Thực tiễn

Thực trạng phát triển nhân lực khoa học và công nghệ của Thành phố Hà Nội

30/01/2026 10:41

DOI:https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1667
Tóm tắt: Nhân lực khoa học và công nghệ của Thành phố Hà Nội không ngừng phát triển mạnh về quy mô, cơ cấu và chất lượng. Tuy nhiên, trước yêu cầu tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi Thành phố cần có chiến lược xây dựng, mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học công nghệ, góp phần hiện thực hóa những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tạo động lực để Thành phố đạt được các mục tiêu phát triển đã đề ra.

TS BÙI THỊ HỒNG HÀ
Viện Lãnh đạo học và Hành chính công,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Sinh viên khoa Khoa học sự sống (Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội) trong giờ thực hành khoa học và công nghệ y khoa. (Ảnh BÍCH NGỌC)
Sinh viên khoa Khoa học sự sống (Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội) trong giờ thực hành khoa học và công nghệ y khoa_Ảnh: Báo Nhân dân

1. Mở đầu

Cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư và quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới đối với phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. Sự phát triển bùng nổ các công nghệ AI, 5G, Robotics, … không chỉ mang lại cơ hội mà còn đặt ra các thách thức lớn đối với yêu cầu xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của quốc gia. Máy móc và trí tuệ nhân tạo thay thế cho sức người sẽ dẫn đến hệ quả tất yếu là nhu cầu nhân lực chuyên môn bậc cao ngày càng tăng. Vì vậy, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ càng trở nên cấp bách, đặc biệt là khi quá trình hội nhập quốc tế đang đặt ra yêu cầu nhân lực khoa học và công nghệ phải có những kỹ năng mang tính toàn cầu, cập nhật và bắt kịp xu thế phát triển khoa học và công nghệ hiện đại.

Thủ đô Hà Nội với vị thế là trung tâm về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục và giao dịch quốc tế đang trở thành động lực phát triển của khu vực đồng bằng sông Hồng, có nhiều lợi thế trong phát triển khoa học, công nghệ. Những năm qua, Thành phố Hà Nội xác định khoa học, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để phát triển kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ con người, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư(1). Nghị quyết số 15-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định “Xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ hàng đầu của cả nước”. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, phát triển nhân lực khoa học và công nghệ của Thành phố có vai trò nền tảng, quyết định.

2. Nội dung

2.1. Thực trạng phát triển nhân lực khoa học và công nghệ của Thành phố Hà Nội

Trong những năm qua, Thành phố Hà Nội đạt nhiều kết quả tích cực trong phát triển nhân lực khoa học và công nghệ, có nhiều đóng góp trong tăng năng suất lao động, cải thiện xếp hạng của Thành phố về đổi mới sáng tạo(2), phổ biến tri thức, công nghệ trong kỷ nguyên phát triển mới.

Cơ cấu nhân lực khoa học và công nghệ của Thành phố Hà Nội biến đổi rõ nét trong giai đoạn 2017-2023: Nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực khoa học tự nhiên tăng từ 5.455 lên 7.649 người; khoa học y, dược tăng mạnh, từ 2.984 người lên 8.324 người; khoa học nông nghiệp tăng nhẹ từ 3.120 người lên 3.958 người (đạt đỉnh 4.687 năm 2021 rồi giảm); khoa học xã hội tăng từ 12.291 người lên 18.482 người, khoa học nhân văn tăng từ 2.417 người lên 3.555 người; kỹ thuật - công nghệ (gồm công nghệ kỹ thuật và công nghệ thông tin, kỹ thuật) tăng từ 12.683 người lên 15.203 người ​ (Hình 1). Qua đó cho thấy, Hà Nội có xu hướng phát triển các ngành nghiên cứu tự nhiên và y dược hơn so với các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, phù hợp với quá trình hiện đại hóa.

Hình 1: Biến động nhân lực khoa học và công nghệ của Thành phố Hà Nội theo lĩnh vực giai đoạn 2017-2023

458-202601301033461.png
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê nhân lực khoa học và công nghệ Thành phố Hà Nội, giai đoạn 2017-2023.

Năm 2023, tỷ lệ lao động có trình độ từ đại học trở lên của Hà Nội (27,0%) lớn hơn nhiều so với bình quân của cả nước (10,6%). Hà Nội có tỷ lệ lao động trình độ tiến sĩ, thạc sĩ cao nhất trong cả nước (8.456 tiến sĩ, 15.910 thạc sĩ)(4).

Dữ liệu thống kê nhân lực khoa học và công nghệ của Thành phố giai đoạn 2017-2023 phân theo khu vực hoạt động và trình độ chuyên môn cho thấy sự khác biệt rõ rệt về cơ cấu nguồn nhân lực trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ ở Hà Nội​. Trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, tỷ lệ nhân lực trình độ (tiến sĩ và thạc sĩ) chiếm khoảng 90%; khối hành chính và đơn vị sự nghiệp có nguồn nhân lực chủ yếu là trình độ đại học, tỷ lệ nhân lực trình độ cao (tiến sĩ, thạc sĩ) chỉ chiếm khoảng 32%(5).

Hình 2: Biến động nhân lực khoa học và công nghệ Thành phố Hà Nội theo trình độ giai đoạn 2017-2023

458-202601301033462.png
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê nhân lực khoa học và công nghệ Thành phố Hà Nội, giai đoạn 2017-2023.

Theo thống kê đến năm 2023, số tổ chức khoa học và công nghệ của thành phố Hà Nội, có 750 tổ chức khoa học và công nghệ, trong đó phần lớn là hoạt động trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, khoa học nông nghiệp và đồng thời chiếm ½ tổng số tổ chức khoa học và công nghệ của cả nước(6).

Những phân tích trên cho thấy, nhân lực khoa học và công nghệ của Hà Nội đang phát triển phù hợp với xu thế toàn quốc và toàn cầu: chú trọng đầu tư nguồn lực vào các lĩnh vực công nghệ, y tế và xã hội để đáp ứng yêu cầu đổi mới, chuyển đổi số và bảo đảm an sinh xã hội.

Nhân lực khoa học và công nghệ đã góp phần nâng cao năng suất lao động, gia tăng giá trị sản phẩm, tạo ra các sản phẩm có giá trị cao(7). Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân của thành phố Hà Nội giai đoạn 2017- 2023 là 5,8%/năm. Chỉ số đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng tăng từ 33,6% bình quân giai đoạn 2011 - 2015 lên 45,2% giai đoạn 2016 - 2020; giai đoạn 2021-2022 đạt 52,9%, đặc biệt là năm 2022, tỷ lệ đóng góp TFP là 62,78%, trong đó yếu tố lao động có tỷ trọng 15-20% trong tổng số các nhân tố (Bảng 2)(8).

Bảng 1: Tỷ trọng đóng góp của các yếu tố vào tăng trưởng kinh tế Thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2023

458-202601301033464.png
Nguồn: Đề tài của năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) trong GRDP của Thành phố Hà Nội giai đoạn 2011-2022

Thành phố quan tâm xây dựng cơ chế chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết số 14/2013/NQ-HĐND về chính sách trọng dụng nhân tài trong xây dựng và phát triển Thủ đô; Đề án Xây dựng “Mạng lưới Sáng kiến Hà Nội.v.v. coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong Kế hoạch Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo Thành phố Hà Nội năm 2024(9). Đề án giúp tạo cơ hội kết nối giữa chính quyền Thành phố với các tổ chức khoa học và công nghệ, liên kết giữa các nhà quản lý, đội ngũ trí thức, doanh nhân trong và ngoài nước nhằm thu hút, phát huy và sử dụng hiệu quả nguồn lực này phục vụ giải quyết các vấn đề lớn, quan trọng, đặc thù trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội v.v.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của Thành phố Hà Nội còn tồn tại một số hạn chế, đòi hỏi có giải pháp khắc phục, chủ yếu trên các điểm sau:

Một là, quy mô nhân lực khoa học và công nghệ của Hà Nội vẫn còn nhỏ so với tổng số dân và tổng số lao động cũng như so với yêu cầu của phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số... Mức độ phát triển về quy mô chậm, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của khoa học và công nghệ. Số lượng nhân lực khoa học và công nghệ có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ được nâng lên rõ rệt, nhưng vẫn thiếu đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao, như công nghiệp bán dẫn, AI, robotics - các lĩnh vực mũi nhọn trong thời gian tới của Thành phố.

Hai là, cơ cấu nhân lực khoa học và công nghệ của Hà Nội phân bổ không đồng đều giữa các khu vực. Khu vực giáo dục đại học, cao đẳng có quy mô cao nhất, tiếp theo là các tổ chức nghiên cứu và dịch vụ khoa học. Theo lĩnh vực, cơ cấu giữa các ngành còn chưa hợp lý, điển hình như nhân lực trong lĩnh vực khoa học xã hội chiếm tỷ lệ lớn, có xu hướng tăng; lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật - công nghệ nhất là ngành mới như AI, công nghiệp bán dẫn còn thiếu và tăng chậm.

Ba là, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng số của nhân lực khoa học và công nghệ của thành phố Hà Nội nhìn chung, chưa đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thiếu chuyên gia đầu ngành; trình độ công nghệ của các doanh nghiệp còn thấp. Bên cạnh một số lĩnh vực có tốc độ đổi mới công nghệ nhanh, như công nghệ thông tin, viễn thông, hàng không, tài chính ngân hàng, nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới. Số bằng sáng chế tuy tăng so với giai đoạn trước, nhưng nhìn chung vẫn rất khiêm tốn (so với quy mô nền kinh tế và dân số), cho thấy tiềm lực nghiên cứu khoa học - công nghệ cần được khuyến khích nhiều hơn. Số bằng sáng chế được cấp đã tăng gấp 2,9 lần trong thập kỷ qua​ nhưng chủ yếu là bằng của các tổ chức nước ngoài (theo báo cáo IPVN, người nước ngoài chiếm khoảng 90%)(10).

2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Thành phố Hà Nội

Thứ nhất, nhóm giải pháp về đổi mới tư duy, phương thức quản lý nhân lực khoa học và công nghệ

Một là, nâng cao nhận thức khoa học và công nghệ là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Việc đầu tư vào khoa học và công nghệ phải được xem như một khoản đầu tư chiến lược, không thể thiếu trong quá trình phát triển quốc gia và mỗi địa phương. Do đó, chuyển đổi tư duy từ việc coi khoa học và công nghệ là chi phí sang coi đó là đầu tư cho tương lai.

Hai là, đổi mới tư duy về quản lý nhà nước về phát triển nhân lực khoa học và công nghệ

Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ đã được nêu trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01-11-2012 Trung ương 6 Khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Quyết định số 418/QĐ-TTg, ngày 11-4-2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020, song quản lý nhân lực khoa học công nghệ vẫn còn chậm thích ứng với thị trường lao động chất lượng cao và đổi mới sáng tạo. Do đó, vai trò của Nhà nước cần chuyển từ “quản lý” sang “kiến tạo phát triển. Đổi mới tư duy về quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ theo hướng tạo điều kiện áp dụng đồng bộ các giải pháp đổi mới về nhân lực và tài chính (Bảng 3).

Việc đầu tư vào khoa học và công nghệ phải được xem như một khoản đầu tư chiến lược, không thể thiếu trong quá trình phát triển quốc gia và mỗi địa phương.

Thứ hai, nhóm giải pháp về hoàn thiện khung luật pháp, chính sách phát triển nguồn lực khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Thành phố Hà Nội đến năm 2030.

Một là, rà soát, kiến nghị tháo gỡ các khó khăn vướng mắc về cơ chế, chính sách trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nhân lực khoa học và công nghệ. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi cách thức làm việc, học tập, nghiên cứu.v.v. Nhiều quy định, quy chuẩn, chính sách đổi mới sáng tạo không còn phù hợp, gây cản trở sự phát triển khoa học và công nghệ. Vì vậy, cần rà soát, từ đó tháo gỡ các vướng mắc, xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, tháo gỡ các vướng mắc, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển khoa học và công nghệ, phát triển nhân lực khoa học và công nghệ.

Hai là, hoàn thiện công tác quy hoạch, đào tạo và bồi dưỡng phát triển nhân lực khoa học và công nghệ. Công tác xây dựng quy hoạch, chiến lược tác động trực tiếp, tạo nên “nội lực” để nguồn nhân lực khoa học và công nghệ phát triển. Thực hiện tốt công tác quy hoạch không chỉ bảo đảm cho nguồn nhân lực khoa học và công nghệ có sự phát triển toàn diện về số lượng, chất lượng, cơ cấu mà còn tạo hành lang pháp lý vững chắc để nguồn nhân lực khoa học và công nghệ yên tâm công tác, cống hiến.

Ban hành cơ chế, quy chế sử dụng nhân lực khoa học và công nghệ ở các sở, ban, ngành của Thành phố; công tác quy hoạch đội ngũ viên chức khoa học và công nghệ cần gắn liền với đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, chuyên môn hóa ở các lĩnh vực của Hà Nội. Ưu tiên đào tạo các chuyên gia, viên chức khoa học và công nghệ có trình độ cao. Thường xuyên sơ kết, tổng kết việc kiểm tra, giám sát việc phát triển nhân lực khoa học và công nghệ của các sở, ban, ngành của Hà Nội, nhằm kịp thời có biện pháp để điều chỉnh, bổ sung, bảo đảm đạt được mục tiêu các chương trình, kế hoạch phát triển nhân lực khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.

Ba là, có chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với những cán bộ khoa học và công nghệ có cống hiến, đóng góp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thành phố Hà Nội cần có chính sách xây dựng đội ngũ nhà khoa học đầu ngành, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ ưu tiên. Tạo điều kiện để các nhà khoa học phát huy vai trò trong việc tạo ra những bước đột phá trong phát triển khoa học và công nghệ và kinh tế - xã hội, là đầu tàu phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ.

Tăng cường thu hút nhân lực khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo, các chuyên gia từ bên ngoài. Cùng với thu hút, trọng dụng nhân tài trong nước, cần xây dựng cơ chế, chính sách thu hút nhân lực khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo, các chuyên gia quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, cơ sở vật chất để thu hút các nhà khoa học trên thế giới, các tổ chức nghiên cứu khoa học đến liên kết, hợp tác trong nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân tài, chuyển giao công nghệ như chính sách hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế, chính sách visa, hỗ trợ nhà ở, hạ tầng sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe, .v.v.

Bốn là, cần cải cách mạnh mẽ cơ chế tài chính, giải phóng các nhà khoa học khỏi gánh nặng hành chính để tập trung vào sáng tạo tri thức, góp phần đưa R&D Việt Nam thoát khỏi tình trạng trì trệ và vươn lên mạnh mẽ. Cơ chế tài chính hiện nay trong quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ lạc hậu, phức tạp và thiếu linh hoạt. Để tháo gỡ nút thắt này, cần thiết kế lại cơ chế tài chính cho R&D theo hướng trao quyền chủ động tài chính thực chất cho các chủ thể. Đơn giản hóa và chuẩn hóa các thủ tục giải ngân, hướng đến mô hình “hậu kiểm” như nhiều quốc gia tiên tiến đang áp dụng, thay cho hình thức “tiền kiểm” mang tính ràng buộc cứng nhắc như hiện nay.

Thứ ba, nhóm giải pháp về huy động nguồn lực cho phát triển nhân lực khoa học và công nghệ

Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ đòi hỏi đầu tư dài hạn, liên tục, chuyên sâu, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ cao, R&D, đào tạo quốc tế. Trong khi đó, nguồn lực tài chính công còn hạn chế, không đủ để bao phủ yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân lực khoa học và công nghệ. Tăng trưởng bền vững và đổi mới sáng tạo phải dựa trên sự tham gia của toàn xã hội, không thể chỉ phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Do đó, Hà Nội cần đa dạng hóa các nguồn lực (Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức quốc tế…), đồng thời xây dựng cơ chế huy động nguồn lực tổng thể, bền vững và minh bạch. Bên cạnh việc tăng cường hiệu quả sử dụng và bố trí ngân sách nhà nước, Thành phố cần xây dựng cơ chế huy động nguồn lực từ doanh nghiệp; thúc đẩy hợp tác quốc tế về tài chính và công nghệ đào tạo, xã hội hóa đào tạo và nghiên cứu khoa học và công nghệ. Cùng với đó, Thành phố Hà Nội cần ban hành chiến lược huy động nguồn lực phát triển nhân lực khoa học và công nghệ đến năm 2030, trong đó quy định rõ vai trò, trách nhiệm, công cụ tài chính, cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan.

Thứ , nhóm giải pháp về đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2030.

Đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo - nghiên cứu. Để đạt mục tiêu tăng trưởng đến năm 2030 có GRDP trên 2 con số, Hà Nội cần đào tạo nhanh, chất lượng, gắn kết hơn giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường. Chuyển từ tư duy “cung cấp nhân lực” sang “thiết kế hệ sinh thái phát triển nhân lực khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo”. Theo đó, công tác quy hoạch và dự báo nhu cầu nhân lực khoa học và công nghệ của Thành phố cần có chiến lược, kế hoạch tổng thể trên cơ sở cập nhật, thống kê nhu cầu nhân lực khoa học và công nghệ theo lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của Hà Nội (về các lĩnh vực: AI, công nghệ số, tài chính - ngân hàng, y tế, giáo dục, môi trường…); gắn quy hoạch đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ với quy hoạch không gian phát triển kinh tế - xã hội, vùng đổi mới sáng tạo, các cụm ngành công nghệ cao; tăng cường đầu tư nguồn lực vật chất cho cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu, đồng thời chú trọng đổi mới chương trình, phương pháp nghiên cứu, đào tạo theo hướng liên ngành - tích hợp - cập nhật công nghệ mới (AI, IoT, Big Data, công nghệ môi trường, vật liệu mới…), ứng dụng mô hình dual - training (kết hợp doanh nghiệp - trường học), tăng cường năng lực tiếng Anh, năng lực số và đổi mới sáng tạo của các chủ thể trong các chương trình giảng dạy và học tập.

Thứ năm, giải pháp về đầu tư hạ tầng, kỹ thuật và môi trường phát triển nhân lực khoa học và công nghệ

Cần tạo lập môi trường, điều kiện làm việc tốt để giữ chân nhân tài với chú trọng trang bị cơ sở vật chất, phòng nghiên cứu, thực hành, thư viện hiện đại… góp phần quan trọng để đào tạo nguồn nhân lực trẻ, trí tuệ cao đáp ứng nhu cầu cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Thành phố cần tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng (đường truyền internet, 5G, 6G, cơ sở dữ liệu) và phát triển các công nghệ mới (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn,...). Đẩy mạnh việc chuyển đổi số trong hoạt động các cơ quan, chất lượng dịch vụ công.

Xây dựng trung tâm cơ sở dữ liệu về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thủ đô (trong đó có cơ sở dữ liệu về nhân lực khoa học và công nghệ, nhân lực R&D, nhà khoa học, cơ sở vật chất, tài chính, tổ chức khoa học công nghệ …) nhằm phục vụ cho công tác quản lý, hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và phục vụ cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước khai thác dữ liệu, thông tin phục vụ cho công tác xây dựng chiến lược đầu tư, kinh doanh, điều hành, quản lý…

3. Kết luận

Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ là yếu tố nền tảng phát triển khoa học và công nghệ, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Vì vậy, để bảo đảm sự phát triển nhân lực khoa học và công nghệ cả về số lượng, cơ cấu và chất lượng, tạo nền tảng vững chắc để Hà Nội đạt mục tiêu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ hàng đầu của cả nước và trong khu vực, Thành phố cần thực hiện các giải pháp có tính đồng bộ, toàn diện, đột phá từ tạo nguồn, quy hoạch, bồi dưỡng, sử dụng nhân lực… và quan trọng hơn nữa là quyết liệt trong hiện thực hóa các mục tiêu đề ra.

_________________

Ngày nhận bài: 30-6-2025; Ngày bình duyệt: 11-1-2026; Ngày duyệt đăng: 22-01-2026.

Email tác giả: honghabt@gmail.com

(1), (9) Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội: Kế hoạch 60/KH-UBND về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Thành phố, ngày 15-2-2024.

(2) Lệ Nguyễn: “Việt Nam phát triển 5 đại học trọng điểm về kỹ thuật, công nghệ”, truy cập tại https://vnexpress.net, ngày 10-8-2025.

(3), (4) , (5), (10) Cục Thống kê Thành phố Hà Nội: Niên giám thống kê Hà Nội năm 2023.

(6) Bộ Khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ, Đổi mới sáng tạo, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2023.

(7) Điển hình như Công ty Bóng đèn phích nước Rạng Đông (Hà Nội) đã chế tạo thành công hệ thống chiếu sáng chuyên dụng tiết kiệm năng lượng, phù hợp với chu kỳ phát triển sinh học của một số loại cây hoa và cây ăn quả nhằm điều khiển thời gian ra hoa, kết trái.

(8) Sở Khoa học và công nghệ thành phố Hà Nội: Đề tài nghiên cứu khoa học: Năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) trong GRDP của thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2023.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Thực trạng phát triển nhân lực khoa học và công nghệ của Thành phố Hà Nội
    POWERED BY