DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5049
Tóm tắt: Trong tiến trình đổi mới, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện chính sách an sinh xã hội, bảo đảm công bằng, ổn định xã hội và đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Trên cơ sở luận cứ khoa học và minh chứng thực tiễn, bài viết khẳng định thực hiện “không để ai bị bỏ lại phía sau” là thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, đặc trưng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
PGS, TS BÙI THỊ KIM HẬU
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

1. Mở đầu
Trong quá trình đổi mới đất nước, Việt Nam đã xây dựng hệ thống an sinh xã hội đồng bộ, đa tầng, bao phủ toàn dân và lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm công bằng và ổn định xã hội. Tuy vậy, các thế lực thù địch vẫn xuyên tạc rằng, việc “không để ai bỏ lại phía sau” là sự “bình quân, cào bằng” và đó là biểu hiện của “bất công xã hội” trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là quan điểm phiến diện, sai trái, nhằm xuyên tạc bản chất của mô hình chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam đang xây dựng, để từ đó phủ nhận những thành tựu và nỗ lực to lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu dân chủ, giàu mạnh, công bằng, văn minh, hạnh phúc.
2. Nội dung
2.1. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với thực hiện “không để ai bị bỏ lại phía sau”
Xã hội xã hội chủ nghĩa là chế độ xã hội mang bản chất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Về kinh tế, chủ nghĩa xã hội tiến tới xóa bỏ triệt để chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu - nguồn gốc sâu xa của mọi sự áp bức giai cấp, thiết lập chế độ sở hữu công về tư liệu sản xuất chủ yếu. Về chính trị, xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện quyền làm chủ thuộc về nhân dân. Về văn hóa - tư tưởng và xã hội, xây dựng hệ tư tưởng tiến bộ của giai cấp công nhân, do con người và vì con người, hướng đến mục tiêu giải phóng con người một cách toàn diện, bảo đảm “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(1), không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây chính là những nội dung biểu hiện tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa dựa trên học thuyết Mác - Lênin, một học thuyết khoa học, cách mạng và tiến bộ.
Nhận thức sâu sắc tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã khẳng định: cách mạng Việt Nam không có con đường nào khác là cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì vậy, sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết tâm cùng Đảng và Nhà nước từng bước hiện thực hóa mục tiêu của chủ nghĩa xã hội thông qua các chính sách về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong điều kiện vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Đảng và Chính phủ nỗ lực chăm lo đời sống nhân dân, nhằm bảo đảm ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng có chỗ ở, ai cũng được học hành, ai cũng được hạnh phúc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động, thúc đẩy các phong trào thi đua, như: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”, “Tuần lễ vàng”, “Hũ gạo tiết kiệm”, “Bình dân học vụ”… Theo Người, “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do độc lập cũng chẳng làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành”(2). Người chỉ rõ, để thực hiện được điều đó, cần có sự vào cuộc của toàn Đảng, toàn dân vì “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đảng ta là đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân”(3).
Thực hiện chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếp tục hiện thực hóa khát vọng của nhân dân về thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trong suốt các chặng đường kể từ khi giành được độc lập, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”(4).
Trong các thành tựu đó, có thành tựu về công tác xóa đói, giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tộc nỗ lực thực hiện trong điều kiện xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng chăm lo, nâng cao đời sống người dân, nhất là những người nghèo, đối tượng dễ tổn thương để “không để ai bị bỏ lại phía sau”, tiến đến xây dựng xã hội “phồn vinh, hạnh phúc”, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây chính là sự thể hiện tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và kiên định thực hiện trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Trong quá trình đổi mới đất nước, việc chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương đúng đắn của Đảng. Đây là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân thủ những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, điều tiết bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nó không phải là sự lắp ghép mang tính cơ học, hay dựa trên ý chí chủ quan mà căn cứ từ các quy luật khách quan và những bài học từ thực tiễn.
Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự điều tiết, quản lý của nhà nước tư bản với mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận cho nhà tư bản. Tuy nhà nước tư bản có sự điều chỉnh, điều tiết nhưng bản chất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vẫn là phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, không phải vì lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. Đến khi nào nó còn tồn tại dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất thì những mâu thuẫn đối kháng của xã hội tư bản chủ nghĩa do khuyết tật của nền kinh tế thị trường tạo ra không mất đi mà thậm chí ngày càng gia tăng và càng thêm gay gắt. Những mâu thuẫn này biểu hiện rõ rệt qua sự chênh lệch giàu nghèo, ô nhiễm môi trường và tội phạm… Vì vậy, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là liều thuốc vạn năng để tự “chữa lành” mọi căn bệnh do hạn chế mang tính bản chất của nó sinh ra.
Trên thực tế, nền kinh tế thị trường (dù tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa) cũng tồn tại mặt trái là chạy theo lợi nhuận tối đa, cạnh tranh không lành mạnh, gây tác động tiêu cực đến xã hội. Vì vậy, nền kinh tế thị trường luôn cần có sự điều tiết, can thiệp của nhà nước và chỉ có nhà nước dựa trên lợi ích của đại đa số người dân thì mới có thể hạn chế và khắc phục đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực, tự phát do các quy luật kinh tế thị trường gây ra; giữ môi trường xã hội ổn định cho phát triển kinh tế và hướng sự phát triển kinh tế vào các mục tiêu xã hội, bảo đảm công bằng xã hội, an sinh xã hội.
Từ thực tiễn quá trình đổi mới và những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được cho thấy, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam về cơ bản đã hội đủ các yếu tố của nền kinh tế thị trường hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế; vai trò của Nhà nước về quản lý kinh tế được đổi mới; kinh tế vĩ mô ổn định; hạn chế, khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội; ổn định chính trị; gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, thực hiện tốt các mục tiêu an sinh xã hội. Đặc biệt là đã khắc phục được “tính cào bằng”, “chủ nghĩa bình quân” của cơ chế bao cấp trước đây.
Tuy nhiên, như Đảng nhận định “thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập”. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường, để nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững, hướng đến thực hiện ngày càng có hiệu quả cam kết “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
2.2. Quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện “không để ai bị bỏ lại phía sau”
Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn kiên định chủ trương xây dựng và phát triển đất nước dựa trên nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước làm chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Các nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị, như: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24-01-2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04-5-2025 về phát triển kinh tế tư nhân là minh chứng thể hiện tư duy đột phá, quyết tâm chính trị và tầm nhìn chiến lược trong phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta.
Cam kết “không để ai bị bỏ lại phía sau” là thể hiện tính ưu việt của con đường phát triển đất nước, của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Với mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp trong thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân, kinh tế có đầu tư nước ngoài đã có nhiều đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Doanh nhân Việt Nam đã và đang trở thành “chiến sĩ” trên mặt trận kinh tế và từng bước tham gia cùng với hệ thống chính trị để hiện thực hóa cam kết “không để ai bị bỏ lại phía sau”, lan tỏa tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, xây dựng niềm tin cho nhân dân về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Đây không chỉ là lý thuyết, khát vọng mà đã trở thành hiện thực, diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội ở nước ta.
Đến nay, công tác giảm nghèo ở Việt Nam đã thu được nhiều kết quả nổi bật, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao cả về thành tựu và cách thức tiếp cận, giải quyết vấn đề nghèo đói. Từ xóa đói, giảm nghèo, chúng ta đã tiến đến giảm nghèo bền vững và giảm nghèo đa chiều. Nếu năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam còn tới 58,1% thì đến năm 2015 đã giảm xuống còn 9,88% và năm 2024 còn 1,93%; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (hộ nghèo và cận nghèo) là 4,06%(5). Đáng chú ý, theo Báo cáo Hạnh phúc thế giới, năm 2025, Việt Nam đứng thứ 46, cải thiện tích cực so với vị trí 54 của năm 2024, vị trí 65 của năm 2023 và chỉ đứng sau Xinhgapo tại khu vực Đông Nam Á(6)…
Có thể khẳng định, những nỗ lực xóa đói, giảm nghèo, xây dựng xã hội công bằng, hạnh phúc không chỉ thể hiện tinh thần tương thân, tương ái - truyền thống quý báu của người Việt Nam, mà còn khẳng định tính ưu việt và bản chất tốt đẹp của chế độ, đó là bảo đảm quyền thụ hưởng những thành tựu của sự phát triển cho tất cả mọi người. Với phương châm hành động “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát do Chính phủ triển khai với ba nhiệm vụ: hỗ trợ nhà ở cho người có công; hỗ trợ nhà ở cho người dân theo chương trình mục tiêu quốc gia; xóa nhà tạm, nhà dột nát cho người dân… đã tạo hiệu ứng xã hội rất mạnh mẽ và có sự đồng hành của nhiều cơ quan, ban, ngành trong hệ thống chính trị, các doanh nghiệp và mạnh thường quân tham gia. Các phong trào, như: “Cả nước chung tay vì người nghèo”; “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”; “Tháng cao điểm vì người nghèo”;... được triển khai liên tục, rộng khắp trên cả nước đã góp phần chăm lo, giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn trong xã hội. Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và 5 năm 2021 - 2025 của Chính phủ cho biết, giai đoạn 2021 - 2025, đã chi 1,1 triệu tỷ đồng cho an sinh xã hội (chiếm 17% tổng chi ngân sách nhà nước), hỗ trợ gần 700 nghìn tấn gạo cho người khó khăn; mở rộng trợ giúp thường xuyên cho hơn 3,5 triệu người có công, người yếu thế....
Cùng với đó, thu nhập bình quân người lao động hằng năm tăng từ 5,5 triệu đồng năm 2020 lên 8,3 triệu đồng năm 2025. Hoàn thành mục tiêu cơ bản xóa nhà tạm, nhà dột nát sớm 5 năm 4 tháng với hơn 334 nghìn nhà, triển khai xây dựng 633 nghìn nhà ở xã hội(7). Quỹ Đền ơn đáp nghĩa cả nước vận động được trên 600 tỷ đồng, hỗ trợ xây mới khoảng 4.700 nhà tình nghĩa, sửa chữa khoảng 3.500 nhà tình nghĩa với tổng kinh phí hơn 580 tỷ đồng; tặng 10.500 sổ tiết kiệm với kinh phí hơn 27 tỷ đồng...(8). Đây là những con số minh chứng cho sự nỗ lực, cố gắng của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội.
Trong phiên họp Bộ Chính trị ngày 28-02-2025 để kiểm điểm, đánh giá kết quả triển khai bước đầu việc thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đã giúp tiết kiệm được nguồn ngân sách lớn. Theo đó, Bộ Chính trị ra quyết định thực hiện miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước, thời điểm thực hiện từ đầu năm học mới 2025 - 2026 (tháng 9-2025 trở đi). Đây là quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này cho thấy sự thống nhất giữa “ý Đảng, lòng Dân” không chỉ trong từng chủ trương, chính sách mà trong cả quá trình thực thi chính sách, củng cố lòng tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trước những thành tựu đạt được trên thực tế, dù các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc bản chất của chế độ ta cũng không thể phủ nhận, xuyên tạc, bóp méo được những thành tựu đã đạt được sau 40 đổi mới của Việt Nam. Việc quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần cho người dân không vì lợi ích nào khác ngoài hướng đến “Mục tiêu cuối cùng là đất nước hùng cường, thịnh vượng, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, hạnh phúc, ấm no, năm sau cao hơn năm trước”(9).
Để đạt được những thành tựu đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những chủ trương, quyết sách lớn đúng thời điểm, hợp lòng dân nhằm thực hiện cả mục tiêu trước mắt và lâu dài trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội. Các chủ trương này không chỉ tập trung vào hỗ trợ nhằm giải quyết vấn đề đói, nghèo, an sinh xã hội mà đã đi từ những vấn đề cơ bản, như: hỗ trợ tư liệu sản xuất, nhà ở, nguồn nước, đào tạo nghề; kiên quyết, kiên trì phòng chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm và phòng chống lãng phí; cách mạng trong sắp xếp, tinh giản bộ máy; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới… Từ đó, làm cơ sở thực hiện các quyết sách về giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở, giảm nghèo bền vững, an sinh xã hội cho người dân.
Tuy nhiên, kinh tế càng phát triển, khoảng cách thu nhập càng rộng, vì thế thoát nghèo lại trở nên khó khăn hơn. Bên cạnh đó, dưới tác động của nền kinh tế, chính trị toàn cầu như chiến tranh thương mại, đứt gãy chuỗi cung ứng,… và các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, tội phạm… làm cho đời sống một bộ phận người dân khó khăn.
Mặt khác, ở nước ta, hàng năm có tới hơn mười trận bão, mưa lũ bất thường tàn phá nhiều nhà cửa, tài sản và cướp đi mạng sống của nhiều người. Vì vậy, công cuộc giảm nghèo đã khó khăn lại càng khó khăn hơn, những hộ thoát nghèo lại đứng trước nguy cơ tái nghèo. Quý 1-2025 ghi nhận 144.889 người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, giảm 24,2 nghìn người so với cùng kỳ nhưng đây vẫn là số lượng khá lớn. Phần lớn người lao động nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc nhóm không có bằng cấp, chứng chỉ hoặc là nữ giới...(10). Do đó, cần tiếp tục có sự chung tay của các doanh nghiệp, những tấm lòng nhân ái của mọi người dân trên cả nước. Đặc biệt, những chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về các chính sách an sinh xã hội sẽ tạo thêm động lực cho cộng đồng chung tay vì người nghèo, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
2.3. Giải pháp tiếp tục hiện thực hóa cam kết “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Cam kết “không để ai bị bỏ lại phía sau” là thể hiện tính ưu việt của con đường phát triển đất nước, của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để tiếp tục hiện thực hóa cam kết này, cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Cụ thể:
Thứ nhất, nâng cao nhận thức cho người dân về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu ổn định chính trị, phát triển đất nước nói chung và xóa đói, giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội nói riêng. Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, góp phần tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong toàn xã hội. Để thực hiện giải pháp này, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và những việc làm thiết thực. Thông qua các chương trình, chính sách và kết quả phát triển cụ thể, từng bước củng cố niềm tin của người dân đối với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đồng thời chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực và thành tựu của Đảng, Nhà nước trong thực hiện công bằng và an sinh xã hội.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó tăng cường vai trò điều tiết của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Theo đó, cần xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, công bằng giữa các thành phần kinh tế và các nhóm xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ gắn với kỷ cương, pháp luật. Nhà nước bảo đảm cơ hội tiếp cận các nguồn lực cho mọi người dân, như vốn, đất đai, giáo dục, y tế, thông tin và dịch vụ công cơ bản; từng bước mở rộng các chính sách phúc lợi xã hội theo hướng bao trùm, bền vững. Việc triển khai đồng bộ các nghị quyết trụ cột, đột phá của Bộ Chính trị trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc cần được gắn chặt với yêu cầu bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, coi đây là tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả quản lý và điều tiết của Nhà nước.
Thứ ba, tập trung phát triển giáo dục - đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực số và công nghệ cao trong kỷ nguyên mới. Bên cạnh đó, tăng cường chính sách ưu tiên đầu tư giáo dục vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số, nơi còn khó khăn trong cơ hội tiếp cận giáo dục hiện đại. Cải thiện cơ sở vật chất, hỗ trợ học bổng cho học sinh, sinh viên và giáo viên có nhu cầu nâng cao trình độ. Đồng thời, chủ động đẩy mạnh đào tạo nghề và kỹ năng cho người lao động yếu thế nhằm hỗ trợ họ thích ứng với chuyển đổi số, tự động hóa và thị trường lao động mới trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Thứ tư, mở rộng hệ thống an sinh xã hội và tạo sinh kế bền vững cho người dân, nhất là các nhóm dễ bị tổn thương. Hệ thống an sinh xã hội cần được mở rộng cả về phạm vi bao phủ, nội dung và hình thức, bảo đảm tính linh hoạt và khả năng tiếp cận của người lao động phi chính thức, nông dân, người làm nghề tự do. Bên cạnh đó, cần tăng cường các chính sách hỗ trợ tạo việc làm, phát triển sinh kế bền vững thông qua việc phát huy vai trò của cộng đồng nhất là các doanh nghiệp trong và ngoài nhà nước. Phát triển các mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã, khởi nghiệp thông qua việc tăng cường tiếp cận vốn và hỗ trợ kỹ thuật cho người nghèo, phụ nữ, người khuyết tật... có nhu cầu vay vốn, phát triển sản xuất. Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia giải quyết việc làm cho người yếu thế, đồng thời thực hiện hiệu quả các chính sách trợ giúp xã hội, cứu trợ khẩn cấp đối với những đối tượng gặp rủi ro, khó khăn do biến động kinh tế - xã hội, thiên tai, dịch bệnh.
Thứ năm, kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Phát triển kinh tế gắn liền với thực hiện phân phối lại thu nhập một cách công bằng, bình đẳng thông qua chính sách thuế lũy tiến, thuế tài sản, thuế tài chính nhà ở, đất đai… giảm phân hóa thu nhập xã hội. Nhà nước cần tăng kinh phí đầu tư cho các dịch vụ công cộng có tính tái phân phối như y tế, giáo dục, trợ cấp xã hội. Đồng thời, chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng cơ bản và dịch vụ công thiết yếu ở vùng khó khăn, vùng trọng điểm về quốc phòng, an ninh như miền núi, biên giới, hải đảo. Đầu tư vào giao thông, điện, nước sạch, y tế, viễn thông, internet. Ưu tiên chính sách “tam nông” (nông nghiệp, nông dân, nông thôn) để xây dựng và phát triển nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu, nông thôn hiện đại. Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Hỗ trợ người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương gánh chịu hậu quả do tăng trưởng kinh tế thiếu bền vững, như ô nhiễm, biến đổi khí hậu (sạt lở, hạn hán, xâm nhập mặn). Hỗ trợ sinh kế xanh, năng lượng sạch cho các nhóm yếu thế trong xã hội. Thứ sáu, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và công tác giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức chính trị xã hội và người dân. Phát huy dân chủ ở cơ sở theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đây là cơ sở quan trọng để các chính sách “không để ai bị bỏ lại phía sau” được triển khai hiệu quả, công khai, minh bạch và đi vào cuộc sống.
3. Kết luận
Cam kết “không để ai bị bỏ lại phía sau” đã từng bước được hiện thực hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong kỷ nguyên phát triển mới, Việt Nam cần tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về an sinh xã hội, trong đó trọng tâm là chăm sóc sức khỏe toàn dân, nâng cao đời sống, hạnh phúc của nhân dân, bảo đảm mạng lưới y tế vững chắc, y tế dự phòng chủ động và ứng dụng công nghệ số trong quản lý y tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm công bằng xã hội và bảo vệ người yếu thế. Đây không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, mà cần sự chung tay của toàn xã hội nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước “đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(11).
Ngày nhận bài: 09-12-2025; Ngày bình duyệt: 19-12-2025; Ngày duyệt đăng: 21-01-2026.
Email tác giả: buithikimhau@yahoo.com.vn
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.628.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.175.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1996, tr. 323.
(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.104.
(5) Quyết định công bố kết quả rà soát hộ nghèo, cận nghèo năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 (Theo Quyết định số: 217/QĐ-BLĐTBXH ngày 04-02-2025).
(6) Báo điện tử Chính Phủ: Việt Nam tăng vượt bậc về chỉ số hạnh phúc, https://baochinhphu.vn, ngày 20-3-2025.
(7) Báo điện tử Nhân dân: Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống 1,3% năm 2025, https://nhandan.vn, ngày 20-10-2025.
(8) Báo điện tử Nhân dân: Tiếp tục nâng cao đời sống người có công, https://nhandan.vn, ngày 26-12-2023.
(9) Báo điện tử Quân đội nhân dân: Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm, tặng quà công nhân, người lao động, người nghèo tỉnh Hải Dương, https://www.qdnd.vn, ngày 10-1-2024.
(10) Theo Báo cáo của Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước và Lao động năm 2025.
(11) ĐCSVN: Dự thảo các văn kiện trình đại hội XIV của Đảng, (lưu hành nội bộ), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr.27.