DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.7622
Tóm tắt: Những năm qua, công tác giảm nghèo ở Tây Nguyên đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, không ít hộ gia đình dễ rơi vào tình trạng thiếu ổn định về an sinh xã hội và đối mặt với nguy cơ tái nghèo. Trên cơ sở phân tích thực trạng rủi ro an sinh xã hội đối với hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo ở Tây Nguyên, bài viết chỉ ra những hạn chế trong cách tiếp cận chính sách hiện nay, đồng thời đề xuất một số định hướng hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường phòng ngừa rủi ro và củng cố tính bền vững của giảm nghèo.
ThS NGÔ KHẮC NGỌC
ThS PHẠM THỊ NHÂM ANH
Trường Chính trị tỉnh Gia Lai

1. Mở đầu
Những năm qua, công tác giảm nghèo ở Tây Nguyên đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo và từng bước nâng cao mức sống. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc thoát nghèo chưa đồng nghĩa với sự ổn định bền vững về đời sống và bảo đảm an sinh xã hội của các hộ gia đình. Một bộ phận không nhỏ hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo vẫn có sinh kế thiếu bền vững, thu nhập bấp bênh, khả năng tích lũy thấp và dễ bị tổn thương trước các cú sốc như thiên tai, dịch bệnh, biến động giá nông sản, mất việc làm hoặc chi phí y tế phát sinh.
Trong khi đó, nhóm hộ này thường không còn thuộc diện thụ hưởng các chính sách hỗ trợ giảm nghèo trực tiếp, song cũng chưa đủ năng lực tự bảo vệ trước các rủi ro trong đời sống và sinh kế. Điều này dẫn đến nguy cơ rơi vào “khoảng trống chính sách” sau thoát nghèo. Thực tiễn tái nghèo diễn ra ở nhiều địa phương Tây Nguyên cho thấy, nếu thiếu các cơ chế phòng ngừa rủi ro an sinh xã hội phù hợp, thành quả giảm nghèo rất dễ bị xói mòn, đặc biệt đối với hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo.
2. Nội dung
2.1. Rủi ro an sinh xã hội đối với hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo ở Tây Nguyên
a) Kết quả giảm nghèo ở Tây Nguyên có nhiều chuyển biến tích cực nhưng chưa bền vững
Khu vực Tây Nguyên (trước thời điểm sáp nhập ngày 01/7/2026, gồm các tỉnh: Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng và Đắk Nông) có hơn 6,2 triệu người, chiếm khoảng 5,9% dân số cả nước. Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số khoảng 2,2 triệu người, tương đương 37,7% dân số toàn vùng (Trương Minh Dục, 2025).
Các Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy giảm nghèo ở Tây Nguyên. Thông qua các chương trình này, nhiều địa phương đã tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ tín dụng ưu đãi, cung cấp giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nghề, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và giáo dục. Nhờ đó, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân từng bước được cải thiện, góp phần nâng cao đời sống, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo kết quả rà soát hộ nghèo giai đoạn 2021–2024, tỷ lệ hộ nghèo ở Tây Nguyên giảm đáng kể, từ 11,0% năm 2021 xuống còn 6,1% năm 2024. Mặc dù vẫn cao hơn mức bình quân chung của cả nước (2,3% năm 2024), song mức giảm này cho thấy những nỗ lực đáng kể của các cấp, các ngành trong triển khai các chính sách giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội. Tây Nguyên hiện vẫn là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao thứ hai cả nước, sau khu vực trung du và miền núi phía Bắc (Tổng Cục thống kê, 2025).
Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, song thành tựu giảm nghèo ở Tây Nguyên chủ yếu phản ánh sự cải thiện về thu nhập và mức sống trong ngắn hạn, trong khi nền tảng sinh kế của nhiều hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo vẫn còn yếu và thiếu bền vững. Phần lớn các hộ này tiếp tục dựa vào sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và biến động giá nông sản, trong khi khả năng tích lũy tài chính còn hạn chế. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 2,8 triệu đồng/người/tháng (năm 2021) lên 3,8 triệu đồng/người/tháng (năm 2024), mặc dù cao hơn vùng trung du miền núi phía Bắc, song vẫn thấp hơn so với cả nước (cả nước là 5,4 triệu đồng/người/tháng). Đồng thời, chênh lệch thu nhập giữa nhóm thấp nhất và nhóm cao nhất lên tới 8,3 lần, cao hơn mức chênh lệch chung của cả nước (7,4 lần). Chỉ số phát triển con người (HDI) cũng có mức cải thiện chậm so với các vùng khác. Đến năm 2024, tỉnh có chỉ số HDI cao nhất trong vùng đạt 0,737, thấp hơn trung bình của cả nước là 0,752 (Tổng Cục thống kê, 2025).
Đáng chú ý, tình trạng tái nghèo vẫn diễn ra ở nhiều địa phương trong vùng. Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và UBND các tỉnh Tây Nguyên, giai đoạn 2021-2023, tỷ lệ hộ tái nghèo và nghèo phát sinh mới dao động từ khoảng 0,8% đến trên 2%/năm, trong đó hộ dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ chủ yếu. Các hộ tái nghèo tập trung chủ yếu ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, nơi sinh kế phụ thuộc vào nông nghiệp và điều kiện tự nhiên.
Bên cạnh đó, quy mô nhóm hộ cận nghèo và hộ vừa thoát nghèo còn lớn, tạo thành một “vành đai dễ tái nghèo” xung quanh nhóm hộ nghèo. Đây là nhóm hộ có mức sống chỉ nhỉnh hơn chuẩn nghèo trong thời gian ngắn, nên khi gặp các rủi ro như thiên tai, dịch bệnh, biến động giá nông sản hoặc chi phí y tế phát sinh, rất dễ trở lại tình trạng nghèo hoặc cận nghèo.
Như vậy, mặc dù công tác giảm nghèo ở Tây Nguyên đã đạt được những kết quả quan trọng, song tính bền vững chưa cao. Việc thiếu các cơ chế hỗ trợ ổn định sau thoát nghèo và phòng ngừa rủi ro an sinh xã hội khiến thành quả giảm nghèo chưa được củng cố vững chắc, đặc biệt đối với hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo. Đây chính là tiền đề làm gia tăng nguy cơ tái nghèo trong những năm tiếp theo nếu không được điều chỉnh kịp thời về chính sách.
b) Rủi ro an sinh xã hội đối với hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo ở Tây Nguyên
Thực tiễn cho thấy, đối với hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo, rủi ro an sinh xã hội không chỉ làm suy giảm thu nhập mà còn trực tiếp làm đứt gãy trạng thái ổn định đời sống. Đây là nhóm hộ đã ra khỏi diện thụ hưởng các chính sách hỗ trợ giảm nghèo trực tiếp, trong khi năng lực tích lũy và tự bảo vệ trước rủi ro còn hạn chế, dễ rơi vào khoảng trống chính sách sau thoát nghèo. Trong bối cảnh đó, các cú sốc kinh tế - xã hội rất dễ chuyển hóa thành nguy cơ tái nghèo.
Rủi ro sinh kế và thu nhập là dạng rủi ro phổ biến nhất. Phần lớn hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo ở Tây Nguyên vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, manh mún, phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên và biến động thị trường. Nhiều hộ thoát nghèo nhờ hỗ trợ giống, vốn hoặc do giá nông sản tăng trong một vài vụ, nhưng chưa hình thành được sinh kế bền vững. Thực tiễn cho thấy, một số hộ thoát nghèo giai đoạn 2021-2022 dựa vào cà phê, hồ tiêu; tuy nhiên đến năm 2023, khi giá hồ tiêu giảm và hạn hán kéo dài, thu nhập suy giảm rõ rệt, buộc nhiều hộ phải bán gia súc hoặc vay tiêu dùng để duy trì sinh hoạt. Khi không còn thuộc diện hộ nghèo, khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ sinh kế bị thu hẹp, làm gia tăng tính dễ bị tổn thương về an sinh xã hội (việc làm, sức khỏe, giáo dục, y tế).
Rủi ro việc làm và bảo đảm thu nhập làm suy yếu nền tảng an sinh của nhóm hộ sau thoát nghèo. Ngoài nông nghiệp, nhiều hộ có thêm nguồn thu từ lao động làm thuê hoặc di cư thời vụ, song chủ yếu thuộc khu vực phi chính thức, không có hợp đồng lao động và không tham gia bảo hiểm xã hội. Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ lao động phi chính thức cao nhất cả nước, đạt 85,5% năm 2021, sau đó giảm nhẹ còn 85,3% năm 2024. Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động giảm từ 5,20% năm 2021 xuống còn 3,00% năm 2024, song vẫn cao hơn nhiều so với mức bình quân chung cả nước (1,85%) (Tổng Cục thống kê, 2025). Khi mất việc hoặc giảm ngày công, thu nhập hộ gia đình giảm đột ngột nhưng không có các cơ chế bảo vệ thu nhập đi kèm, khiến rủi ro việc làm nhanh chóng chuyển hóa thành rủi ro an sinh xã hội.
Rủi ro y tế và chi phí xã hội phát sinh là tác nhân có sức “kéo lùi” mạnh nhất đối với thành quả thoát nghèo. Mặc dù tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế được cải thiện, song trên thực tế, bảo hiểm y tế mới chỉ giảm được một phần chi phí. Đối với các trường hợp bệnh nặng hoặc điều trị kéo dài, nhiều hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo vẫn không đủ khả năng chi trả. Nhiều hộ phải bán đất sản xuất hoặc vay mượn để chi trả chi phí điều trị, làm đứt gãy sinh kế lâu dài và xóa bỏ thành quả thoát nghèo.
Bên cạnh đó, hạn chế trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản tiếp tục làm gia tăng rủi ro an sinh xã hội trong dài hạn. Ở nhiều xã vùng sâu, vùng xa, điều kiện tiếp cận giáo dục còn khó khăn, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số bỏ học ở bậc trung học cao hơn mức trung bình, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực và khả năng duy trì thoát nghèo bền vững. Đáng lưu ý, tỷ lệ gia tăng dân số của vùng Tây Nguyên có xu hướng tăng trở lại, từ 0,97% năm 2022 lên 1,26% năm 2024, tạo thêm áp lực về việc làm, thu nhập và bảo đảm an sinh xã hội đối với các hộ vừa thoát nghèo (Tổng Cục thống kê, 2025).
Rủi ro tiếp cận thông tin trong bối cảnh chuyển đổi số. Chuyển đổi số mở ra nhiều cơ hội trong mở rộng khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ công, song đối với đồng bào dân tộc thiểu số, quá trình này cũng làm nảy sinh những rủi ro mới liên quan đến tiếp cận thông tin, có tác động trực tiếp đến hiệu quả thực thi chính sách an sinh xã hội.
Trước hết, trong chuyển đổi số, khoảng cách số về hạ tầng và điều kiện tiếp cận vẫn là rào cản cơ bản. Ở nhiều xã vùng sâu, vùng xa, chất lượng hạ tầng viễn thông và internet chưa ổn định, trong khi tỷ lệ hộ gia đình có thiết bị thông minh còn thấp, khiến việc tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến và nền tảng an sinh số gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người cao tuổi, phụ nữ và hộ nghèo, còn hạn chế về kỹ năng sử dụng thiết bị số và các ứng dụng trực tuyến, dẫn đến khó tiếp cận kịp thời thông tin về chính sách. Rào cản ngôn ngữ và văn hóa cũng làm suy giảm hiệu quả tiếp cận thông tin khi phần lớn nội dung trên các cổng dịch vụ công và nền tảng số được thiết kế bằng tiếng Việt. Trong bối cảnh nhiều chính sách được cung cấp thông qua các kênh số, nếu không duy trì song song các hình thức truyền thông trực tiếp, nguy cơ “đứt gãy thông tin” có thể xảy ra, làm gia tăng bất bình đẳng trong thụ hưởng chính sách an sinh xã hội và tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo đối với các hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo.
Trên thực tế, nguy cơ tái nghèo ở Tây Nguyên không phải là hiện tượng cá biệt, mà là hệ quả của việc nhóm hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo chưa duy trì được trạng thái an sinh xã hội ổn định trong bối cảnh rủi ro chồng lấn. Khi sinh kế thiếu bền vững, việc làm không ổn định và khả năng tích lũy thấp, một cú sốc nhỏ cũng có thể làm đứt gãy nền tảng an sinh của hộ gia đình, đẩy họ quay trở lại vòng nghèo đói. Tình trạng “thoát nghèo - tái nghèo” lặp lại không chỉ làm suy giảm hiệu quả của các chương trình giảm nghèo mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý, động lực vươn lên và niềm tin của người dân vào tính bền vững của chính sách.
c) Nguyên nhân của hạn chế
Thứ nhất, nhiều chính sách đang được triển khai trên địa bàn vùng có sự trùng lặp, chồng chéo về nội dung và đối tượng thụ hưởng.
Nhiều nội dung chính sách còn trùng lặp, nhất là trong các lĩnh vực như đất đai, nhà ở, y tế, giáo dục và việc làm. Việc triển khai một số nội dung chưa thật sự phù hợp với điều kiện của từng địa phương, đặc biệt tại các vùng dân tộc thiểu số do sự khác biệt về đặc điểm dân cư và điều kiện kinh tế – xã hội. Bên cạnh đó, một số chính sách còn mang tính cấp phát, hỗ trợ miễn phí hoặc cho không, vừa tạo gánh nặng ngân sách nhà nước, vừa có thể hình thành thói quen thụ hưởng không kèm điều kiện trong một bộ phận người dân. Nhiều chính sách hỗ trợ được thực hiện trong thời gian dài nhưng thiếu các điều kiện ràng buộc rõ ràng về trách nhiệm và kết quả, dẫn đến việc đối tượng thụ hưởng chưa gắn với cam kết cụ thể, đồng thời trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc bảo đảm thay đổi thực chất đời sống của người dân sau khi chính sách kết thúc hoặc khi họ không còn thuộc diện thụ hưởng chưa được thể hiện rõ.
Thứ hai, trong một số trường hợp, việc triển khai còn mang tính chạy theo thành tích, tập trung vào việc hoàn thành các tiêu chí mà chưa quan tâm đầy đủ đến tính bền vững của sinh kế và khả năng duy trì kết quả đạt được. Chính quyền cơ sở còn gặp nhiều khó khăn trong việc lồng ghép các nguồn vốn, cũng như trong thủ tục và cơ chế quản lý; việc xác định trọng tâm, trọng điểm để giải quyết vấn đề chưa thật rõ ràng, do đó quá trình thực hiện vẫn chủ yếu theo hướng triển khai một chiều các chính sách.
Thứ ba, một bộ phận đồng bào chưa chủ động vươn lên thoát nghèo. Tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước vẫn tồn tại khá phổ biến, đặc biệt tại những địa bàn được thụ hưởng chính sách trong thời gian dài. Một số hộ nghèo chưa thực sự coi thoát nghèo là trách nhiệm và mục tiêu. Văn hóa, tập quán, lối sống tự cung tự cấp, phương thức sản xuất manh mún và những hạn chế trong tiếp thu khoa học - kỹ thuật làm cho khả năng tạo thu nhập bền vững của nhiều hộ còn thấp, khó thích ứng với biến động kinh tế và rủi ro thiên tai, khí hậu. Tâm lý ngại thay đổi của một bộ phận người dân, đặc biệt là những người ở độ tuổi trung niên khiến việc tiếp cận đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ gặp nhiều hạn chế.
Thứ tư, do đặc điểm nội tại của vùng, vốn chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu và tình trạng suy giảm tài nguyên đất, nước, rừng; cùng với biến động giá của các nông sản chủ lực như cà phê, cao su, hồ tiêu, nên sinh kế của người dân còn bấp bênh và thu nhập thiếu ổn định. Phần lớn người dân phụ thuộc vào các nguồn sinh kế đơn lẻ, có chu kỳ sản xuất dài và ít có sự chuyển đổi đáng kể (tiêu, cà phê, cao su, điều). Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là giao thông, hạ tầng công nghệ và internet.
2.3. Hàm ý chính sách phòng ngừa rủi ro an sinh xã hội đối với hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo ở Tây Nguyên trong bối cảnh mới
a) Bối cảnh phát triển mới của Tây Nguyên trong liên kết vùng duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên
Theo Nghị quyết 306/NQ-CP ngày 5-10-2025 của Chính phủ về điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gồm 6 tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng. Không gian phát triển vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được hình thành như một chỉnh thể kinh tế - xã hội thống nhất, có tính bổ trợ cao giữa vùng ven biển và vùng cao nguyên. Sự liên kết này mở ra dư địa phát triển mới nhưng đồng thời làm biến đổi sâu sắc cấu trúc kinh tế - xã hội và phân bố nguồn lực trong vùng. Trong khi duyên hải Nam Trung Bộ giữ vai trò cửa ngõ biển, trung tâm dịch vụ, logistics, công nghiệp chế biến và du lịch, thì Tây Nguyên là không gian sinh kế chủ yếu của đông đảo đồng bào dân tộc thiểu số với nền tảng kinh tế - xã hội còn hạn chế.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với quản lý kinh tế - xã hội của vùng. Công nghệ số tạo tiền đề cho chính quyền đổi mới phương thức quản lý, theo dõi sát sao đời sống và sinh kế của người dân, đồng thời kiểm soát các rủi ro xã hội hiệu quả hơn. Đối với Tây Nguyên, chuyển đổi số không chỉ đơn thuần là ứng dụng công nghệ hay số hóa thủ tục hành chính, mà còn có thể trở thành công cụ hỗ trợ đổi mới quản trị địa phương, góp phần khắc phục những hạn chế về điều kiện địa lý, dân cư phân tán và khoảng cách thị trường. Theo đó, chuyển đổi số trở thành công cụ phòng ngừa rủi ro an sinh, chứ không chỉ là cải cách hành chính. Tuy nhiên, những rào cản hạ tầng số đang tạo ra những điểm nghẽn trong chuyển đổi số hiện nay, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Do đó, việc hoàn thiện chính sách phòng ngừa rủi ro an sinh xã hội đối với hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo cần được coi là nhiệm vụ trọng tâm, gắn với đổi mới phương thức quản trị trong bối cảnh chuyển đổi số, nhằm bảo đảm tính bền vững của kết quả giảm nghèo trong không gian phát triển mới. Do vậy, cùng với chính sách giảm nghèo, cần bảo đảm trạng thái an sinh xã hội ổn định cho các hộ dân tộc thiểu số sau khi thoát nghèo, đây là điều kiện tiên quyết để duy trì giảm nghèo bền vững trong bối cảnh phát triển mới.
b) Đề xuất chính sách bảo đảm an sinh xã hội đối với các hộ vừa thoát nghèo
Đối với Trung ương
Một là, tích hợp và tái cấu trúc các chính sách an sinh xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số theo hướng phòng ngừa rủi ro, khắc phục tình trạng các chính sách được triển khai song song nhưng thiếu sự liên thông và phối hợp hiệu quả. Việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 257/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2035 tạo tiền đề quan trọng để thúc đẩy cách tiếp cận này trong giai đoạn tới.
Trên cơ sở các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035, cần hình thành khung chính sách an sinh xã hội dành riêng cho hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo, với thời hạn hỗ trợ xác định nhằm ổn định sinh kế, thu nhập và hạn chế tái nghèo.
Các chính sách an sinh xã hội cần được thiết kế phù hợp với không gian phát triển liên vùng, nhất là trong lĩnh vực lao động và việc làm; bảo đảm tính liên tục của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và hỗ trợ việc làm khi người lao động thay đổi nơi cư trú hoặc việc làm, giảm sự phụ thuộc vào hộ khẩu và địa bàn hành chính.
Hai là, chuyển từ hỗ trợ trực tiếp sang hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững. Theo đó, các hình thức hỗ trợ trực tiếp cần được thay thế bằng các chính sách đầu tư có điều kiện, hướng tới tăng cường nguồn lực sản xuất, kỹ năng lao động và khả năng tham gia thị trường của người dân.
Đối với khu vực Tây Nguyên, các chính sách hỗ trợ cần tập trung vào phát triển sinh kế nông - lâm nghiệp bền vững, gắn với bảo vệ rừng, sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai và chuyển đổi sang nông nghiệp hàng hóa theo chuỗi giá trị. Đặc biệt, các mô hình sinh kế phải phù hợp với điều kiện sinh thái và đặc thù văn hóa - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó vừa tạo thu nhập ổn định, vừa góp phần bảo tồn không gian văn hóa và hệ sinh thái vùng cao nguyên.
Theo cách tiếp cận này, hỗ trợ sinh kế bền vững không chỉ là cung cấp vốn hay tư liệu sản xuất ban đầu, mà bao gồm chuyển giao kỹ thuật, kết nối thị trường, tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết, cũng như nâng cao khả năng quản trị rủi ro trước những biến động về thị trường, thiên tai và biến đổi khí hậu. Đây chính là điều kiện then chốt để bảo đảm quá trình thoát nghèo mang tính chủ động và bền vững trong dài hạn.
Ba là, phát triển các công cụ phòng ngừa rủi ro mang tính hệ thống cho hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo như: hỗ trợ bảo hiểm xã hội tự nguyện linh hoạt, mở rộng hỗ trợ chi phí y tế ngoài phạm vi bảo hiểm y tế, bảo hiểm rủi ro sản xuất nông nghiệp và tín dụng dự phòng quy mô nhỏ.
Bốn là, tăng cường nguồn lực đầu tư hạ tầng, nhất là hạ tầng công nghệ thông tin, ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý, theo dõi hộ nghèo, thoát nghèo, tái nghèo; thống nhất quản lý, liên thông và chia sẻ dữ liệu an sinh xã hội, bảo đảm quyền lợi an sinh xã hội của lao động dân tộc thiểu số không bị gián đoạn trong quá trình dịch chuyển lao động và liên kết phát triển vùng.
Đối với địa phương
Một là, quản trị nguy cơ tái nghèo trong giai đoạn sau thoát nghèo. Chính quyền địa phương cần cụ thể hóa các định hướng của Trung ương thành giải pháp phù hợp với điều kiện từng địa bàn, tập trung vào giai đoạn 2-3 năm sau thoát nghèo - là giai đoạn nguy cơ tái nghèo cao nhất; tăng cường theo dõi đời sống, sinh kế của hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo để kịp thời hỗ trợ khi có biến động.
Hai là, xây dựng cơ chế phát hiện sớm rủi ro an sinh xã hội từ cấp cơ sở. Chính quyền cấp xã cần có cơ chế phát hiện sớm các rủi ro an sinh xã hội như mất mùa, bệnh tật, mất việc làm hoặc nợ nần; đồng thời phát huy vai trò của cộng đồng, các tổ chức đoàn thể và người có uy tín trong việc cung cấp thông tin và hỗ trợ kịp thời.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, để phát hiện sớm và phòng ngừa nhanh, xã cần từng bước xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu số về hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo, tích hợp các thông tin về sinh kế, thu nhập, việc làm, y tế, giáo dục, tiếp cận bảo hiểm và rủi ro thiên tai. Trên cơ sở đó, chính quyền cấp xã có thể phát hiện sớm các dấu hiệu bất ổn, chủ động can thiệp phòng ngừa thay vì hỗ trợ sau khi rủi ro xảy ra. Nâng cao năng lực số cho cộng đồng dân cư, nhất là dân cư vùng dân tộc thiểu số, tránh đứt gãy thông tin phản hồi, hỗ trợ.
Ba là, chính quyền địa phương các cấp cần gắn chặt chính sách an sinh xã hội với phát triển sinh kế bền vững, chủ động hỗ trợ hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo tham gia các mô hình sinh kế phù hợp trong không gian tỉnh mới. Các mô hình này có thể bao gồm phát triển nông nghiệp hàng hóa gắn với chế biến, mở rộng hoạt động dịch vụ, du lịch và các ngành nghề phi nông nghiệp, qua đó tạo việc làm ổn định, nâng cao thu nhập và góp phần giảm thiểu rủi ro an sinh xã hội trong dài hạn. Đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số nhằm hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin thị trường, kết nối tiêu thụ sản phẩm, học nghề trực tuyến và tìm kiếm việc làm, qua đó nâng cao khả năng tự phòng ngừa rủi ro về thu nhập.
Thứ tư, nâng cao năng lực thực thi chính sách và vai trò điều phối của chính quyền cấp xã trong bối cảnh số hóa. Chính quyền cấp xã là chủ thể trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách phòng ngừa rủi ro an sinh, song năng lực số của đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế. Do đó, cần nâng cao năng lực số cho cán bộ xã, nhất là trong quản lý dữ liệu, phân tích thông tin và phối hợp liên ngành. Đồng thời, cần phát huy vai trò của tổ công nghệ số cộng đồng, già làng, người có uy tín như những “cầu nối xã hội” giúp hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo tiếp cận và tin tưởng các dịch vụ an sinh trong môi trường số.
Năm là, bảo đảm nguyên tắc bao trùm, tránh phát sinh những rủi ro mới về tiếp cận an sinh xã hội trong quá trình chuyển đổi số. Cần chú ý nguy cơ hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo bị loại trừ khỏi các dịch vụ an sinh do thiếu kỹ năng số, thiết bị hoặc hạ tầng. Duy trì song song các hình thức hỗ trợ trực tiếp và hỗ trợ qua nền tảng số, như: hướng dẫn làm căn cước công dân đối với người dân tộc thiểu số, hướng dẫn sử dụng sổ khám bệnh điện tử, hướng dẫn khai thác thông tin và phản hồi chính sách trên VNeID; qua đó bảo đảm mọi cá nhân đều có khả năng tiếp cận và thụ hưởng.
Sáu là, tăng cường phối hợp liên tỉnh trong tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là trong chia sẻ dữ liệu về hộ nghèo, hộ vừa thoát nghèo, đào tạo nghề và kết nối việc làm, nhằm bảo đảm tính liên tục của an sinh xã hội khi người dân dịch chuyển giữa các địa bàn, hạn chế tình trạng đứt gãy chính sách trong thực tế.
3. Kết luận
Phòng ngừa rủi ro an sinh xã hội đối với hộ dân tộc thiểu số vừa thoát nghèo ở Tây Nguyên không chỉ là yêu cầu của giảm nghèo bền vững, mà còn là điều kiện quan trọng để bảo đảm ổn định xã hội và thúc đẩy phát triển lâu dài. Việc chuyển mạnh từ hỗ trợ khi đã rơi vào tình trạng nghèo sang hỗ trợ ổn định sau thoát nghèo, với sự phối hợp chặt chẽ giữa trung ương và địa phương, sẽ góp phần củng cố “lớp đệm” an sinh cho hộ dân tộc thiểu số, hạn chế nguy cơ tái nghèo và nâng cao hiệu quả của các chính sách an sinh xã hội trong giai đoạn tới. Qua đó, góp phần thực hiện mục tiêu “cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân” mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
_________________
Ngày nhận bài: 25/2/2026; Ngày bình duyệt: 9/3/2026 ; Ngày duyệt đăng: 30/5/2026
Trương Minh Dục (2025). Giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, góp phần xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực, nền tảng cho sự phát triển bền vững vùng Tây Nguyên trong bối cảnh mới. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://tapchicongsan.org.vn.
Tổng cục Thống kê (2025): Niên giám Thống kê 2024. Nxb Thống kê.