DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.9381
Tóm tắt: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ, thống nhất và biện chứng. Trên cơ sở làm rõ quan điểm của Đảng, bài viết phân tích thực tiễn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, chỉ ra sự chuyển biến trong phương thức giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo hướng tích hợp, chuyển hóa và chủ động; gắn xây dựng với bảo vệ, kết hợp sức mạnh toàn dân tộc với sức mạnh thời đại. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp giải quyết mối quan hệ này trong tình hình mới.
TS PHẠM THỊ THÚY VÂN
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

1. Mở đầu
Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ biện chứng. Thực tiễn thời gian qua, phương thức giải quyết mối quan hệ này có sự phát triển theo hướng tích hợp yêu cầu xây dựng và bảo vệ trong từng lĩnh vực, chính sách và quá trình phát triển; đồng thời phát huy khả năng chuyển hóa giữa các nguồn lực và thành quả của hai quá trình. Từ góc tiếp cận này, bài viết phân tích những chuyển biến trong phương thức giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua thực tiễn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp tăng cường tích hợp, phát huy khả năng chuyển hóa giữa xây dựng và bảo vệ, góp phần củng cố sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong giai đoạn mới.
2. Nội dung
2.1. Quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trong các mối quan hệ lớn cần giải quyết của quá trình đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có vị trí đặc biệt quan trọng, gắn trực tiếp với mục tiêu phát triển đất nước và giữ vững những thành quả của cách mạng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) lần đầu tiên hệ thống hóa 8 mối quan hệ lớn, xác định đây là những mối quan hệ cần được nhận thức và giải quyết tốt, trong đó có xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội XIII, Đảng điều chỉnh, bổ sung các mối quan hệ lớn theo hướng chặt chẽ, đầy đủ hơn, thành 10 mối quan hệ lớn cần giải quyết, đồng thời điều chỉnh mối quan hệ “giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” thành “giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2021, tr.119). Sự điều chỉnh này cho thấy “xây dựng” và “bảo vệ” được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại và tạo điều kiện, nguồn lực cho nhau.
Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có nội hàm và trọng tâm khác nhau, nhưng thống nhất trong mục tiêu phát triển đất nước, giữ vững độc lập, chủ quyền và tạo điều kiện nền tảng cho phát triển. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là “quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội” (ĐCSVN, 2011, tr.70); bảo vệ Tổ quốc có nội hàm toàn diện, bao gồm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích quốc gia - dân tộc, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội (ĐCSVN, 2011, tr.81-82). Do đó, “xây dựng” tạo lập cơ sở chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực, qua đó hình thành, gia tăng tiềm lực và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc; “bảo vệ” vững chắc Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền và môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện để huy động và phát huy các nguồn lực cho phát triển.
Về mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược, Đảng xác định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau” (ĐCSVN, 2011, tr.65), đồng thời yêu cầu phải nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ này trong tổng thể các mối quan hệ lớn. Đến Đại hội XIII, nhận thức này tiếp tục được làm sâu sắc trong điều kiện phát triển mới. Cùng với việc xác định các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Đại hội nhấn mạnh yêu cầu gắn phát triển đất nước với bảo vệ vững chắc Tổ quốc, trong đó “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”, “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định” để phát triển đất nước (ĐCSVN, 2021, tr.117-118). Qua đó, yêu cầu gắn kết giữa xây dựng và bảo vệ được thể hiện trong từng lĩnh vực, chính sách và quá trình phát triển đất nước.
Tổng kết 40 năm đổi mới, Đảng nhấn mạnh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là “hai nhiệm vụ chiến lược, có mối quan hệ biện chứng với nhau, không thể tách rời” (ĐCSVN, 2026b, tr.71). Điều này khẳng định tính nhất quán về bản chất của mối quan hệ và cho thấy yêu cầu ngày càng cao trong phương thức tổ chức thực hiện, từ kết hợp hai nhiệm vụ đến tích hợp các yêu cầu xây dựng và bảo vệ trong từng lĩnh vực, chính sách và quá trình phát triển. Đây là cơ sở để nhận diện những chuyển biến trong phương thức giải quyết mối quan hệ qua thực tiễn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII.
2.2. Những chuyển biến trong giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua thực tiễn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII
Thực tiễn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII cho thấy, việc giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được triển khai theo hướng ngày càng toàn diện, đồng bộ và tích hợp hơn. Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc được tích hợp ngay trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển, đồng thời những thành quả của xây dựng được chuyển hóa thành tiềm lực, thế và lực phục vụ bảo vệ Tổ quốc. Điều đó cho thấy phương thức giải quyết mối quan hệ này đã chuyển từ kết hợp giữa hai nhiệm vụ sang tổ chức đồng thời hai quá trình trong một chỉnh thể phát triển và bảo vệ đất nước.
Thứ nhất, phát triển đất nước được xác định đồng thời là quá trình tạo lập tiềm lực và nguồn lực. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, phát triển kinh tế - xã hội vừa tạo ra các điều kiện vật chất nâng cao đời sống nhân dân, vừa tạo lập và gia tăng tiềm lực quốc phòng, an ninh. Giai đoạn 2021-2025, GDP tăng bình quân 6,3%/năm, quy mô nền kinh tế tăng từ hơn 346 tỷ USD năm 2020 lên trên 514 tỷ USD năm 2025...; Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đột phá với nhiều công trình quy mô lớn, hiện đại, có tính kết nối, lan tỏa và định hình cho tương lai (Chính phủ, 2025). Những kết quả đó tạo thêm nguồn lực vật chất, hạ tầng và năng lực tổng hợp cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Sự kết hợp này được thể hiện trong quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển.
Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam khẳng định: “Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã được quan tâm giải quyết ở tất cả các cấp, các ngành trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội” (ĐCSVN, 2026b, tr.132). Yêu cầu của quốc phòng, an ninh được tính đến từ trong quy hoạch, đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là tại các địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo, “kết hợp có hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội” (ĐCSVN, 2026b, tr.137).
Thực tiễn cho thấy, bảo vệ Tổ quốc từng bước được tích hợp vào quá trình lựa chọn mục tiêu, quy hoạch và phân bổ nguồn lực phát triển. “Trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện của Nhà nước, đã tạo sự gắn kết chặt chẽ và thống nhất giữa xây dựng thế trận quốc phòng, thế trận an ninh với quy hoạch tổng thể của quốc gia, của các tỉnh, thành phố về xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội” (ĐCSVN, 2026b, tr.137). Bảo vệ Tổ quốc gắn với chủ động duy trì môi trường hòa bình, ổn định và kiểm soát các nguy cơ tác động đến quá trình phát triển, phản ánh sự chuyển biến trong phương thức giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ bảo đảm an ninh, ổn định sang chủ động tạo lập điều kiện và không gian thuận lợi để phát triển đất nước.
Thứ hai, bảo vệ Tổ quốc trở thành điều kiện trực tiếp tạo lập môi trường và không gian cho phát triển. Trong điều kiện thế giới và khu vực biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc gắn với chủ động phòng ngừa, kiểm soát và hạn chế các yếu tố có thể tác động bất lợi đến quá trình phát triển. Thực tiễn đó được thể hiện qua việc giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, duy trì môi trường hòa bình. Đại hội XIV khẳng định: “Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, môi trường hòa bình được giữ vững; chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm; đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, nâng tầm, đi vào chiều sâu” (ĐCSVN, 2026a, tr.18). Những kết quả đó cho thấy, bảo vệ Tổ quốc ngày càng gắn với chủ động duy trì môi trường hòa bình, ổn định và kiểm soát các nguy cơ tác động đến quá trình phát triển.
Thứ ba, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được tích hợp trong cùng một lĩnh vực, chính sách và nguồn lực. Đây là biểu hiện rõ nét của sự chuyển biến về phương thức giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhiều lĩnh vực vừa trực tiếp tạo động lực phát triển đất nước, vừa góp phần hình thành năng lực bảo vệ Tổ quốc, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những lĩnh vực quan trọng. Trong giai đoạn 2021-2025, “Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia được hình thành, từng bước tích hợp, kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương” (ĐCSVN, 2026a, tr.302-303) như cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm, cán bộ, công chức, viên chức . Cùng với đó, “100% bộ, cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai và duy trì mô hình an toàn thông tin mạng 4 lớp” (ĐCSVN, 2026a, tr.316).
Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, phát triển văn hóa, con người, bảo đảm an sinh xã hội và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội góp phần củng cố niềm tin, đồng thuận xã hội, tạo nền tảng cho “thế trận lòng dân” và tăng cường sức mạnh chính trị - xã hội phục vụ bảo vệ Tổ quốc. Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc được đặt ngay trong quá trình tạo lập các nguồn lực phát triển; đồng thời trở thành yếu tố định hướng và bảo đảm cho quá trình phát triển. Qua đó, xây dựng và bảo vệ gắn kết trong từng lĩnh vực, chính sách và nguồn lực, tạo nên sự thống nhất cao trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược.
Thứ tư, phương thức bảo vệ Tổ quốc chuyển từ tư duy ứng phó khi nguy cơ xuất hiện sang chủ động phòng ngừa, bảo vệ từ sớm, từ xa và từ bên trong. Trong bối cảnh các nguy cơ đối với đất nước ngày càng phức tạp, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc nhấn mạnh đến năng lực phòng ngừa, kiểm soát và hóa giải nguy cơ. Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu: “chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo đúng tình hình, xử lý kịp thời các tình huống về quốc phòng, an ninh, các vấn đề trật tự, an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, mất an ninh, trật tự từ sớm, từ xa” (ĐCSVN, 2026a, tr.114-115).
Tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới đã làm rõ yêu cầu chủ động phòng ngừa và xử lý các nguy cơ từ bên trong, nhấn mạnh việc “chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến” (ĐCSVN, 2026b, tr.73-74). Đồng thời, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc được đặt ở trạng thái chủ động cao hơn: “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy; tuyệt đối không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống” (ĐCSVN, 2026b, tr.74). Từ đây cho thấy, phương thức giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã chuyển sang tạo lập thế chủ động từ trước khi nguy cơ trở thành hiện thực. Bảo vệ Tổ quốc được thực hiện thông qua dự báo, phòng ngừa và hóa giải nguy cơ, góp phần giữ vững ổn định và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước.
Thứ năm, kết hợp sức mạnh quốc gia với sức mạnh thời đại trở thành phương thức quan trọng để đồng thời xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cùng với các nguồn lực bên trong, sức mạnh quốc gia được gia tăng thông qua khả năng kết nối, tranh thủ và phát huy các nguồn lực quốc tế. Vì vậy, đối ngoại và hội nhập quốc tế là phương thức quan trọng để mở rộng thế, gia tăng lực cho phát triển và nâng cao khả năng bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Trải qua các thời kỳ lịch sử, quan hệ đối ngoại của Việt Nam không ngừng được mở rộng và nâng tầm. Việt Nam “đã có quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20)” (ĐCSVN, 2026b, tr.143-144).
Những kết quả này phản ánh khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế, chính trị và công nghệ lớn, từng bước chuyển hóa các mối quan hệ quốc tế thành nguồn lực phục vụ phát triển đất nước. “Chúng ta đã tạo dựng được môi trường quốc tế thuận lợi và huy động được các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội” (Nguyễn Phú Trọng, 2022, tr.185). Từ đó, sức mạnh thời đại trở thành nguồn lực vật chất, công nghệ và tri thức, đồng thời góp phần gia tăng vị thế và không gian chiến lược phục vụ bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Đây là sự phát triển trong phương thức giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khi nội lực quốc gia ngày càng được kết nối, bổ sung và gia tăng bằng các nguồn lực của thời đại.
Những chuyển biến trên cho thấy phương thức giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua thực tiễn thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII đã có sự phát triển rõ nét, từ kết hợp hai nhiệm vụ đến tích hợp yêu cầu xây dựng và bảo vệ trong từng lĩnh vực, chính sách và quá trình phát triển; đồng thời, tăng cường khả năng chuyển hóa nguồn lực của xây dựng thành năng lực bảo vệ và thành quả của bảo vệ thành điều kiện để phát triển.
2.3. Giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Thực hiện Nghị quyết Đại hội của Đảng, mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được đặt trong những điều kiện mới, đòi hỏi phương thức giải quyết toàn diện, tích hợp và chủ động. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện nhận thức, tích hợp yêu cầu bảo vệ trong hoạch định và thực hiện chính sách phát triển, củng cố nội lực và năng lực chống chịu, nâng cao năng lực dự báo chiến lược và phòng ngừa nguy cơ, phát huy sức mạnh toàn dân tộc gắn với sức mạnh thời đại, đồng thời hoàn thiện thể chế và cơ chế tổ chức thực hiện. Qua đó, bảo đảm hai nhiệm vụ chiến lược được thực hiện thống nhất, bổ trợ và chuyển hóa lẫn nhau.
Thứ nhất, tiếp tục thống nhất nhận thức, hoàn thiện tư duy về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Yêu cầu trước hết là làm sâu sắc nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về mối quan hệ này, khắc phục tư duy tách biệt hoặc tuyệt đối hóa một trong hai nhiệm vụ. Đại hội XIII làm rõ mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện sự phát triển trong tư duy về chủ thể, nội dung và phương thức thực hiện hai nhiệm vụ. Bản chất của mối quan hệ là “sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố trong một chỉnh thể thống nhất để tạo sức mạnh tổng hợp cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (ĐCSVN, 2026b, tr.80). Xây dựng đất nước mạnh về mọi mặt tạo nền tảng cho bảo vệ Tổ quốc; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, chế độ, môi trường hòa bình và lợi ích quốc gia - dân tộc tạo điều kiện cho phát triển. Nhận thức đó cần tiếp tục được chuyển hóa thành trách nhiệm trong hoạch định chính sách, quản trị quốc gia và hoạt động của từng ngành, từng cấp, từng tổ chức và mỗi công dân.
Thứ hai, tích hợp yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong hoạch định chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển. Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc cần được tính đến ngay từ khi xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược, quy hoạch và chính sách. Điều này càng quan trọng đối với các lĩnh vực tác động trực tiếp đến lợi ích quốc gia - dân tộc và năng lực tự chủ như: hạ tầng, năng lượng, tài chính, công nghệ, dữ liệu, viễn thông, các ngành công nghiệp chiến lược, kinh tế biển và các địa bàn có vị trí chiến lược. Mỗi chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án cần đồng thời đánh giá đóng góp đối với phát triển và tác động đối với năng lực bảo vệ Tổ quốc. Đây là yêu cầu chuyển từ tư duy “kết hợp” ở cấp độ nhiệm vụ sang tích hợp yêu cầu xây dựng và bảo vệ ngay trong thiết kế và thực thi chính sách.
Thứ ba, gắn phát triển nhanh, bao trùm, bền vững với nâng cao sức mạnh tổng hợp, năng lực tự chủ và năng lực chống chịu của đất nước. Trong môi trường cạnh tranh chiến lược và biến động khó dự báo, phát triển phải gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực khoa học - công nghệ, bảo đảm an ninh năng lượng, lương thực, dữ liệu, mạng và an sinh xã hội. Phát triển bao trùm, bền vững cần cùng với thu hẹp các điểm dễ tổn thương, củng cố nền tảng xã hội và nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động, tác động bất lợi từ bên ngoài. Đối với các lĩnh vực chiến lược, cần giảm sự phụ thuộc, nâng cao năng lực làm chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế và các hệ thống thiết yếu. Qua đó, phát triển nhanh, bao trùm, bền vững đồng thời trở thành quá trình củng cố nội lực, nâng cao sức mạnh tổng hợp và tạo thêm năng lực bảo vệ Tổ quốc.
Thứ tư, nâng cao năng lực dự báo chiến lược, chủ động phòng ngừa và xử lý nguy cơ từ sớm, từ xa, từ bên trong. Các nguy cơ phi truyền thống, thách thức trên không gian mạng, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, an ninh kinh tế, năng lượng, nguồn nước và tác động từ cạnh tranh chiến lược quốc tế đan xen, đòi hỏi nâng cao năng lực nhận diện, phân tích, dự báo và kiểm soát nguy cơ. Năng lực dự báo chiến lược cần được gắn với khả năng phát hiện sớm các xu hướng, điểm nghẽn và yếu tố tác động đến an ninh, ổn định và phát triển đất nước, từ đó chủ động xây dựng phương án ứng phó. Bảo vệ từ sớm, từ xa cần được đặt trong tổng thể quản trị và phát triển đất nước, gắn với chủ động xử lý cả nguy cơ từ bên ngoài và những yếu tố bất lợi từ bên trong. Qua đó, tạo thế chủ động trước biến động, ngăn ngừa nguy cơ phát sinh, tích tụ và chuyển hóa thành những vấn đề phức tạp, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ bên trong và củng cố năng lực chống chịu quốc gia.
Thứ năm, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, kết hợp hiệu quả với sức mạnh thời đại. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đòi hỏi phát huy sức mạnh của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Củng cố thế trận lòng dân cần gắn với phát triển bao trùm, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xây dựng văn hóa, con người, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở kiên định lợi ích quốc gia - dân tộc. Qua đó, nội lực và ngoại lực được kết nối, bổ sung và chuyển hóa thành thế và lực cho phát triển và nâng cao khả năng bảo vệ Tổ quốc.
Thứ sáu, hoàn thiện thể chế, cơ chế phối hợp và tổ chức thực hiện, bảo đảm sự thống nhất giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Yêu cầu đặt ra là tiếp tục thể chế hóa nhận thức về mối quan hệ này thành cơ chế phối hợp, quy trình ra quyết định và phương thức phân bổ nguồn lực phù hợp. Trong hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, cần bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với yêu cầu quốc phòng, an ninh, đối ngoại và lợi ích quốc gia - dân tộc. Đồng thời, nâng cao năng lực đánh giá tác động, quản trị rủi ro và phối hợp giữa các ngành, các cấp, các lực lượng, nhất là trong những lĩnh vực chiến lược. Hoàn thiện thể chế và cơ chế tổ chức thực hiện là điều kiện để sự kết hợp, tích hợp và chuyển hóa giữa xây dựng và bảo vệ được triển khai thực chất, đồng bộ, hiệu quả và bền vững.
3. Kết luận
Thực tiễn cho thấy, phương thức giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa có bước phát triển rõ nét, thể hiện ở sự chuyển từ kết hợp hai nhiệm vụ sang tích hợp trong cùng quá trình phát triển; từ huy động các nguồn lực theo từng lĩnh vực sang kết nối, chuyển hóa và phát huy sức mạnh tổng hợp; từ ứng phó với nguy cơ sang chủ động phòng ngừa, bảo vệ từ sớm, từ xa, từ bên trong. Trong tình hình mới, cần tiếp tục hoàn thiện nhận thức, tích hợp yêu cầu bảo vệ trong hoạch định chính sách, gắn phát triển nhanh, bao trùm, bền vững với nâng cao năng lực tự chủ và năng lực chống chịu, nâng cao năng lực dự báo chiến lược, phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại và hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện. Qua đó, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được triển khai thống nhất, bổ trợ và chuyển hóa lẫn nhau, để mỗi bước phát triển tạo thêm tiềm lực, thế và lực cho bảo vệ Tổ quốc, đồng thời mỗi thành quả bảo vệ trở thành điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước nhanh, bền vững, độc lập, tự chủ.
_________________
Ngày nhận bài: 30/8/2026; Ngày bình duyệt: 17/10/2026; Ngày quyết định đăng: 28/10/2026.
Email tác giả: phamthithuyvan@hpu2.edu.vn
Tài liệu tham khảo
Chính phủ (2025). Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 và 5 năm 2021-2025; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
ĐCSVN (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Nguyễn Phú Trọng (2022). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.