hóa mang bản sắc địa phương.

Việc sáp nhập tỉnh Bắc Giang giúp bổ sung ba sản phẩm đêm tham gia vào chuỗi trải nghiệm là: không gian trải nghiệm tâm linh Tây Yên Tử; lễ hội ẩm thực vải thiều Lục Ngạn; chương trình nghệ thuật dân ca Soọng Cô. Sự kết hợp này không phải là phép cộng số học của các hoạt động đêm riêng lẻ - mà là tập hợp của một “chuỗi đêm văn hóa” trải dài trên toàn không gian tỉnh Bắc Ninh mới, trong đó mỗi điểm đêm đảm nhận một sắc thái cảm xúc khác nhau: sôi động ở đồng bằng Kinh Bắc, huyền bí ở núi rừng Tây Yên Tử, dân dã ở vùng cây trái Lục Ngạn. Du khách có thể dành tới ba đêm ở ba không gian văn hóa hoàn toàn khác nhau mà không cần rời khỏi địa bàn tỉnh - đó là điều mà không điểm đến đơn lẻ nào trong vùng đồng bằng sông Hồng hiện có thể cung cấp.

Ba là, xây dựng liên kết vùng

Bắc Ninh cần xác định tuyến liên vùng chiến lược với tư duy thiết kế sản phẩm có chiều sâu, mỗi tuyến được xây dựng trên một logic trải nghiệm riêng biệt, không chỉ đơn giản là ghép nối các điểm đến theo địa lý. Cụ thể:

Liên kết với Hà Nội để xây dựng một hành trình di sản có chiều sâu lịch sử nghìn năm: từ kinh đô Thăng Long đến vùng đất phát tích vương triều Lý (Từ Sơn, Bắc Ninh), rồi lên đến nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông khai sáng Thiền phái Trúc Lâm (Tây Yên Tử). Đây là tuyến duy nhất trong vùng có thể kể một câu chuyện liên tục về văn minh Đại Việt từ đồng bằng lên núi rừng, một lợi thế mà không hành trình du lịch nào khác trong khu vực sở hữu.

Tuyến làng nghề Bắc Bộ từ Bát Tràng qua Đông Hồ, Phù Lãng, Đồng Kỵ đến chè Bắc Giang có tiềm năng thương mại cao nhất với phân khúc khách quốc tế yêu thích nghề thủ công truyền thống, đang có xu hướng tăng trưởng mạnh toàn cầu. Tuyến lễ hội Xuân kết nối Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình khai thác tính thời vụ như một lợi thế thay vì hạn chế, biến mùa lễ hội đầu năm thành thời điểm du lịch cao điểm có chủ đích. Tuyến MICE mở rộng từ Hà Nội qua Bắc Ninh đến Hạ Long kết hợp ba phân khúc dịch vụ cao cấp: hội nghị chuyên nghiệp, trải nghiệm văn hóa đặc sắc và nghỉ dưỡng biển.

Bốn là, phát triển nguồn nhân lực và chuyển đổi số trong ngành du lịch

Để xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển ngành du lịch, tỉnh Bắc Ninh cần liên kết với các trường, doanh nghiệp trong đào tạo, tập trung vào ba chuyên ngành cốt lõi là hướng dẫn viên di sản, quản lý MICE và marketing số.

Trong chuyển đổi số ngành du lịch, cần chú trọng hình thành bản đồ số du lịch, tích hợp dịch vụ đặt chỗ, thanh toán điện tử, AI chatbot đa dạng ngôn ngữ; kết hợp với các hoạt động trải nghiệm thực tế ảo (VR/AR) tại các di tích. Điều này không chỉ thuận tiện cho du khách mà còn là hệ thống thu thập dữ liệu hành vi du lịch theo thời gian thực, cho phép cơ quan quản lý đưa ra quyết định chính sách dựa trên bằng chứng thay vì cảm tính.

Năm là, huy động nguồn lực trong phát triển di lịch

Phát triển triển ngành du lịch không chỉ yêu cầu hành động từ phía cơ quan nhà nước mà cần thu hút các nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp vào tỉnh. Trong đó, cần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thu hút đầu tư du lịch, khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh, nhất là các nhà đầu tư chiến lược tham gia đầu tư phát triển các dự án du lịch lớn, có sức ảnh hưởng và lan tỏa mạnh mẽ.

Bên cạnh các ưu đãi về thuế và đất đai, các tập đoàn du lịch lớn khi lựa chọn địa điểm đầu tư sẽ quan tâm đến nhiều yếu tố, như: sự thuận tiện trong giải quyết thủ tục hành chính, chất lượng quy hoạch và sự ổn định chính sách theo thời gian, năng lực của chính quyền địa phương trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh, và quan trọng nhất là khả năng sinh lời thực tế của thị trường. Nói cách khác, ưu đãi tốt nhất mà chính quyền có thể trao cho nhà đầu tư chiến lược là sự chắc chắn rằng môi trường đầu tư ổn định, dự đoán được và công bằng trong suốt vòng đời dự án.

3. Kết luận

Việc hợp nhất Bắc Ninh - Bắc Giang từ ngày 01-7-2025 tạo ra cơ hội lịch sử để du lịch tỉnh Bắc Ninh bứt phá. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa lữ hành bứt phá và dịch vụ lưu trú - ăn uống tăng chậm phản ánh vấn đề “khách đến nhiều nhưng ở lại ít” do thiếu sản phẩm đêm và tỷ lệ điểm đến đạt chuẩn thấp khiến du lịch của Bắc Ninh không phát triển bền vững.

Để phát triển ngành du lịch tỉnh, giải pháp quan trọng là định vị thị trường du lịch trọng điểm; phát triển kinh tế đêm; liên kết vùng; phát triển nguồn nhân lực; chuyển đổi số và thu hút đầu tư cho ngành du lịch tỉnh. phát triển kinh tế ban đêm thông qua ba trụ cột: không gian “Quan họ đêm”, tuyến ánh sáng di tích và hệ thống chợ đêm ẩm thực - văn hóa Kinh Bắc. Đồng thời, kết hợp chuẩn hóa các điểm du lịch, liên kết vùng chiến lược; tập trung giải quyết ba yếu tố then chốt là nguồn nhân lực, chuyển đổi số toàn diện, và thu hút các nhà đầu tư lớn.

Với quyết tâm chính trị, nguồn lực phù hợp và tổ chức thực hiện bài bản, tỉnh Bắc Ninh hoàn toàn có thể trở thành điểm đến hàng đầu vùng đồng bằng sông Hồng về du lịch di sản, kinh tế đêm và du lịch thiên nhiên tâm linh, thực hiện mục tiêu đến năm 2030, đưa Bắc Ninh trở thành một trong những trung tâm du lịch văn hóa lớn của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và của cả nước.

Ngày nhận: 10-3-2026; Ngày bình duyệt: 17-3-2026; Ngày duyệt đăng: 23-4-2026.

Email tác giả: hoamainguyen1982@gmail.com

Tài liệu trích dẫn:

(1) ASEAN (2024). ASEAN tourism strategic plan 2025-2030. ASEAN Secretariat.

(2) Chi cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2025). Niên giám thống kê Bắc Ninh năm 2024. Nxb Thống kê.

(3) Hà Yến (26-11-2024). Năm 2024, lượng khách du lịch đến Bắc Giang tăng 27% so cùng kỳ năm 2023. https://dulichbacgiang.gov.vn

(4) Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh (2024). Báo cáo tổng kết công tác văn hóa, thể thao và du lịch năm 2024.

(5) Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ (2023). Báo cáo tác động kinh tế hệ thống chiếu sáng di tích Đền Hùng.

(6) Tổng cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2024). Niên giám thống kê Bắc Ninh năm 2024. Nxb Thống kê.

(7) Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2022). Quyết định số 406/QĐ-UBND ngày 19/9/2022 phê duyệt Đề án “Phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030”.

(8) Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2025). Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

(9) Vi Lệ Thanh (21-8-2024). Bắc Giang: Nâng cấp dịch vụ lưu trú, “giữ chân” du khách. https://vietnamtourism.gov.vn/

1

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Phát triển thị trường du lịch tỉnh Bắc Ninh - cơ hội và định hướng chiến lược
    POWERED BY