DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1059
Tóm tắt: Bài viết đề xuất khung lý thuyết hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gồm bốn trụ cột giáo dục, đào tạo; doanh nghiệp và thị trường lao động; đổi mới sáng tạo và thể chế, chính sách. Trên cơ sở phân tích thực trạng, bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu quy hoạch đến năm 2050.
TS NGUYỄN THỊ THANH NHÀN
Vụ Các trường chính trị
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Trong nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng và khả năng thực thi quy hoạch phát triển của mỗi địa phương. Lực lượng này giữ vai trò trung tâm trong tiếp nhận, làm chủ và sáng tạo công nghệ, qua đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giá trị gia tăng cao và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, xây dựng hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là cách tiếp cận phù hợp nhằm bảo đảm sự gắn kết giữa đào tạo, sử dụng và đổi mới sáng tạo (OECD, 2019).
Từ ngày 01-7-2025, tỉnh Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang hợp nhất thành tỉnh mới lấy tên là tỉnh Bắc Ninh; hình thành không gian phát triển mới với quy mô dân số hơn 3,6 triệu người (Dương Ngô Ninh, 2025). Sự hiện diện của các tập đoàn công nghệ tại các khu công nghiệp trọng điểm đã đưa Bắc Ninh trở thành cực tăng trưởng công nghiệp của vùng. Theo Quy hoạch tỉnh, địa phương hướng tới trung tâm công nghiệp công nghệ cao và đô thị hiện đại (Chính phủ, 2023). Tuy nhiên, khoảng cách giữa yêu cầu phát triển và năng lực cung ứng nhân lực vẫn còn lớn, đặc biệt là thiếu nhân lực kỹ thuật cao và R&D. Do đó, cần tiếp cận phát triển nhân lực theo hệ sinh thái liên kết chặt chẽ giữa giáo dục, doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và thể chế chính sách (World Bank, 2020).
2. Nội dung
2.1. Lý luận về xây dựng hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu quy hoạch của địa phương cấp tỉnh
Khái niệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau trong các nghiên cứu kinh tế và quản lý phát triển. Trong kinh tế học cổ điển và tân cổ điển, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được đặt trên nền tảng lý thuyết vốn nhân lực, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò then chốt đối với tăng trưởng kinh tế thông qua ứng dụng tri thức, kỹ năng chuyên sâu và năng lực lao động có giá trị gia tăng cao. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đầu tư vào giáo dục, đào tạo như là các yếu tố cốt lõi nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là lực lượng lao động có trình độ cao, từ đó cải thiện năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Các nghiên cứu hiện đại mở rộng phạm vi phân tích khi cho rằng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là kết quả của hệ thống giáo dục, đào tạo, mà còn là sản phẩm của môi trường kinh tế, xã hội rộng lớn hơn, trong đó bao gồm doanh nghiệp, thị trường lao động và các thiết chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Theo cách tiếp cận này, chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao phụ thuộc vào khả năng tương tác và liên kết giữa các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Becker, G. S, 1993).
Trên cơ sở đó, cách tiếp cận hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được hình thành, trong đó nhấn mạnh sự tồn tại của nhiều trụ cột có tính liên kết chặt chẽ, bao gồm hệ thống giáo dục, đào tạo; khu vực doanh nghiệp; thị trường lao động và môi trường đổi mới sáng tạo. Hệ sinh thái này không chỉ tạo ra nguồn cung nhân lực chất lượng cao mà còn quyết định khả năng hấp thụ, sử dụng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế. Hiệu quả của hệ sinh thái phụ thuộc vào mức độ liên kết và tương tác giữa các trụ cột, cũng như vai trò điều phối của thể chế và chính sách công (OECD, 2021).
Trong bối cảnh phát triển kinh tế gắn với quy hoạch phát triển địa phương, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là một yếu tố cấu thành quan trọng của cấu trúc phát triển. Các lý thuyết về kinh tế không gian cho rằng phân bố nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn chặt với sự hình thành các cực tăng trưởng, các cụm liên kết ngành và hệ thống đô thị. Do đó, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là vấn đề của cung lao động, mà còn là quá trình phân bố và tái phân bố nguồn lực theo định hướng không gian phát triển và chiến lược quy hoạch của địa phương (Healey, P, 2007).
Từ cách tiếp cận trên, xây dựng hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở cấp tỉnh có thể được hiểu là tổng thể các mối quan hệ tương tác giữa hệ thống giáo dục, đào tạo; doanh nghiệp, thị trường lao động; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và môi trường thể chế, chính sách, nhằm tạo ra, thu hút, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao cho mục tiêu phát triển của địa phương. Hệ sinh thái này vận hành thông qua sự liên kết giữa các trụ cột, trong đó thể chế đóng vai trò điều phối, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm sử dụng và dẫn dắt nhu cầu, còn hệ thống giáo dục, đào tạo đảm nhiệm chức năng cung ứng và phát triển nguồn nhân lực (World Bank, 2019).
Khung phân tích xây dựng hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có thể được xác định theo bốn trụ cột chính, gồm: (i) hệ thống giáo dục, đào tạo; (ii) doanh nghiệp và thị trường lao động; (iii) hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; (iv) thể chế, chính sách. Bốn trụ cột này không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ tương tác chặt chẽ, tạo thành một cấu trúc động, trong đó sự thiếu hụt hoặc yếu kém của một trụ cột sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ sinh thái (UNESCO, 2015). Khung phân tích đánh giá xây dựng hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao dựa trên bốn trụ cột và bốn phương diện kết quả đầu ra.
Bảng 1. Khung phân tích xây dựng hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu quy hoạch của địa phương cấp tỉnh
| Trụ cột của hệ sinh thái | Quy mô nguồn nhân lực | Cơ cấu nhân lực | Chất lượng nhân lực | Năng lực hấp thụ tri thức, công nghệ |
| Giáo dục, đào tạo | Số lượng học sinh, sinh viên và học viên đào tạo nghề | Cơ cấu ngành đào tạo, tỷ trọng nhóm ngành STEM, kỹ thuật công nghệ | Trình độ chuyên môn, tỷ lệ lao động qua đào tạo, kỹ năng số và công nghệ | Mức độ liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, khả năng chuyển giao tri thức |
| Doanh nghiệp và thị trường lao động | Quy mô lao động trong các ngành công nghiệp chủ lực | Cơ cấu nghề nghiệp theo trình độ, phân bố lao động theo ngành công nghệ cao | Năng suất lao động, kỹ năng công nghệ của lực lượng lao động trong doanh nghiệp | Mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, khả năng tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ FDI |
| Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo | Số lượng tổ chức nghiên cứu, trung tâm R&D, doanh nghiệp khoa học, công nghệ | Cơ cấu lĩnh vực nghiên cứu, tỷ trọng đầu tư cho R&D theo ngành công nghệ cao | Số lượng và trình độ nhân lực nghiên cứu, số lượng công bố và bằng sáng chế | Năng lực thương mại hóa công nghệ, chuyển giao tri thức từ nghiên cứu vào sản xuất |
| Thể chế và chính sách | Quy mô đầu tư công cho giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ | Cơ cấu chính sách hỗ trợ đào tạo, thu hút nhân tài và phát triển nguồn nhân lực | Hiệu quả thực thi chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao | Môi trường thể chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo, liên kết trường - viện - doanh nghiệp |
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Khung phân tích này được sử dụng để đánh giá thực trạng từng trụ cột trong hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn vừa qua, từ đó xác định những khoảng cách so với yêu cầu quy hoạch phát triển của tỉnh đến năm 2050.
2.2. Thực trạng xây dựng hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Bắc Ninh và những khoảng cách so với yêu cầu quy hoạch
Bắc Ninh và tỉnh Bắc Giang hợp nhất, hình thành không gian phát triển mới với quy mô kinh tế và thị trường lao động lớn. Tuy nhiên, do hệ thống số liệu thống kê hiện nay vẫn được thu thập theo đơn vị hành chính cũ, phần phân tích dưới đây sử dụng dữ liệu của tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang (trước sáp nhập) đến năm 2024, đồng thời đặt trong bối cảnh không gian phát triển mới sau hợp nhất nhằm bảo đảm tính nhất quán về phương pháp và độ tin cậy của dữ liệu. Thực trạng xây dựng hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Bắc Ninh được nhận diện theo bốn trụ cột như sau:
(1) Trụ cột giáo dục, đào tạo. Trước khi sáp nhập, về quy mô, hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp tại Bắc Ninh và Bắc Giang đã phát triển đáng kể, góp phần mở rộng khả năng cung ứng lao động kỹ thuật cho nền kinh tế. Bắc Ninh có 56 cơ sở, Bắc Giang có 37 cơ sở, với quy mô tuyển sinh tương đối lớn, phản ánh nỗ lực mở rộng mạng lưới đào tạo (Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2023). Tuy nhiên, về cơ cấu, các ngành đào tạo tập trung vào lĩnh vực gia công, lắp ráp, trong khi các ngành STEM, công nghệ cao và kỹ thuật chuyên sâu còn hạn chế, chưa bám sát định hướng chuyển dịch sang công nghiệp công nghệ cao.
Về chất lượng, năm 2024, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 75-78% ở tỉnh Bắc Ninh cũ và 70-72% ở Bắc Giang (Nguyễn Thị Huyền Trang, 2026). Tuy nhiên, chất lượng đào tạo còn khoảng cách so với yêu cầu của doanh nghiệp công nghệ cao, đặc biệt về kỹ năng thực hành và năng lực công nghệ. Sự liên kết, hợp tác giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp đã hình thành nhưng chưa mang tính hệ thống, dẫn đến tình trạng lệch pha cung - cầu lao động. Như vậy, hạn chế chủ yếu ở cơ cấu, chất lượng và mức độ liên kết đào tạo.
Bảng 2. Trụ cột giáo dục, đào tạo năm 2024
| Chỉ tiêu | Bắc Ninh | Bắc Giang | Đơn vị |
| Quy mô dân số | ~1,5 | ~1,9 | Triệu người |
| Tỷ lệ lao động qua đào tạo | 75-78 | 70-72 | % |
| Số cơ sở giáo dục nghề nghiệp | 56 | 37 | Cơ sở |
| - Trường cao đẳng | 13 | 4 | Trường |
| - Trường trung cấp | 18 | 6 | Trường |
| - Trung tâm GDNN | 17 | 14 | Trung tâm |
| - Cơ sở khác | 8 | 13 | Cơ sở |
| Định hướng đào tạo | Công nghiệp, điện tử | Công nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao | Định tính |
Nguồn: tổng hợp của tác giả (Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2024); (Nguyễn Thị Hương, 2026); (Thy Thảo, 2024).
(2) Trụ cột doanh nghiệp và thị trường lao động. Về quy mô, khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), phát triển mạnh tại Bắc Ninh và Bắc Giang, thu hút lượng lớn lao động trong các khu công nghiệp điện tử và sản xuất thông minh, qua đó mở rộng nhanh thị trường lao động và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa. Về cơ cấu, lao động trong khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm khoảng 53,92 % ở Bắc Ninh (Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2024) và 55-60% ở Bắc Giang, phản ánh xu hướng chuyển dịch rõ nét sang sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, lao động vẫn tập trung ở các khâu gia công, lắp ráp, trong khi tỷ trọng ở các khâu giá trị gia tăng cao như thiết kế, R&D còn hạn chế.
Về chất lượng và năng lực hấp thụ công nghệ, năng suất lao động được cải thiện nhưng lao động phổ thông vẫn chiếm tỷ trọng lớn; nhân lực trình độ cao chủ yếu do doanh nghiệp FDI thu hút từ bên ngoài, cho thấy năng lực cung ứng tại chỗ còn hạn chế, đồng thời doanh nghiệp trong nước gặp khó khăn trong tiếp nhận công nghệ từ khu vực FDI và mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa chưa chặt chẽ, làm giảm mức độ tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu (Samsung Newsroom, 2024). Như vậy, hạn chế chính nằm ở chất lượng lao động, cơ cấu việc làm và năng lực hấp thụ công nghệ.
Bảng 3. Trụ cột doanh nghiệp và thị trường lao động năm 2024
| Chỉ tiêu | Bắc Ninh | Bắc Giang | Đơn vị |
| Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng | ~70 | 55–60 | % |
| Tỷ trọng dịch vụ | ~22 | 25–30 | % |
| Vai trò khu vực FDI | Chủ đạo | Tăng nhanh | Định tính |
| Tăng trưởng GRDP | 6,03 | >13 | % |
| Cơ cấu lao động | Công nghiệp lắp ráp | Chuyển dịch công nghiệp | Định tính |
Nguồn: tổng hợp của tác giả
(3) Trụ cột hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Về quy mô và cơ cấu đầu tư, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Bắc Ninh và Bắc Giang còn ở giai đoạn phát triển ban đầu, với số lượng tổ chức nghiên cứu, trung tâm R&D và doanh nghiệp khoa học công nghệ còn hạn chế; hoạt động R&D chủ yếu tập trung trong khu vực doanh nghiệp FDI, trong khi khu vực trong nước và các cơ sở nghiên cứu chưa đóng vai trò nổi bật, đồng thời tỷ trọng chi cho khoa học và công nghệ so với GRDP vẫn ở mức thấp, chưa hình thành nền tảng công nghệ đủ mạnh để hỗ trợ chuyển dịch sang các ngành công nghiệp công nghệ cao và phản ánh sự thiếu hụt đầu tư dài hạn cho đổi mới sáng tạo và công nghệ nội sinh; bên cạnh đó, liên kết giữa viện - trường - doanh nghiệp chưa hình thành hệ thống chuyển giao tri thức hiệu quả, khiến kết quả nghiên cứu khó đi vào sản xuất (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025).
Về chất lượng, đội ngũ nhân lực nghiên cứu còn thiếu cả về số lượng và trình độ; năng lực sáng tạo công nghệ còn hạn chế (WIPO, 2025). Như vậy, hạn chế cốt lõi nằm ở năng lực nội sinh yếu, phụ thuộc FDI và thiếu cơ chế liên kết hiệu quả.
Bảng 4. Trụ cột đổi mới sáng tạo, năm 2024
| Chỉ tiêu | Bắc Ninh | Bắc Giang | Đơn vị |
| Xếp hạng PII | Top 10 (48,76 điểm) | Top 10 | Điểm |
| Định hướng công nghệ | Bán dẫn, điện tử | AI, chuyển đổi số | Định tính |
| Chi KH&CN/GRDP | Thấp | Đang tăng | % |
| Vai trò R&D | Chủ yếu FDI | Đang hình thành | Định tính |
Nguồn: tác giả tổng hợp
(4). Trụ cột thể chế và chính sách. Về quy mô đầu tư công, chính quyền địa phương đã dành nguồn lực đầu tư cho giáo dục, đào tạo và các chương trình phát triển nguồn nhân lực, qua đó tạo nền tảng bước đầu cho hình thành hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng và thu hút nhân tài được triển khai tương đối đồng bộ, góp phần cải thiện khả năng cung ứng lao động cho nền kinh tế địa phương (Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2023).
Về cơ cấu chính sách, tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang đều ban hành các cơ chế thu hút và đãi ngộ nhân lực trình độ cao gắn với định hướng phát triển, trong đó Bắc Ninh tập trung vào công nghệ cao và sản xuất thông minh, Bắc Giang chú trọng các lĩnh vực mũi nhọn như bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (An Trân, 2024). Về thực thi, một số chương trình đã mang lại kết quả tích cực như hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng mô hình nhà máy thông minh, cải tiến sản xuất và thu hút lao động, nhưng hiệu quả lan tỏa còn hạn chế và chưa tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng nguồn nhân lực. Về môi trường thể chế, cơ chế điều phối tổng thể hệ sinh thái chưa rõ ràng, sự phối hợp giữa các chủ thể còn phân tán, đặc biệt trong bối cảnh mở rộng không gian phát triển liên tỉnh (Đỗ Thành Nam, 2026). Như vậy, khoảng cách cốt lõi không nằm ở thiếu chính sách, mà ở thiếu cơ chế điều phối tích hợp.
Bảng 5. Một số chính sách phát triển nhân lực tại Bắc Ninh và Bắc Giang trước hợp nhất

Nguồn: tác giả tổng hợp (An Trân, 2024); (Đỗ Thành Nam, 2026).
(5). Đánh giá tổng hợp: Hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh Bắc Ninh đã hình thành những nền tảng quan trọng nhờ quá trình công nghiệp hóa nhanh và sự phát triển mạnh của khu vực doanh nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, nếu đặt trong mục tiêu quy hoạch đến năm 2050 với định hướng trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao và đô thị hiện đại của vùng Thủ đô, hệ sinh thái này vẫn tồn tại những khoảng cách đáng kể, cụ thể là: (i) quy mô nguồn nhân lực lớn nhưng chất lượng và cấu trúc kỹ năng chưa theo kịp tốc độ chuyển dịch của nền kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao và R&D; (ii) cơ cấu đào tạo vẫn chịu ảnh hưởng của mô hình công nghiệp gia công, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển các ngành công nghệ cao và dịch vụ tri thức; (iii) chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhất là ở các khâu nghiên cứu, thiết kế và đổi mới sáng tạo; (iv) hệ sinh thái đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực trung tâm, do liên kết giữa nhà trường - doanh nghiệp - viện nghiên cứu còn lỏng lẻo; (v) thể chế điều phối còn thiếu, dẫn đến sự phân tán trong triển khai chính sách. Những khoảng cách này được thể hiện rõ hơn qua bảng tổng hợp dưới đây.
Bảng 6. Khoảng cách hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
| Tiêu chí | Thực trạng 2024 | Yêu cầu 2050 | Khoảng cách |
| Quy mô | Lao động phổ thông lớn | Nhân lực công nghệ cao | Thiếu kỹ sư, R&D |
| Cơ cấu | Gia công - lắp ráp | Công nghệ cao | Lệch kỹ năng |
| Chất lượng | Đào tạo tăng nhưng chưa sâu | Nhân lực số, AI | Thiếu chuyên gia |
| ĐMST | Có nhưng phụ thuộc FDI | Nội sinh | Thiếu trung tâm R&D |
| Thể chế | Có chính sách | Điều phối hệ sinh thái | Thiếu liên kết |
Nguồn: tác giả tổng hợp (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025); (An Trân, 2024); (Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2024); (Đỗ Thành Nam, 2026).
Những khoảng cách trên cho thấy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không thể tiếp tục được tiếp cận theo cách thức truyền thống dựa chủ yếu vào mở rộng đào tạo, mà cần được đặt trong một chiến lược tổng thể xây dựng và hoàn thiện hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bảo đảm tính tích hợp, liên thông và thích ứng với không gian phát triển mới của tỉnh.
2.3. Dự báo nhu cầu và giải pháp hoàn thiện hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050
Nhu cầu nhân lực công nghệ cao của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tới được dự báo tăng nhanh cả về quy mô và mức độ chuyên môn hóa. Dự báo này được xây dựng trên cơ sở kế thừa và tích hợp các định hướng phát triển ngành công nghiệp công nghệ cao trong các quy hoạch đã được phê duyệt trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, bao gồm Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh do Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh, cụ thể hóa trong các quyết định triển khai ở cấp địa phương (Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh, 2025) và Quy hoạch tỉnh Bắc Giang do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Thủ tướng Chính phủ, 2024). Trên cơ sở đó, nếu năm 2025 tổng nhu cầu nhân lực công nghệ cao của toàn tỉnh ở mức khoảng 255 nghìn người thì đến năm 2030 nhu cầu tăng lên khoảng 420 nghìn người và đến năm 2050 lên gần 780 nghìn người. Cụ thể như sau:
Bảng 7. Dự báo nhu cầu nhân lực công nghệ cao của tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030 và 2050
Đơn vị tính: người
| Lĩnh vực công nghệ cao | Nhu cầu 2025 | Dự báo 2030 | Dự báo 2050 |
| Điện tử và sản xuất linh kiện | 220.000 | 300.000 | 420.000 |
| Công nghiệp bán dẫn | 3.000 | 15.000 | 45.000 |
| Tự động hóa và robot công nghiệp | 8.000 | 25.000 | 70.000 |
| Công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo | 12.000 | 40.000 | 120.000 |
| Logistics công nghệ cao | 10.000 | 30.000 | 90.000 |
| Nghiên cứu - phát triển (R&D) | 2.500 | 10.000 | 35.000 |
| Tổng | 255.500 | 420.000 | 780.000 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp và dự báo
Cơ cấu dự báo theo từng lĩnh vực phản ánh trực tiếp định hướng phát triển các ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh theo quy hoạch đã được phê duyệt. Khoảng cách giữa nhu cầu nhân lực công nghệ cao theo quy hoạch phát triển đến năm 2050 và năng lực cung ứng hiện nay không chỉ thể hiện ở quy mô thiếu hụt, mà còn phản ánh sự lệch pha về cơ cấu và hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực. Điều này đòi hỏi các giải pháp phát triển phải được thiết kế theo tiếp cận hệ sinh thái, bảo đảm tính tích hợp và liên kết giữa các trụ cột. Cụ thể là:
Thứ nhất, đối với trụ cột giáo dục, đào tạo: Giải pháp trọng tâm là hình thành các trung tâm đào tạo nhân lực công nghệ cao theo không gian công nghiệp của tỉnh. Cụ thể, tại cực công nghiệp Yên Phong, Quế Võ, VSIP, cần xây dựng các trung tâm đào tạo chuyên sâu về điện tử, bán dẫn và sản xuất thông minh, gắn trực tiếp với nhu cầu của các tập đoàn như Samsung, Canon, Amkor. Tại cực công nghiệp Quang Châu, Vân Trung, Đình Trám, cần phát triển các chương trình đào tạo về logistics công nghệ cao, tự động hóa và quản trị chuỗi cung ứng. Chủ thể triển khai là Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với các doanh nghiệp FDI lớn và các cơ sở đào tạo trọng điểm, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò “đặt hàng”, còn cơ sở đào tạo tổ chức thực hiện. Công cụ chính là cơ chế hợp đồng đào tạo theo nhu cầu và quỹ phát triển nhân lực công nghệ cao của tỉnh. Giải pháp này nhằm trực tiếp xử lý bài toán thiếu hụt quy mô nhân lực kỹ thuật cao và nhân lực R&D.
Thứ hai, đối với trụ cột doanh nghiệp và thị trường lao động: Giải pháp mang tính nền tảng là tái cấu trúc hệ thống giáo dục, đào tạo theo hướng “đi trước một bước” so với nhu cầu thị trường. Điều này đòi hỏi sở giáo dục và đào tạo và các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn phải điều chỉnh cơ cấu ngành đào tạo theo hướng tăng mạnh tỷ trọng các ngành STEM, công nghệ số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, cần thiết lập hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực theo từng ngành, từng khu công nghiệp và từng giai đoạn phát triển, làm cơ sở để phân bổ chỉ tiêu đào tạo. Công cụ thực hiện là hệ thống dữ liệu thị trường lao động cấp tỉnh kết nối với dữ liệu doanh nghiệp và khu công nghiệp. Giải pháp này nhằm khắc phục tình trạng lệch pha giữa đào tạo và sử dụng lao động, từ đó điều chỉnh cơ cấu nhân lực phù hợp với mô hình tăng trưởng mới.
Thứ ba, đối với trụ cột hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: Giải pháp mang tính đột phá là xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo và R&D theo mô hình “hạt nhân hệ sinh thái”. Cụ thể, cần hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo tại khu vực địa danh mới gắn với định hướng phát triển sân bay và khu công nghệ cao, đóng vai trò là điểm kết nối giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo. Đồng thời, cần khuyến khích các doanh nghiệp FDI thiết lập trung tâm R&D tại địa phương và thúc đẩy chuyển giao công nghệ sang khu vực doanh nghiệp trong nước. Chủ thể triển khai là Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các tập đoàn công nghệ và các viện nghiên cứu. Công cụ thực hiện là các chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính cho R&D và cơ chế chia sẻ hạ tầng nghiên cứu. Giải pháp này nhằm chuyển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo từ trạng thái phụ thuộc sang trạng thái nội sinh.
Thứ tư, đối với trụ cột thể chế và chính sách: Giải pháp then chốt là thiết lập cơ chế quản trị hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở cấp tỉnh. Cụ thể, cần thành lập một hội đồng điều phối phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao do lãnh đạo tỉnh đứng đầu, với sự tham gia của các sở, ngành, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Hội đồng này có chức năng xây dựng chiến lược, điều phối các chương trình đào tạo, giám sát việc thực hiện và kết nối các trụ cột của hệ sinh thái. Đồng thời, trong bối cảnh mở rộng không gian phát triển sau hợp nhất, cần thiết lập cơ chế liên kết trên địa bàn tỉnh trong phát triển nguồn nhân lực, hình thành thị trường lao động thống nhất và chia sẻ nguồn lực đào tạo. Công cụ thực hiện là hệ thống dữ liệu dùng chung, cơ chế phối hợp liên ngành và các chương trình liên kết đào tạo, sử dụng lao động. Giải pháp này nhằm tạo ra “khung vận hành” cho toàn bộ hệ sinh thái.
Thứ năm, giải pháp xuyên suốt về chất lượng nhân lực: Để giải quyết tình trạng thiếu hụt đội ngũ chuyên gia và nhân lực R&D, cần tập trung phát triển các chương trình đào tạo thực hành và nghiên cứu chuyên sâu. Cụ thể, tại các trường đại học và cơ sở đào tạo nghề, cần triển khai các mô hình đào tạo “song hành” giữa nhà trường và doanh nghiệp, trong đó ít nhất 30-50% thời gian đào tạo được thực hiện tại doanh nghiệp. Đồng thời, cần xây dựng các chương trình đào tạo chuyên gia công nghệ cao, kỹ sư thiết kế và chuyên gia R&D thông qua hợp tác quốc tế với các trung tâm công nghệ lớn. Chủ thể triển khai là các cơ sở đào tạo phối hợp với doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế, dưới sự điều phối của tỉnh. Công cụ thực hiện là các chương trình đào tạo liên kết quốc tế, quỹ học bổng và cơ chế đãi ngộ đặc biệt đối với nhân lực chất lượng cao.
Các giải pháp nêu trên cho thấy việc hoàn thiện hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại tỉnh Bắc Ninh cần được triển khai theo hướng tích hợp, trong đó mỗi giải pháp không chỉ xử lý một khoảng cách cụ thể mà còn tạo ra sự liên kết giữa các trụ cột. Khi các trung tâm đào tạo gắn với không gian công nghiệp, hệ thống giáo dục gắn với nhu cầu thị trường, đổi mới sáng tạo gắn với doanh nghiệp và thể chế đóng vai trò điều phối, hệ sinh thái sẽ chuyển từ trạng thái phân tán sang trạng thái vận hành đồng bộ. Đây chính là điều kiện quyết định để Bắc Ninh thực hiện thành công mục tiêu trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao và đô thị hiện đại vào năm 2050.
3. Kết luận
Hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò then chốt bảo đảm khả năng thực thi các mục tiêu quy hoạch tỉnh Bắc Ninh đến năm 2050. Những nền tảng quan trọng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đã được hình thành nhờ quá trình công nghiệp hóa nhanh và sự hiện diện của nhiều tập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực điện tử, sản xuất thông minh. Tuy nhiên, khoảng cách đáng kể vẫn tồn tại giữa thực trạng và yêu cầu phát triển dài hạn. Chất lượng nhân lực chưa theo kịp tốc độ chuyển dịch sang các ngành công nghệ cao; cơ cấu đào tạo còn chịu ảnh hưởng từ mô hình công nghiệp gia công truyền thống; liên kết giữa cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu còn lỏng lẻo; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực phát triển nhân lực trình độ cao; thể chế điều phối còn thiếu tính hệ thống.
Để đáp ứng nhu cầu nhân lực công nghệ cao đến năm 2050, Bắc Ninh cần triển khai đồng bộ các giải pháp theo cách tiếp cận hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó là: (i) hình thành các trung tâm đào tạo chuyên sâu gắn với từng cực công nghiệp; (ii) tái cấu trúc hệ thống giáo dục, đào tạo theo hướng “đi trước một bước”; (iii) xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo và R&D làm “hạt nhân” của hệ sinh thái; (iv) thiết lập cơ chế quản trị và điều phối liên kết; (v) phát triển chương trình đào tạo thực hành và nghiên cứu chuyên sâu.
Khi bốn trụ cột giáo dục, đào tạo, doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và thể chế chính sách vận hành đồng bộ, hệ sinh thái phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ trở thành động lực quan trọng đưa Bắc Ninh trở thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao của vùng Thủ đô, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế tri thức của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
_________________
Ngày nhận bài: 15-3-2026; Ngày bình duyệt: 6-4-2026; Ngày duyệt đăng: 7-4-2026.
Email tác giả: thanhnhanctth@gmail.com
Danh mục tài liệu trích dẫn
An Trân (2024). Bắc Ninh đi đầu cả nước về hỗ trợ đào tạo, giảng dạy nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp công nghệ số, https://nhandan.vn.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Báo cáo chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII). https://most.gov.vn.
Becker, G. S. (1993). Human capital: A theoretical and empirical analysis. University of Chicago Press.
Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh (2024). Niên giám Thống kê tỉnh Bắc Ninh 2024.
Đỗ Thành Nam (2026). Ưu đãi thuế tiếp sức cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. https://baobacninh.com.vn.
Healey, P. (2007). Urban complexity and spatial strategies. Routledge.
Nguyễn Thị Hương (2026). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập. Tạp chí Lao động xã hội điện tử. https://tapchilaodongxahoi.vn.
Nguyễn Thị Huyền Trang (2026). Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thu hút đầu tư thế hệ mới tại các khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Tạp chí Quản lý nhà nước điện tử. https://www.quanlynhanuoc.vn.
OECD (2019). Skills outlook 2019: Thriving in a digital world.
OECD (2021). Skills outlook 2021: Learning for life. OECD Publishing.
Samsung Newsroom (2024). Samsung Việt Nam sơ kết 3 năm triển khai Dự án hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Bắc Ninh và khởi động chương trình phát triển nhà máy thông minh. https://news.samsung.com/vn.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1589/QĐ-TTg ngày 08-12-2023 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Thy Thảo (2024). Bắc Ninh: Thúc đẩy doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cải tiến sản xuất. Tạp chí Công thương điện tử. https://tapchicongthuong.vn.
Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) (2025). Global Innovation Index. https://www.wipo.int.
Thủ tướng Chính phủ (2024). Quyết định số 1279/QĐ-TTg ngày 28 - 10 - 2024 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2025). Quyết định số 127/QĐ-UBND ngày 20-02-2025 về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
UNESCO (2015). Rethinking education: Towards a global common good.
World Bank (2020). World development report 2020: Trading for development in the age of global value chains.
World Bank (2019). The changing nature of work.