Thực tiễn

Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tư trong phát triển nền văn hóa Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị

• 26/10/2026 10:37

Tóm tắt: Văn hóa là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, động lực và là hệ điều tiết phát triển kinh tế - xã hội. Từ yêu cầu phát huy các nguồn lực văn hóa, bài viết phân tích giá trị tài liệu lưu trữ tư; đánh giá thực trạng công tác quản lý và đề xuất giải pháp bảo quản, phát huy giá trị khối tài liệu này; đưa tài liệu lưu trữ tư tham gia vào quá trình kiến tạo các giá trị văn hóa và góp phần phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

ThS TRẦN VĂN QUANG
Học viện Hành chính và Quản trị công

vovworld.vn-sites-default-files-world-uploaded-mailien-2025_05_21-_na33_zkje.jpg
Một góc không gian trưng bày của triển lãm về tài liệu xuất xứ cá nhân do Trung tâm Lưu trữ quốc gia III tổ chức_Ảnh: VOV

1. Mở đầu

Đại hội XIII, XIV của Đảng đã khẳng định mạnh mẽ định hướng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, trong đó nhấn mạnh vai trò kiến tạo của văn hóa. Cụ thể hóa tinh thần đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã vạch ra những định hướng chiến lược nhằm chấn hưng văn hóa trong kỷ nguyên mới, đặt ra yêu cầu phải huy động tối đa mọi nguồn lực xã hội, mọi thành tố di sản để bồi đắp hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị con người Việt Nam.

Trong dòng chảy của lịch sử và văn hóa dân tộc, di sản văn hóa không chỉ tồn tại ở các thiết chế nhà nước, các bảo tàng quốc gia hay các kho lưu trữ công, mà còn tồn tại một cách sâu sắc, bền bỉ và sống động trong từng mạch ngầm của đời sống cộng đồng, được phản ánh qua các tài liệu lưu trữ tư.

Tài liệu lưu trữ tư, bao gồm gia phả, hương ước, sắc phong, thư từ, nhật ký, bản thảo tác phẩm, cho đến các hợp đồng kinh tế, khế ước ruộng đất của các cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng, tổ chức kinh tế là nguồn bổ sung quan trọng góp phần hoàn thiện bức tranh lịch sử đất nước và phục vụ hiệu quả cho hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục truyền thống, bảo vệ chủ quyền quốc gia cũng như phát triển kinh tế - xã hội.

Tuy nhiên, ở Việt Nam thời gian qua vì nhiều lý do khác nhau, công tác lưu trữ thường tập trung vào việc tổ chức thu nộp, bảo quản và sử dụng tài liệu lưu trữ trong các cơ quan nhà nước. Tài liệu lưu trữ tư và lưu trữ tư chưa được quan tâm đúng mức. Tiềm năng của lưu trữ tư chưa được đánh giá một cách đầy đủ.

Luật Lưu trữ năm 2024 đã có nhiều quy định mới về lưu trữ tư, xác định rõ quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư cũng như trách nhiệm của Nhà nước trong việc hỗ trợ, hướng dẫn và tạo điều kiện để bảo vệ, phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ tư. Tuy nhiên, việc triển khai các quy định của pháp luật vào thực tiễn cần được đánh giá một cách khách quan, toàn diện nhằm nhận diện những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế.

Đặt trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, khi yêu cầu về dân chủ hóa đời sống văn hóa và phát triển công nghiệp văn hóa đang được đặt ra cấp thiết, việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tư không đơn thuần là một nhiệm vụ của ngành lưu trữ học. Cao hơn thế, đây là một vấn đề mang tính lý luận chính trị và văn hóa học sâu sắc, là hành động thiết thực để bảo vệ bảo vệ nền tảng văn hóa, tư tưởng của Đảng, giữ gìn hồn cốt dân tộc trước những tác động đa chiều của toàn cầu hóa.

2. Nội dung

2.1. Một số vấn đề lý luận, chính trị và pháp lý về tài liệu lưu trữ tư và sự phát triển văn hóa

a) Giá trị của tài liệu lưu trữ tư

Theo Luật Lưu trữ năm 2024, tài liệu lưu trữ tư bao gồm: tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động của cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng; tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp không do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động của tổ chức phi chính phủ, tổ chức kinh tế không phải là doanh nghiệp nhà nước (Quốc hội, 2024). Dưới góc độ lý luận lưu trữ học và văn hóa học, tài liệu lưu trữ tư mang trong mình bản chất kép: vừa là bằng chứng lịch sử (tính xác thực, khách quan), vừa là một thực thể văn hóa (chứa đựng hệ tư tưởng, phong tục, tập quán, tình cảm của con người).

Phản ánh chân thực đời sống và hoạt động thực tiễn của cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng, các tổ chức ngoài khu vực nhà nước

Một trong những giá trị quan trọng của tài liệu lưu trữ tư là giá trị phản ánh chân thực đời sống và hoạt động thực tiễn của các cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng và các tổ chức ngoài khu vực nhà nước. Khác với nhiều loại tài liệu được hình thành chủ yếu trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước, tài liệu lưu trữ tư được hình thành trong quá trình sống, lao động, học tập, sáng tạo, giao tiếp, tổ chức đời sống, hoạt động của các tổ chức ngoài khu vực nhà nước. Vì vậy, tài liệu lưu trữ tư thường chứa đựng những thông tin cụ thể, trực tiếp và gắn với những sự kiện, hoạt động, con người và quan hệ thực tế của từng chủ thể hình thành tài liệu lưu trữ tư.

Các loại tài liệu như giấy tờ cá nhân, nhật ký, thư từ, bản thảo, sổ ghi chép, ảnh, video, giấy chứng nhận, bằng cấp, tài liệu về quá trình học tập, công tác, sáng tạo, giao tiếp xã hội... phản ánh về hoàn cảnh gia đình, quá trình học tập và làm việc, các mối quan hệ xã hội, những thành tựu cũng như những biến cố trong cuộc đời của một con người. Đặc biệt, nhật ký, thư từ, hồi ký, ghi chép cá nhân và các dạng tài liệu tương tự còn có khả năng phản ánh chân thực những suy nghĩ, tình cảm, tâm tư, nhận thức và quan điểm của con người tại thời điểm tài liệu được hình thành. Đây là nguồn thông tin mà các tài liệu hành chính hoặc các nguồn thông tin chính thống nhiều khi không thể hiện đầy đủ. Do đó, tài liệu lưu trữ tư góp phần tái hiện đời sống con người ở cấp độ cụ thể, gần gũi và sinh động hơn.

Cung cấp tư liệu để nghiên cứu sự phát triển ngành, lĩnh vực và quốc gia

Một giá trị quan trọng của tài liệu lưu trữ tư là cung cấp nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu sự phát triển của các ngành, lĩnh vực và của quốc gia. Nếu tài liệu lưu trữ công chủ yếu phản ánh hoạt động của các cơ quan nhà nước, thì tài liệu lưu trữ tư lại phản ánh những hoạt động, sự kiện, quá trình và đóng góp được hình thành từ khu vực ngoài nhà nước. Sự tồn tại song song của hai nguồn tài liệu này giúp bổ sung những góc nhìn khác nhau về cùng một quá trình lịch sử, qua đó tạo điều kiện để nhận thức đầy đủ, khách quan và đa chiều hơn về sự phát triển của xã hội.

Trước hết, tài liệu lưu trữ tư có khả năng cung cấp những thông tin mà tài liệu của các cơ quan nhà nước không hoặc ít phản ánh. Hoạt động của một ngành, một lĩnh vực không chỉ được tạo nên bởi các chính sách, quyết định và hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước mà còn bởi sự tham gia của các cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng và các chủ thể khác. Trong quá trình hoạt động, các chủ thể này hình thành một khối lượng lớn tài liệu như thư từ, nhật ký, bản thảo, sổ sách, báo cáo, hợp đồng, hình ảnh, phim, bản ghi âm, tài liệu nghiên cứu, tài liệu kỹ thuật, tài liệu sản xuất, tài liệu kinh doanh... Những tài liệu này có thể phản ánh trực tiếp quá trình tham gia, đóng góp và tác động của các chủ thể ngoài nhà nước đối với sự phát triển của từng ngành, lĩnh vực. Vì vậy, tài liệu lưu trữ tư có khả năng bổ sung những khoảng trống thông tin mà nguồn tài liệu lưu trữ công khó có thể phản ánh đầy đủ.

Góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục truyền thống

Lịch sử, sự phát triển, hình ảnh, bản sắc văn hóa của một đất nước được tạo dựng không chỉ bởi hệ thống các cơ quan, tổ chức, mà còn bởi những con người sinh sống trên đất nước ấy. Đất nước ta có nhiều các lễ hội truyền thống, các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, có nhiều dân tộc cùng sinh sống. Mỗi dân tộc có các tập quán sinh hoạt khác nhau. Mỗi địa phương, vùng miền có những đặc trưng thể hiện qua ẩm thực, trang phục, lễ hội, phong cách giao tiếp… Các đặc trưng, nét đẹp văn hóa đó được lưu giữ lại qua các tài liệu như: các bức ảnh, bài hát, bức tranh, tác phẩm văn thơ, câu đối, ca dao, tục ngữ. Các tài liệu này được các cộng đồng gìn giữ, góp phần vào việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, giúp cho các nét đẹp văn hóa được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Cùng với việc góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tài liệu lưu trữ tư có vai trò quan trọng trong việc việc giáo dục truyền thống, tinh thần yêu nước. Tài liệu lưu trữ hình thành trong hoạt động của các gia đình, dòng họ đóng vai trò cốt lõi trong việc giáo dục thế hệ trẻ về những giá trị truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước. Thực tiễn chứng minh, những cuốn gia phả, gia huấn của các dòng họ khoa bảng... không chỉ là những trang ghi chép thông thường, mà thực chất là những “bộ luật vi mô” của gia đình, giúp trao truyền đạo hiếu, lòng trung thực và tinh thần yêu nước từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Một minh chứng tiêu biểu cho sức sống và giá trị của tài liệu lưu trữ dòng họ là Di sản Mộc bản trường học Phúc Giang và Hoàng hoa sứ trình đồ của dòng họ Nguyễn Huy (tại làng Trường Lưu, tỉnh Hà Tĩnh) đã được UNESCO ghi danh vào Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Khối di sản tư nhân này không chỉ lưu giữ những giá trị nhân văn sâu sắc về truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của một gia tộc, mà đã vượt ra khỏi không gian làng xã để trở thành tài sản chung của nhân loại. Đây chính là nguồn vật liệu có giá trị để chúng ta hiện thực hóa mục tiêu xây dựng “hệ giá trị gia đình” và “chuẩn mực con người Việt Nam” theo đúng định hướng của Nghị quyết số 80-NQ/TW.

2.2. Mối quan hệ giữa việc phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tư và phát triển văn hóa theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị là văn kiện quan trọng, định hướng chiến lược về phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới. Đối với công tác lưu trữ, “Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ là “nền” tư tưởng chính trị cho chiến lược lưu trữ, mà còn tạo ra “thước đo” để đánh giá hiệu quả lưu trữ, lưu trữ phải đóng góp thiết thực vào phát triển văn hóa, nâng cao thụ hưởng văn hóa của Nhân dân, củng cố hệ giá trị, phát triển công nghiệp văn hóa và sức mạnh mềm của quốc gia” (Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, 2026). Mối quan hệ giữa việc phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tư và việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW được thể hiện qua ba nội dung sau:

Thứ nhất, xét ở góc độ kiến tạo nền tảng đạo đức và kết cấu xã hội, tài liệu lưu trữ tư cung cấp hệ chất liệu nền tảng, trực tiếp phục vụ công cuộc xây dựng hệ giá trị gia đình - một trong bốn hệ giá trị cơ bản mà Đảng ta tập trung xây dựng (gồm hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam). Bốn hệ giá trị trên lần đầu tiên được xác định rõ là nhiệm vụ trọng tâm tại Văn kiện Đại hội XIII của Đảng (năm 2021). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặt ra yêu cầu “tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới” (ĐCSVN, 2021).

Bốn hệ giá trị trên sau đó được nhấn mạnh, cụ thể hóa tại các hội nghị lý luận và tiếp tục được khẳng định triển khai đồng bộ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết khẳng định: “Phát triển toàn diện văn hoá, con người Việt Nam trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam” (Bộ Chính trị, 2026).

Những cuốn gia phả không chỉ đơn thuần ghi chép huyết thống, mà còn là cẩm nang giáo dục truyền thống hiếu học, tinh thần tương thân tương ái; những bản gia huấn quy định rõ “phép nhà” gắn liền với “lệ làng, phép nước”, bồi đắp lòng yêu nước và lòng tự hào, tự tôn dân tộc từ những gốc rễ sâu xa và tự nhiên nhất. Khi mỗi cá nhân thấu hiểu và tự hào về lịch sử gia đình, dòng họ mình thông qua các tài liệu lưu trữ được giữ gìn, họ sẽ tự giác hình thành ý thức trách nhiệm lớn lao hơn đối với gia đình, dòng họ, cộng đồng và quốc gia, qua đó cụ thể hóa mục tiêu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện mà Nghị quyết 80-NQ/TW đã đề ra.

Thứ hai, xét ở chiều kích cấu trúc mạng lưới văn hóa quốc gia, sự phong phú và đa dạng của tài liệu lưu trữ tư thuộc về cộng đồng 54 dân tộc anh em là minh chứng sinh động cho một nền văn hóa “thống nhất trong đa dạng”. Lịch sử của một quốc gia không chỉ được viết lên bởi các vĩ nhân hay các thiết chế quyền lực nhà nước, mà còn được bồi đắp bởi hàng triệu mảnh ghép từ đời sống của các tầng lớp nhân dân. Tài liệu lưu trữ tư của các già làng, trưởng bản, các nghệ nhân dân gian, từ những văn bản Hán - Nôm, chữ Thái cổ, chữ Chăm đến những bản chép tay các làn điệu dân ca, sử thi, hương ước, luật tục... chính là những mảnh ghép không thể thiếu để hoàn thiện bức tranh văn hóa Việt Nam. Việc trân trọng và tạo điều kiện phát huy giá trị của các khối tài liệu này là biểu hiện của quá trình “dân chủ hóa đời sống văn hóa”. Qua đó thể hiện người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà thực sự là chủ thể hạt nhân trong việc sáng tạo, giữ gìn và bảo vệ di sản văn hóa. Sự tôn trọng những khác biệt, bản sắc riêng biệt của các dòng họ, các dân tộc thiểu số góp phần củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chấn hưng nền văn hóa nước nhà.

Thứ ba, xét trên bình diện kinh tế - văn hóa, tài liệu lưu trữ tư là một trong những nguồn tài nguyên của công nghiệp văn hóa. Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu phải biến văn hóa thành động lực phát triển kinh tế, chuyển hóa “sức mạnh mềm” thành lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Trong quá trình đó, tính xác thực, giá trị độc bản và hàm lượng cảm xúc chân thực, sâu sắc chứa đựng trong tài liệu lưu trữ tư chính là những lợi thế quan trọng để trở thành nguồn tài cho phát triển văn hóa, công nghiệp văn hóa. Những trang nhật ký chiến trường thấm đẫm máu và nước mắt, những bức thư tình vượt qua bom đạn, hay những ghi chép, phác thảo của các văn nghệ sĩ... mang trong mình sức lay động trái tim mạnh mẽ.

Khi được tiếp cận, khai thác và tổ chức một cách khoa học, khối tài liệu lưu trữ tư có thể trở thành chất liệu có giá trị cho kịch bản điện ảnh, phim tài liệu, các tiểu thuyết lịch sử, hay các vở diễn sân khấu đương đại. Hơn thế, việc phát huy giá trị của khối tài liệu lưu trữ tư còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho ngành du lịch di sản, nơi du khách được trải nghiệm lịch sử thông qua các bảo tàng gia đình, phòng trưng bày của dòng họ, trung tâm lưu trữ. Quá trình này chính là bước chuyển hóa quan trọng biến di sản thành tài sản, biến trạng thái “tĩnh” (cất giữ thụ động trong tủ hòm cá nhân) thành trạng thái “động”" (lưu thông, tạo ra giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường). Đây chính là con đường để thực hiện thành công định hướng đưa công nghiệp văn hóa trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tích cực vào sự phồn vinh của đất nước.

Thực tiễn thời gian qua, tài liệu lưu trữ tư đã bước đầu chứng minh được giá trị và tiềm năng kinh tế của mình. Ví dụ, từ hàng trăm bức thư tình bản gốc, những ghi chép, phác thảo của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (là tài liệu lưu trữ tư thuộc sở hữu gia đình) đã trở thành chất liệu để các nhà làm phim khai thác, phục dựng bối cảnh và tâm lý nhân vật, góp phần tạo nên bộ phim điện ảnh “Em và Trịnh” (năm 2022). Đây là một bộ phim có doanh thu cao vào thời điểm đó. Bên cạnh đó, sự ra đời của các mô hình như Bảo tàng Nhiếp ảnh Lai Xá (thành phố Hà Nội), Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam (gồm Bảo tàng Di sản các nhà khoa học Việt Nam và Công viên Di sản các nhà khoa học Việt Nam ở tỉnh Phú Thọ) đang trở thành những điểm đến hấp dẫn của du lịch di sản. Những mô hình này minh chứng rõ nét cho quá trình chuyển hóa tài liệu lưu trữ tư thành tài sản, biến tĩnh thành động, đưa văn hóa trở thành nguồn lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

3. Thực trạng quản lý và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tư

3.1. Kết quả đạt được

Nhìn lại quá trình phát triển của ngành lưu trữ Việt Nam, công tác quản lý và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tư đã đạt được một số kết quả quan trọng.

a) Xây dựng, ban hành chính sách, văn bản pháp luật về quản lý nhà nước đối với lưu trữ tư

Trước khi Luật Lưu trữ năm 2024 được ban hành, cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động lưu trữ tư dựa trên Luật Lưu trữ năm 2011, Nghị định số 01/2013/NĐ-CP ngày 03/01/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Lưu trữ năm 2011 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, các quy định liên quan đến lưu trữ tư trong Luật Lưu trữ năm 2011 chỉ dừng lại ở việc quy định các nội dung quản lý nhà nước đối với tài liệu cá nhân, gia đình, dòng họ.

Luật Lưu trữ số 33/2024/QH15 ngày 21/6/2024 đã tạo bước chuyển quan trọng trong việc hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với công tác lưu trữ tư ở Việt Nam. Luật Lưu trữ năm 2024 đã đưa ra định nghĩa “lưu trữ tư” (Khoản 14, Điều 2), định nghĩa “tài liệu lưu trữ tư” (Khoản 4, Điều 9). Đồng thời, tại Chương V của Luật này quy định tương đối đầy đủ về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với lưu trữ tư, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư, cơ chế ký gửi tài liệu vào lưu trữ lịch sử, việc tặng Nhà nước tài liệu lưu trữ tư. Khoản 1, Điều 9 của Luật lưu trữ năm 2024 xác định lưu trữ tư là một bộ phận cấu thành của Phông lưu trữ quốc gia Việt Nam, qua đó khẳng định vị trí, vai trò và giá trị của tài liệu lưu trữ tư trong việc bảo tồn di sản tư liệu quốc gia, phục vụ hoạt động quản lý, nghiên cứu khoa học, giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế - xã hội (Quốc hội, 2024).

Việc Luật Lưu trữ năm 2024 dành riêng Chương V để quy định về lưu trữ tư thể hiện sự thay đổi trong tư duy lập pháp, chuyển từ việc quản lý chủ yếu đối với tài liệu lưu trữ nhà nước sang quản lý toàn diện đối với cả khu vực lưu trữ ngoài nhà nước. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, đồng thời tạo hành lang pháp lý thống nhất cho các cá nhân, gia đình, dòng họ, doanh nghiệp và các tổ chức ngoài nhà nước trong việc tạo lập, quản lý, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tư.

b) Về công tác sưu tầm và bảo quản tài liệu lưu trữ tư

Trong hơn 30 năm qua, công tác sưu tầm, bảo quản tài liệu lưu trữ tư đã đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần hình thành một nguồn sử liệu tư có quy mô và giá trị nổi bật trong hệ thống lưu trữ quốc gia.

Thông qua các chiến dịch vận động, sưu tầm của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước cùng các trung tâm lưu trữ quốc gia, nhận thức của nhiều cá nhân, gia đình, dòng họ đã có sự chuyển biến tích cực. Hàng vạn tài liệu, hiện vật có giá trị, quý hiếm đã được các cá nhân, gia đình tự nguyện hiến tặng. Các trung tâm lưu trữ quốc gia đang trở thành “ngôi nhà thứ hai” tin cậy, ứng dụng các công nghệ bảo quản tối ưu để gìn giữ “những đứa con tinh thần” của các gia đình, dòng họ khỏi sự tàn phá của thời gian.

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II quản lý 20 sưu tập tài liệu cá nhân, gia đình, dòng họ với 727 đơn vị bảo quản, bao gồm: các sưu tập tài liệu cá nhân của nhà thơ Bảo Định Giang (1963-1975), Nhạc sĩ Lưu Cầu (1958-1992), nguyên Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lữ Minh Châu (1958-1992), Nhạc sỹ Xuân Hồng (1995-1998), Sưu tập tài liệu hiến tặng của gia đình cụ Phan Châu Trinh… (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, 2026).

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV quản lý 6 phông, sưu tập tài liệu các nhân, gia đình, dòng họ và 314.361 bức ảnh, bao gồm: Sưu tập hồ sơ cá nhân của Nha Học chánh Trung nguyên Trung phần, Phông Sở nhân viên Trung Nguyên Trung phần, Sưu tập tài liệu của Nghệ sĩ nhiếp ảnh Đỗ Kết, của Nghệ sĩ nhiếp ảnh Mầu Hoàng Thiết, của Nghệ sĩ nhiếp ảnh Đoàn Công Tính, của Nghệ sĩ nhiếp ảnh Chu Chí Thành (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV, 2026).

So với các trung tâm lưu trữ quốc gia, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III là nơi đang bảo quản tài liệu cá nhân, gia đình, dòng họ nhiều nhất. Số lượng tài liệu lưu trữ cá nhân, gia đình, dòng họ đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III (đến năm 2025) như sau: Trung tâm đang quản lý và bảo quản 210 phông lưu trữ cá nhân, gia đình, dòng họ với tổng số 16.382 hồ sơ, 1.571 hộp tài liệu và khoảng 221 mét giá tài liệu giấy; 9.064 ảnh, phim; 546 tài liệu ghi âm, ghi hình; 15 kỷ vật và nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa. So với thời điểm tiếp nhận ban đầu năm 1995, số lượng phông đã tăng thêm 161 phông (Trần Việt Hoa, Nguyễn Thị Lan, 2026).

Thành phần tài liệu chủ yếu trong các phông và sưu tập tài liệu cá nhân, gia đình dòng họ là các sáng tác, tài liệu liên quan đến tiểu sử, công văn, thư từ trao đổi, sách báo, tư liệu, sổ sách ghi chép, băng, ảnh,... hình thành trong quá trình sống và hoạt động. Trong số tài liệu đang bảo quản tại Trung tâm III, có những phông có số lượng lớn, hội tụ tương đối đầy đủ các thành phần tài liệu và giá trị sử liệu đặc biệt như phông Đặng Thai Mai, Phạm Huy Thông, Nguyễn Khánh Toàn, Vũ Tuyên Hoàng, Trần Văn Giáp và Hoàng Tụy (Trần Việt Hoa, Nguyễn Thị Lan, 2026).

c) Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tư

Công tác phát huy giá trị tài liệu đã góp phần nâng cao nhận thức xã hội về lưu trữ tư, đưa tài liệu đến gần với công chúng. Bên cạnh hình thức tổ chức khai thác, sử dụng trực tiếp tại các trung tâm lưu trữ quốc gia, các trung tâm thường xuyên tổ chức các triển lãm, trưng bày chuyên đề gắn với các sự kiện lịch sử và văn hóa tiêu biểu. Tiêu biểu là triển lãm Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc huy: Biểu tượng tự hào dân tộc Việt Nam (2022) do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III tổ chức; qua đó nhiều tài liệu thuộc phông họa sĩ Bùi Trang Chước và nhạc sĩ Văn Cao được giới thiệu rộng rãi tới công chúng (Trần Việt Hoa, Nguyễn Thị Lan, 2026).

Năm 2025, cuộc tọa đàm, triển lãm quy mô lớn mang chủ đề “Triển lãm tài liệu xuất xứ cá nhân: Từ tài liệu riêng đến di sản chung” được tổ chức, đưa hàng trăm phông tài liệu có xuất xứ cá nhân, gia đình ra trưng bày trực tiếp (Đắc Linh, 2025). Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên môn cũng chủ động cử chuyên gia về các địa phương để hướng dẫn kỹ năng, nghiệp vụ bảo quản các tài liệu lưu trữ tư tại một số gia đình, dòng họ. Những hoạt động này đã trực tiếp biến di sản ký ức tư nhân thành nguồn vật liệu phong phú, phục vụ hiệu quả cho công tác giáo dục truyền thống, giữ gìn ký ức, bảo tồn văn hoá.

Cùng với hoạt động triển lãm, Trung tâm đẩy mạnh công bố, xuất bản và truyền thông khoa học thông qua các ấn phẩm chuyên đề, hội thảo, tọa đàm và hoạt động giới thiệu tài liệu. Các hình thức này góp phần chuyển hóa giá trị tiềm năng của tài liệu lưu trữ thành các giá trị tri thức phục vụ nghiên cứu, giáo dục và đời sống xã hội. Các hình thức phát huy giá trị tài liệu, phương thức đưa tài liệu lưu trữ tư đến với công chúng đang ngày càng trở nên phong phú và đa dạng.

3.2. Một số hạn chế, tồn tại

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tư vẫn còn những hạn chế, tồn tại cần khắc phục, cụ thể trên ba nhóm vấn đề sau:

Một là, những rào cản khách quan trong công tác kết nối di sản. Xuất phát từ quyền sở hữu hợp pháp và tâm lý trân quý, việc các cá nhân, gia đình, dòng họ giữ gìn tài liệu lưu trữ tư như những bảo vật mang tính nội bộ là điều hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, điều này vô hình trung tạo ra thách thức lớn trong việc vận động, chia sẻ giá trị di sản ra cộng đồng. Ở chiều ngược lại, mặc dù ngành lưu trữ đã có nhiều nỗ lực, nhưng do đây là một nhiệm vụ đặc thù, đòi hỏi sự kiên trì, khéo léo, trong khi nguồn lực (cả về kinh phí và nhân sự) ở các cấp còn rất hạn hẹp. Sự khó khăn khách quan này khiến công tác tuyên truyền chưa thể triển khai sâu sát, liên tục, dẫn đến việc chưa xây dựng được một cầu nối đủ vững chắc để người dân an tâm chia sẻ tài liệu lưu trữ tư.

Hai là, về rào cản pháp lý và cơ chế tài chính trong việc tổ chức khai thác giá trị tài liệu. Việc định giá tài liệu lưu trữ tư gặp khó khăn do thiếu bộ tiêu chí khoa học rõ ràng. Các quy định về bản quyền khi đưa tài liệu vào khai thác thương mại (làm phim, xuất bản) còn chưa cụ thể. Sự thiếu vắng các quỹ bảo tồn di sản tư nhân hay chính sách ưu đãi thuế khiến chủ sở hữu thiếu động lực kinh tế để tự bảo quản và đưa di sản tham gia thị trường văn hóa.

Ba là, về nguồn lực bảo quản và năng lực ứng dụng công nghệ. Khí hậu nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt là thách thức lớn đối với tài liệu giấy và mộc bản. Trong khi đó, phần lớn các chủ sở hữu tài liệu lưu trữ tư chưa có điều kiện trang bị các thiết bị bảo quản chuyên dụng và còn gặp nhiều khó khăn về kỹ năng bảo quản tài liệu, nghiệp vụ tu bổ, phục chế. Công tác số hóa còn chưa được chú trọng, chưa kết nối đồng bộ thành cơ sở dữ liệu lưu trữ quốc gia do thiếu mô hình hợp tác công - tư hiệu quả.

4. Giải pháp quản lý, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tư đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 80-NQ/TW

Để tài liệu lưu trữ tư thực sự trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, đáp ứng tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, cần triển khai đồng bộ các giải pháp đột phá sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý và khuyến khích phát triển lưu trữ tư. Cần cụ thể hóa Luật Lưu trữ năm 2024 theo hướng tôn trọng quyền sở hữu tài sản cá nhân, đồng thời xây dựng các cơ chế khuyến khích chủ sở hữu tự nguyện chia sẻ tài liệu để phục vụ nhu cầu tiếp cận văn hóa của xã hội. Thiết lập cơ chế hợp tác công - tư trong lưu trữ, trong đó Nhà nước hỗ trợ kinh phí, kỹ thuật cho không gian lưu trữ tư nhân, đổi lại chủ sở hữu cam kết phục vụ cộng đồng. Ban hành các chính sách tôn vinh kịp thời và ưu đãi về thuế để tạo đòn bẩy kinh tế vững chắc.

Thứ hai, đổi mới công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội và trách nhiệm cộng đồng. Xét về mặt pháp lý, tài liệu lưu trữ tư thuộc quyền sở hữu hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, do đó chủ sở hữu có toàn quyền quyết định đối với khối tài liệu này. Bởi vậy, giải pháp cốt lõi là phải tăng cường các hoạt động tuyên truyền, vận động nhằm giúp cộng đồng nhận thức đúng đắn và đầy đủ về giá trị lịch sử, văn hóa của di sản ký ức. Khi thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa của nguồn tài liệu này, người dân sẽ tự giác hình thành ý thức trân trọng, bảo quản tốt di sản của chính gia đình, dòng họ mình, cũng như tôn trọng di sản của những người khác. Bên cạnh đó, cần đưa nội dung giáo dục di sản ký ức gia đình vào trường học và phong trào xây dựng đời sống văn hóa, nhằm hình thành thói quen, văn hóa lưu trữ trong mỗi gia đình Việt Nam.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và số hóa khối tài liệu lưu trữ tư. Xây dựng các chương trình “Hỗ trợ số hóa di sản tư nhân”, trong đó cơ quan nhà nước hỗ trợ thiết bị quét, lập siêu dữ liệu (metadata) và trao lại bản số hóa chất lượng cao cho gia đình mà không bắt buộc phải giao nộp bản gốc. Thiết lập Cổng thông tin quốc gia về Di sản ký ức tư nhân; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc chuyển ngữ tài liệu cổ sang tiếng Việt hiện đại; đồng thời có cơ chế bảo mật kỹ thuật số vững chắc nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của các dòng họ, cá nhân trên môi trường mạng.

Thứ tư, kết nối chặt chẽ tài liệu lưu trữ tư với các ngành công nghiệp văn hóa và giáo dục truyền thống. Đưa tài liệu lưu trữ tư trở thành nguyên liệu đầu vào cho điện ảnh, sân khấu, văn học và du lịch di sản. Phối hợp giữa ngành văn hóa và các nhà sáng tạo nghệ thuật để khai thác tối đa câu chuyện từ nhật ký, thư từ lịch sử. Đồng thời, đưa các tư liệu này vào giảng dạy ngoại khóa tại các nhà trường để giáo dục truyền thống trực quan, sinh động cho thế hệ trẻ.

5. Kết luận

Từ tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết số 80-NQ/TW, văn hóa là một dòng chảy liên tục được bồi đắp từ sự sáng tạo và gìn giữ của nhân dân qua nhiều thế hệ. Trong dòng chảy đó, tài liệu lưu trữ nói chung và tài liệu lưu trữ tư nói riêng đóng vai trò là những mạch ngầm lưu giữ hệ giá trị, bản sắc văn hóa của dân tộc. Nhận diện, bảo tồn và phát huy giá trị của tài liệu lưu trữ tư là một nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm bảo vệ và củng cố nền tảng tinh thần xã hội. Thông qua việc tháo gỡ những tồn tại về thể chế, nâng cao nhận thức, hiện đại hóa công nghệ và gắn kết với công nghiệp văn hóa, chúng ta sẽ biến khối tài sản tĩnh lặng này thành động lực to lớn, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đưa đất nước vững bước vươn mình trong kỷ nguyên mới.

_________________

Tài liệu tham khảo

Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước (2026). Xây dựng chiến lược phát huy giá trị tài liệu lưu trữ theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hoá Việt Nam. https://luutru.gov.vn

ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

Trần Việt Hoa, Nguyễn Thị Lan (2026). Lưu trữ tư trong kỷ nguyên số: Thực tiễn sưu tầm, bảo quản và phát huy giá tị các phông lưu trữ cá nhân, gia đình, dòng họ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III. Kỷ yếu hội thảo quốc tế Lưu trữ tư trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế, ký ức xã hội và sự tham gia của các tổ chức.

Đắc Linh (2025). Triển lãm tài liệu xuất xứ cá nhân: Từ tài liệu riêng đến di sản chung. https://nhandan.vn

Quốc hội (2024). Luật Lưu trữ số 33/2024/QH15 ngày 23/6/2024 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025).

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ tư trong phát triển nền văn hóa Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị