Quốc tế

Quá trình phát triển tổ chức đảng địa phương ở Lào

08/09/2026 15:40

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5188
Tóm tắt: Đảng Nhân dân Cách mạng Lào được thành lập tại Hội nghị toàn quốc lần thứ Nhất, họp ở tỉnh Hủa Phăn năm 1955. Từ khi ra đời đến nay, Đảng đã tiến hành 12 kỳ Đại hội. Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Cay xỏn Phômvihản làm cơ sở lý luận, tư tưởng khoa học và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Phát huy truyền thống tốt đẹp của đất nước, của Đảng, với tinh thần đoàn kết thống nhất của toàn dân, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào luôn chú trọng xây dựng, hoàn thiện hệ thống tổ chức, qua đó nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

TS KOUYANG SISOMBLONG
Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào

vc2.png
Đại hội Đảng bộ Thủ đô Viêng Chăn lần thứ VIII, năm 2025_Ảnh: TCLV

1. Mở dầu

Đại hội XII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã áp dụng phương thức “kiêm chức” ở cả công tác đảng và công tác chính quyền. Theo đó, Bí thư tỉnh, Thủ đô, huyện, thị trấn, thành phố đồng thời là Chủ tịch Hội đồng nhân dân ở cấp đó, lãnh đạo về quốc phòng, an ninh; Chủ tịch tỉnh, Thủ đô, huyện, thị trấn, thành phố lãnh đạo các tổ chức hành chính, kinh tế - xã hội. Riêng cấp xã, do mới thành lập lại nên bí thư xã vẫn kiêm chủ tịch xã và cấp bản vẫn có chi bộ (có bí thư, phó bí thư bản). Cấp bản không còn là đơn vị hành chính mà chỉ là tổ chức xã hội phục vụ nhân dân (Ban Phục vụ cán bộ lãnh đạo, quản lý, 2026).

Điều lệ Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khóa XII quy định: “hệ thống tổ chức của Đảng được tổ chức theo hệ thống hành chính: mọi tổ chức trong tỉnh, Thủ đô hợp nhất thành Đảng bộ tỉnh, Thủ đô; mọi tổ chức trong cơ quan hành chính hợp nhất thành Đảng bộ cơ quan hành chính; mọi tổ chức đảng, tổ chức đảng của đơn vị vũ trang, đơn vị chuyên môn, doanh nghiệp của Trung ương được lập ở địa phương thì trực thuộc và dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đó” (Đảng NDCM Lào, 2026).

2. Nội dung

2.1. Tổ chức đảng cấp tỉnh, Thủ đô, huyện, thị trấn, thành phố

Chương V Điều lệ Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khóa XII quy định về tổ chức đảng cấp tỉnh, Thủ đô, huyện, thị trấn, thành phố, gồm:

Đảng bộ tỉnh, Thủ đô

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Thủ đô là cơ quan lãnh đạo của Đảng ở địa phương, có vai trò lãnh đạo toàn diện hoạt động của Đảng bộ giữa hai kỳ Đại hội; Đại hội Đảng bộ tỉnh, Thủ đô được triệu tập 5 năm 1 lần; có thể tổ chức sớm hơn hoặc chậm hơn không quá 1 năm khi được sự đồng ý của cấp trên; trường hợp cần thiết có thể tổ chức Đại hội giữa nhiệm kỳ. Các cấp lãnh đạo gồm: Đại hội đại biểu của Đảng bộ tỉnh, Thủ đô; Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Thủ đô; Đảng ủy, Ban Thường trực (Bí thư, Phó Bí thư tỉnh ủy, Thủ đô).

Ngoài ra, trong hệ thống tổ chức của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào ở cấp tỉnh, Thủ đô còn có các cơ quan tham mưu cho Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Thủ đô, như: Văn phòng Đảng ủy; Ban Tổ chức; Ban Kiểm tra đảng; Ban Tuyên huấn. Bên cạnh đó có Trường Chính trị và hành chính; Mặt trận Xây dựng đất nước; các tổ chức đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, Công đoàn và Cựu chiến binh (Đảng NDCM Lào, 2026).

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, thị trấn, thành phố

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, thị trấn, thành phố là cơ quan lãnh đạo của Đảng ở địa phương, có vai trò lãnh đạo hoạt động của Đảng bộ giữa hai kỳ Đại hội; Đại hội đại biểu huyện, thị trấn, thành phố triệu tập 5 năm 1 lần; có thể tiến hành Đại hội đại biểu sớm hơn hoặc muộn hơn không quá 1 năm khi được sự đồng ý của cấp trên; trường hợp cần thiết có thể tổ chức Đại hội giữa nhiệm kỳ. Các cơ quan lãnh đạo của Đảng bộ cấp huyện, thị trấn, thành phố gồm: Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện, thị trấn, thành phố; Hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ huyện, thị trấn, thành phố; Ban Chấp hành; Ban Thường trực (Bí thư, Phó Bí thư huyện, thị trấn, thành phố).

Các tổ chức tham mưu cho Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, thị trấn, thành phố, như: Văn phòng huyện ủy, thị trấn, thành phố; Ban Tổ chức huyện, thị trấn, thành phố; Ban Kiểm tra huyện, thị trấn, thành phố; Ban Tuyên huấn huyện, thị trấn, thành phố; Mặt trận Lào Xây dựng đất nước huyện, thị trấn và thành phố; các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn, Cựu chiến binh huyện, thị trấn, thành phố và xã (Đảng NDCM Lào, 2026).

Tổ chức đảng cấp xã

Chương VI Điều lệ Đảng Nhân dân Cách mạng Lào khóa XII quy định về tổ chức đảng cấp xã. Tổ chức đảng cấp xã là đơn vị cơ sở của đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, nơi sinh hoạt đảng của đảng viên cấp xã, là đơn vị giáo dục, bồi dưỡng và kết nạp đảng viên mới, chịu trách nhiệm thi hành Điều lệ Đảng, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách và pháp luật của Nhà nước ở cấp xã. Tổ chức đảng cấp xã gồm: Đảng ủy, chi bộ cơ sở và chi bộ cơ sở trực thuộc đảng ủy cơ sở, được tổ chức theo các đơn vị cơ sở, đơn vị hành chính, đơn vị chuyên môn, trường học, bệnh viện, đơn vị lực lượng vũ trang, doanh nghiệp…, có từ 03 đảng viên chính thức trở lên. Nếu chưa đủ 03 đảng viên chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp. Tổ chức cơ sở đảng dưới 30 đảng viên chính thức được lập chi bộ cơ sở, có các tổ đảng trực thuộc; tổ chức cơ sở đảng có từ 30 đảng viên chính thức trở lên được lập đảng bộ cơ sở, có các chi bộ trực thuộc đảng ủy sau khi được sự đồng ý của cấp ủy cấp trên.

Ban Chấp hành đảng bộ xã, chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc đảng bộ xã có vai trò lãnh đạo hoạt động của Đảng bộ xã, chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc đảng bộ xã giữa hai kỳ Đại hội; Đại hội đại biểu xã, chi bộ cơ sở triệu tập 5 năm 1 lần; có thể tiến hành Đại hội đại biểu sớm hơn hoặc muộn hơn không quá 1 năm khi được sự đồng ý của cấp trên; trường hợp cần thiết có thể triệu tập Đại hội giữa nhiệm kỳ. Các cấp lãnh đạo ở Đảng bộ xã gồm: Đại hội đại biểu Đảng bộ xã, chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc đảng bộ xã; Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ xã, chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc đảng bộ xã; Ban Chấp hành; Ban Thường trực (Bí thư, Phó Bí thư xã, chi bộ cơ sở và chi bộ trực thuộc đảng bộ xã). Đảng bộ xã có từ 3-15 tổ chức cơ sở đảng có Ban Chấp hành gồm 05 đồng chí: Bí thư, Phó Bí thư và 03 ủy viên; Đảng bộ xã có từ 16-30 tổ chức cơ sở đảng có Ban Chấp hành gồm 07 đồng chí: Bí thư, Phó Bí thư và 05 ủy viên; Đảng bộ xã có từ 31 tổ chức cơ sở đảng trở lên có Ban Chấp hành gồm 09 đồng chí: Bí thư, Phó Bí thư, Ban Thường trực và 06 ủy viên (Ban Bí thư Trung ương Đảng NDCM Lào (2026).

Tổ chức cơ sở đảng ở bản, cụm bản hoặc bản lớn

Tổ chức cơ sở đảng ở bản hoặc chi bộ bản ở thành thị, nông thôn được tổ chức theo hệ thống hành chính của bản và đơn vị tổ chức khác có đảng viên chính thức từ 03 đồng chí trở lên; các tổ chức có vai trò là hạt nhân chính trị ở bản (bản không phải là một đơn vị hành chính, chỉ là đơn vị dân cư tự quản).

Đối với tổ chức cơ sở đảng ở cụm bản hoặc bản lớn. Chi bộ cụm bản hoặc bản lớn được tổ chức ở những cụm bản có từ 05 bản nhỏ trở lên và có từ 03 chi bộ trở lên, có đảng viên chính thức từ 30 đồng chí trở lên; là hạt nhân chính trị ở bản lớn và cụm bản phát triển.

2.2. Thực tiễn tổ chức và hoạt động của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào ở địa phương

Quá trình hình thành tổ chức Đảng Nhân dân Cách mạng Lào ở địa phương

Trước năm 1975, hậu phương cách mạng của Lào gồm 02 tỉnh phía Bắc là Phông Xa Lỳ và Hủa Phăn, trong khi phần lớn diện tích đất đai thuộc sự cai trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Sau khi đất nước được giải phóng, với tuyên bố ra đời nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào vào ngày 02/12/1975, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã đề ra con đường xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng lòng và quyết tâm vươn lên của toàn dân, đồng thời nhận được sự giúp đỡ tận tình của các nước anh em, đặc biệt là Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã không ngừng lớn mạnh, giành được nhiều thành tựu to lớn trong khắc phục hậu quả chiến tranh, giữ vững ổn định chính trị, phát triển đời sống nhân dân...

Ngày 31/12/1975, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số đặc biệt/BCT-TWĐ, tách Thủ đô Viêng Chăn thành một tỉnh mới, là tỉnh Viêng Chăn; sau đó có Nghị quyết số 16/BCT-TWĐ ngày 30/5/1983 về việc bổ nhiệm Đảng ủy tỉnh Viêng Chăn. Ngày 23/9/1983 Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 34/BCT-TWĐ về việc điều chỉnh và xây dựng lại Thủ đô Viêng Chăn; Nghị quyết số 35/BCT-TWĐ ngày 5/10/1983 về việc xây dựng một số tỉnh, huyện, xã trên cơ sở Nghị quyết số 47/TCT-TWĐ ngày 27/3/1980 về việc bổ nhiệm Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Xay Nha Bu Ly; Nghị quyết số 19/TCT-TWĐ ngày 15/6/1983 về việc bổ nhiệm Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Luông Nam Tha; Nghị quyết số 21/TCT-TWĐ ngày 27/3/1980 về việc bổ nhiệm Bí thư tỉnh Át Ta Pư; Nghị quyết số 27/TCT-TWĐ ngày 23/30/1980 về việc bổ nhiệm Bí thư tỉnh Phông Xa Lỳ; Nghị quyết số 24/TCT-TWĐ ngày 27/3/1980 về việc bổ nhiệm Bí thư tỉnh Xả La Văn; Nghị quyết số 31/TCT-TWĐ ngày 37/3/1980 về việc luân chuyển và bổ nhiệm Bí thư tỉnh Chăm Pa Sắc; Nghị quyết số 57/TCT-TWĐ ngày 28/3/1980 về việc bổ nhiệm Bí thư tỉnh Xiêng Khoảng; Nghị quyết số 20/TCT-TWĐ ngày 15/6/1980 về việc bổ nhiệm Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bo Kẹo và một số tỉnh khác.

Tại Hội nghị lần thứ 8 khóa IV (năm 1990), Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã ra 06 nguyên tắc, 07 đặc trưng, 09 tiền đề trong công cuộc đổi mới, trên cơ sở đó tổ chức đảng ở địa phương được phân thành 4 cấp là: Một là, cấp tỉnh, Thủ đô: có Đảng ủy cấp tỉnh và Thủ đô. Hai là, cấp huyện: có Đảng ủy cấp huyện và thị trấn. Ba là, cấp xã: có Đảng ủy cấp xã. Bốn là, cấp cơ sở: có chi ủy cơ sở (trong đó có chi bộ bản và bản lớn).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, ngày 15/8/1991 đất nước Lào có bước thay đổi mới về tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và hành chính. Thay đổi phương thức lãnh đạo và quản lý theo vùng, khu vực thành phân cấp quản lý; đổi mới phương thức quản lý từ nghị quyết, chỉ thị thành quản lý bằng pháp luật. Hiến pháp năm 1991 quy định: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào gồm có tỉnh, Thủ đô, huyện và bản. Thủ đô có Bí thư tỉnh, Thủ đô kiêm Chủ tịch tỉnh và Thủ đô; huyện có Bí thư huyện kiêm Chủ tịch huyện; bản có Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng bản; bỏ cấp xã để tinh gọn bộ máy chính quyền (Quốc hội nước CHDCND Lào, 1991).

Ngày 18/6/1994 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 28/BCT-TWĐ về việc bổ nhiệm đoàn phụ trách đặc khu Xay Sổm Bun; ngày 22/12/2005 Thủ tướng Chính phủ Lào ra Nghị quyết số 93/TTg về việc bổ nhiệm đoàn phụ trách xây dựng và điều chỉnh lại đặc khu Xay Sổm Bun (bãi bỏ đặc khu Xay Sổm Bun); tiếp đó ra Quy định số 116/CP ngày 18/4/2013 về việc bổ nhiệm đoàn phụ trách nghiên cứu xây dựng tỉnh mới và đến ngày 13/12/2013 Quốc hội đã ra Nghị quyết số 12/QH về việc công nhận kết quả thành lập tỉnh Xay Sổm Bun, bổ nhiệm Ban Chấp hành tỉnh Xay Sổm Bun.

Dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, hệ thống tổ chức đảng ở địa phương được điều chỉnh dựa trên cơ sở thực tiễn của từng giai đoạn cách mạng. Quyết định số 11/BCT-TWĐ về tăng cường công tác xây dựng chi bộ vững mạnh, lãnh đạo toàn diện; Quy định số 11/BBT-TWĐ ngày 23/3/1999 về công tác bảo vệ Đảng trong giai đoạn mới; Quyết định số 02/BCT-TWĐ ngày 20/4/2004 về cơ chế kiểm tra, đánh giá, phân loại tổ chức đảng và đảng viên; Chỉ thị số 374/BBT-TWĐ ngày 6/7/2004 về quy chế kiểm tra, đánh giá, phân loại tổ chức đảng và đảng viên... Những văn bản nêu trên đã góp phần xây dựng tổ chức đảng ở địa phương ngày càng lớn mạnh.

Sau Đại hội XII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (năm 2026), tổ chức đảng ở địa phương được xây dựng, chỉnh đốn và phân thành 04 cấp: Một là, cấp tỉnh, Thủ đô: có Bí thư tỉnh, Thủ đô kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thủ đô; trường hợp cần thiết có thể thành lập đặc khu. Hai là, cấp huyện, thị trấn, thành phố: có Bí thư huyện, thị trấn, thành phố kiêm Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp huyện, thị trấn và thành phố. Ba là, cấp xã: có Bí thư Đảng bộ xã kiêm Chủ tịch xã, có Bí thư chi bộ cơ sở và Bí thư chi bộ trực thuộc đảng bộ xã. Bốn là, cấp bản: có Bí thư chi bộ bản (trường hợp cụm bản hoặc bản lớn, ban chi ủy phải có từ 5-7 đồng chí và ban chi ủy bản nhỏ phải có từ 3-5 đồng chí).

Tình hình thực tiễn về tổ chức, vai trò và hoạt động của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào ở địa phương

Thứ nhất, quá trình xây dựng, chỉnh đốn tổ chức đảng cấp tỉnh, Thủ đô, huyện, thị trấn, thành phố, xã và tổ chức cơ sở bản

Giai đoạn đầu phát triển đất nước, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã thành lập 16 tỉnh, 01 thành phố. Đến năm 1992, cả nước có Thủ đô, 16 tỉnh, 01 đặc khu Xiêng Hon Hông Xả. Năm 1995 bãi bỏ đặc khu Xiêng Hon Hông Xả, xây dựng đặc khu Xay Sổm Bun. Đến năm 2005 bãi bỏ đặc khu Xay Sổm Bun, còn lại Thủ đô và 16 tỉnh. Năm 2013 tỉnh Xay Sổm Bun được thành lập theo Nghị quyết số 012/QH ngày 13/12/2013 của Quốc hội Lào và trên cơ sở Quy định số 147/CP ngày 17/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ Lào về việc thành lập xã trên toàn quốc. Đến năm 2026, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào có Thủ đô, 18 tỉnh, 148 huyện, 640 xã, 879 cụm bản hoặc bản lớn và 8.514 bản nhỏ.

Thứ hai, xây dựng đội ngũ đảng viên trong các tổ chức đảng ở địa phương

Tổ chức đảng ở cấp tỉnh, Thủ đô gồm có: Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường trực Tỉnh ủy, Bí thư, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Thủ đô; Trưởng, Phó trưởng Văn phòng Đảng ủy; trưởng, phó trưởng các cơ quan, ban, ngành và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tổ chức đảng ở cấp huyện, thị trấn, thành phố và xã gồm có: Ban Chấp hành, Ban Thường trực, Bí thư, Phó Bí thư huyện ủy, thị trấn, thành phố và xã; Trưởng, Phó trưởng Văn phòng Đảng ủy, trưởng, phó trưởng cơ quan ban ngành cấp huyện, thị trấn, thành phố và xã. Tổ chức cơ sở đảng ở bản, cụm bản hoặc bản lớn gồm có chi ủy bản, bí thư, phó bí thư và các tổ chức xã hội trong bản.

Thứ ba, tình hình đảng viên sinh hoạt trong tổ chức đảng ở địa phương

Số lượng đảng viên sinh hoạt trong tổ chức đảng ở địa phương năm 2025 là 247.097 đồng chí, trong đó đảng viên chính thức có 222.963 đồng chí (bao gồm 49.938 đồng chí nữ); đảng viên dự bị 24.134 đồng chí (bao gồm 8.344 đồng chí nữ); kết nạp mới 2.789 đồng chí (bao gồm 1.268 đồng chí nữ); dự bị lên chính thức 8.043 đồng chí (bao gồm 2.777 đồng chí nữ) (Ban Tổ chức Trung ương Đảng NDCM Lào, 2025).

Trải qua quá trình thực hiện xây dựng và chỉnh đốn, tổ chức đảng còn bộc lộ một số nội dung cần khắc phục: Một là, việc xây dựng và chỉnh đốn tổ chức đảng ở địa phương chưa đáp ứng được nhiệm vụ chính trị trung ương giao, một số tổ chức chưa thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình. Hai là, một số bí thư, phó bí thư chưa đổi mới phong cách lãnh đạo để phù hợp với thực tiễn; thực hiện Điều lệ Đảng có nơi còn chưa nghiêm. Ba là, hoạt động quản lý và giáo dục chính trị, tư tưởng cho đảng viên, việc sinh hoạt đảng và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình chưa được tiến hành thường xuyên... Bốn là, việc liên hệ trong các tổ chức, giữa cấp trên với cấp dưới, giữa trung ương với địa phương và cùng cấp trong xây dựng kế hoạch chỉnh đốn tổ chức, quản lý đảng viên có lúc, có nơi chưa chặt chẽ; một số đảng bộ, chi bộ chưa đổi mới trong công tác lãnh đạo; công tác báo cáo còn chậm... (Ban Tổ chức Trung ương Đảng NDCM Lào, 2025).

2. Kiến nghị về nâng cao chất lượng tổ chức, vai trò và hoạt động của tổ chức đảng địa phương ở Lào

Thứ nhất, nâng cao trách nhiệm của đảng ủy các cấp về công tác tổ chức - cán bộ.

Nâng cao trách nhiệm của đảng ủy các cấp về công tác tổ chức - cán bộ đòi hỏi sự quyết liệt trong chỉ đạo, thực hiện đồng bộ trong quy hoạch, đào tạo, và bổ nhiệm. Phân cấp rõ ràng, minh bạch cùng với kiểm tra, chuẩn hóa năng lực theo vị trí việc làm, xây dựng đội ngũ lãnh đạo chuyên nghiệp, đạo đức và tăng cường kỷ cương, kỷ luật đảng. Tăng cường vai trò của người đứng đầu, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, lãnh đạo cao nhất về tầm quan trọng của công tác cán bộ. Người đứng đầu chịu trách nhiệm về các khâu: quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quản lý, kiểm tra, giám sát, đánh giá, bảo vệ cán bộ, chính sách đãi ngộ và kỷ luật một cách nghiêm minh.

Thứ hai, xây dựng và đổi mới phong cách lãnh đạo

Xây dựng và đổi mới phong cách lãnh đạo các cấp ủy địa phương: dân chủ, khoa học, sâu sát thực tế, “gần dân, sát dân, vì dân”; tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tăng cường kiểm tra giám sát, bảo đảm kỷ cương và hiệu quả thiết thực; tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc tập trung dân chủ, “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; cải tiến cách thức ra nghị quyết: ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện, tránh chung chung, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số.

Thứ ba, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng bộ, chi bộ cơ sở.

Đảng bộ, chi bộ là “hạt nhân” của Đảng, là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, nơi phản ánh ý kiến, nguyện vọng của đảng viên và nhân dân. Để thực hiện tốt những công việc trên, công tác sinh hoạt đảng bộ, chi bộ phải từng bước được đổi mới, nền nếp sinh hoạt phải luôn được duy trì; nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình được chú trọng và coi đó là hoạt động thường xuyên của tổ chức đảng để thực hiện chức năng hạt nhân chính trị lãnh đạo, đồng thời là nơi phát huy tính chủ động, sáng tạo của đảng viên trong đề xuất các chủ trương, giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên.

Thứ tư, xây dựng phong trào thi đua trong các đảng bộ, chi bộ địa phương, góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên về vai trò của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị; công tác quản lý, phân công nhiệm vụ cho đảng viên, rèn luyện phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm phải có chuyển biến tích cực; nâng cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; tăng cường số lượng, chất lượng các cuộc kiểm tra, giám sát hằng năm.

Thứ năm, coi trọng công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể.

Xây dựng tổ chức đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ then chốt, quyết định sự tồn vong của chế độ. Trọng tâm bao gồm nâng cao năng lực lãnh đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, chỉnh đốn tổ chức và phát huy vai trò Mặt trận, đoàn thể theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ chính trị nội bộ và kiên quyết ngăn chặn sự suy thoái; tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết, giám sát và phản biện xã hội; phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

3. Kết luận

Tổ chức đảng Nhân dân Cách mạng Lào ở địa phương gồm có các cấp tỉnh, Thủ đô, huyện, thị trấn, thành phố, xã và tổ chức cơ sở đảng ở bản lớn, bản phát triển. Các tổ chức này có vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị ở địa phương và lãnh đạo công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng. Tổ chức đảng Nhân dân Cách mạng Lào ở địa phương thực hiện nhiệm vụ chính trị do Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó; lãnh đạo mọi tổ chức và công việc ở địa phương bảo đảm trong sạch, vững mạnh; triển khai đường lối, chủ trương, nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng, Hiến pháp, pháp luật và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước thành hiện thực.

_________________

Ngày nhận bài: 13/5/2026; Ngày bình duyệt: 24/6/2026; Ngày quyết định đăng: 6/9/2026.

Emai tác giả: khamkeo2881@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Ban Bí thư Trung ương Đảng NDCM Lào (2026). Quyết định số 02/BBTWD ngày 24/03/2026 về tổ chức và hoạt động của Đảng bộ xã.

Ban Tổ chức Trung ương Đảng NDCM Lào (2025). Báo cáo tổng kết cuối năm về tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.

Ban Phục vụ cán bộ lãnh đạo, quản lý (2026). Tài liệu triển khai kết quả Đại hội lần thứ XII của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.

Đảng NDCM Lào (2026). Điều lệ Đảng khóa XII.

Quốc hội nước CHDCND Lào (1991). Hiến pháp năm 1991.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Quá trình phát triển tổ chức đảng địa phương ở Lào