Thực tiễn

Thực trạng và giải pháp phát triển các ngân hàng thương mại nhà nước theo Nghị quyết 79-NQ/TW

05/08/2026 16:08

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1518
Tóm tắt: Ngày 06/01/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Nghị quyết nêu rõ, đối với các tổ chức tín dụng nhà nước, phấn đấu có ít nhất 03 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản; phát triển 04 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, giữ vai trò chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần, khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống ngân hàng. Bài viết phân tích khái quát quy mô và vị thế của các ngân hàng thương mại nhà nước, đưa ra một số nhận xét và khuyến nghị nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của Nghị quyết đã đề ra.

PGS, TS NGUYỄN ĐẮC HƯNG
Trường Đại học Công nghệ Đông Á

bidv.png
Khách hàng thực hiện giao dịch tại một chi nhánh ngân hàng thương mại nhà nước_ Ảnh: IT

Abstract: Recently, on January 6, 2026, the Politburo issued Resolution 79-NQ/TW on the development of the state-owned economy. The Resolution clearly states that, for state-owned credit institutions, the goal is to have at least 3 state-owned commercial banks among the top 100 largest banks in Asia in terms of total assets; and to develop 4 leading state-owned commercial banks that are pioneers in technology and management capacity, and are dominant in terms of scale, market share, and market regulation capabilities within the entire banking system. This article focuses on a general analysis of the scale and position of state-owned commercial banks by the end of 2025, offering some observations and recommendations to contribute to the successful achievement of the Resolution's objectives.

Keywords: discussing the role, state-owned commercial banks, Resolution 79, new situation

1. Mở đầu

Các ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) với 100% vốn của nhà nước, ba ngân hàng thương mại nhà nước đã cổ phần hóa trong đó Nhà nước chiếm cổ phần chi phối là Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Trong nhiều năm qua, khối ngân hàng thương mại này đóng vai trò quan trọng trong huy động vốn, cho vay, tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ ngân hàng tiện ích, hiện đại đối với nền kinh tế. Việc đánh giá thực trạng hoạt động của kinh tế nhà nước, trong đó có bốn ngân hàng thương mại nhà nước và đề xuất khuyến nghị liên quan có ý nghĩa thiết thực, góp phần thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp mô tả định lượng, dựa trên dữ liệu thứ cấp trong Nghị quyết 79-NQ/TW; báo cáo tổng kết năm 2025 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; báo cáo tổng kết năm 2025 của các ngân hàng thương mại nhà nước, như: Agribank, Vietcombank, VietinBank và BIDV. Bộ chỉ tiêu đánh giá gồm: tổng tài sản, huy động vốn, dư tín dụng, lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ an toàn vốn (CAR), thu nhập dịch vụ, mức độ số hóa và năng lực cung ứng dịch vụ công. Phương pháp xử lý gồm phân tích nội dung, thống kê mô tả, so sánh và đối chiếu chuẩn giữa kết quả thực tế với các mục tiêu, tiêu chí của Nghị quyết 79-NQ/TW, quy định của Ngân hàng Nhà nước và thông lệ quốc tế để rút ra nhận định và khuyến nghị chính sách.

2. Nội dung

2.1. Khái quát thực trạng hoạt động kinh doanh chủ yếu của các ngân hàng thương mại nhà nước

Trong những năm qua, mặc dù bối cảnh kinh tế vĩ mô trên thế giới cũng như ở trong nước biến động bất thường, các ngân hàng thương mại nhà nước bị cạnh tranh mạnh mẽ của các ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài và các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân quy mô lớn, nhưng các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn vươn lên mạnh mẽ, khẳng định vị thế trên thị trường tài chính và đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, nghị quyết hằng năm của Quốc hội và Chính phủ.

Với Vietcombank, đây là ngân hàng thương mại luôn được thị trường tài chính nói chung, các nhà đầu tư trong và ngoài nước liên tục đánh giá đứng đầu toàn ngành ngân hàng, với giá cổ phiếu thường xuyên cao nhất trên thị trường chứng khoán HOSE (Vietcombank, 2025).

Đến hết năm 2025, tổng tài sản của Vietcombank đạt 2,48 triệu tỷ đồng, tăng gần 20% so với cuối năm 2024; dư nợ cấp tín dụng đối với nền kinh tế đạt khoảng 1,66 triệu tỷ đồng, tăng hơn 15%. Về góc độ huy động, nguồn vốn thị trường I (thu hút tiền gửi của người dân và doanh nghiệp) của Vietcombank đến hết năm 2025 đạt 1,68 triệu tỷ đồng, tăng hơn 10% so với cuối năm 2024, bảo đảm cân đối nguồn và sử dụng vốn an toàn. Trên nền tảng đó, lợi nhuận trước thuế của Vietcombank đạt kế hoạch đề ra; lợi nhuận riêng lẻ đạt 42.734 tỷ đồng. Các chỉ số sinh lời ROA và ROE của Vietcombank cũng đạt mức cao. Vietcombank tiếp tục dẫn đầu các ngân hàng thương mại Việt Nam về kinh doanh đối ngoại, đặc biệt mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu, thẻ tín dụng quốc tế, ngân hàng đại lý.

Trường hợp VietinBank, đến hết năm 2025, tổng tài sản tăng hơn 18%; dư nợ tín dụng tăng 16%; nguồn vốn huy động tăng trưởng 12% so với cuối năm 2024. Lợi nhuận trước thuế riêng lẻ của Vietinbank tăng 37% so với năm 2024, ước đạt trên 41.000 tỷ đồng, đây là mức kỷ lục của ngân hàng. Trong năm 2025, tổng tài sản của VietinBank tăng 18%, vượt mức 100 tỷ USD, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức dưới 1%. Vietinbank dẫn đầu ngành ngân hàng trong thực hiện dịch vụ chi trả lương cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; đứng đầu trong thực hiện các dịch vụ công, đặc biệt là dịch vụ thu thuế và các dịch vụ thu khác cho bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ và các dịch vụ công khác. Vietinbank cũng đứng đầu trong tài trợ vốn cho các dự án của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (VietinBank, 2025).

Với BIDV, tính đến hết năm 2025, tổng tài sản đạt trên 3,25 triệu tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2024; huy động vốn đạt trên 2,4 triệu tỷ đồng, tăng gần 14%; dư nợ tín dụng đạt trên 2,3 triệu tỷ đồng, tăng hơn 15% so với đầu năm. BIDV có quy mô tài sản lớn nhất toàn ngành ngân hàng và dẫn đầu về mạng lưới đang hoạt động ở các đô thị (BIDV, 2025).

Với Agribank, tính đến hết năm 2025, tổng tài sản đạt trên 2,6 triệu tỷ đồng, tăng 20,3% so với cuối năm 2024; nguồn vốn huy động đạt 2,38 triệu tỷ đồng, tăng 17,6% mức tăng trưởng cao; dư nợ tín dụng ghi nhận bước tăng trưởng đột phá, tiến sát mốc 2 triệu tỷ đồng, tăng 14,7%. Agribank có số lượng khách hàng đông nhất và mạng lưới rộng nhất ngành ngân hàng, phủ kín các vùng nông thôn, được đông đảo hộ gia đình ở nông thôn tin tưởng gửi tiền, vay vốn, mở tài khoản và thực hiện các dịch vụ thanh toán số (Agribank, 2025).

Nhìn tổng thể, bốn ngân hàng thương mại nhà nước hình thành nên một cấu trúc “trụ cột kép”: vừa bảo đảm quy mô đủ lớn để chi phối thị trường, vừa tạo khả năng phân bổ nguồn lực theo định hướng của Nhà nước. Xét theo tiêu chí của Nghị quyết 79-NQ/TW, các ngân hàng thương mại nhà nước nói trên đều có nền tảng quy mô tài sản và mạng lưới đủ điều kiện hướng tới mục tiêu “top 100 châu Á”, nhưng mức độ vượt trội thể hiện khác nhau giữa các ngân hàng. Vietcombank thiên về hiệu quả và chất lượng tăng trưởng; BIDV và VietinBank nổi bật về quy mô và độ phủ khách hàng; Agribank giữ vai trò đặc thù trong khu vực nông nghiệp - nông thôn. Sự phân hóa này cho thấy yêu cầu trọng tâm trong giai đoạn tới không chỉ là “tăng lớn”, mà là chuẩn hóa năng lực cạnh tranh theo cùng bộ tiêu chí khu vực để thực hiện đầy đủ mục tiêu của Nghị quyết 79.

2.2. Một số đánh giá

2.2.1. Ưu điểm

Một là, khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng gắn với ổn định vĩ mô và thực hiện các chính sách an sinh xã hội

Thực hiện Nghị quyết 79-NQ/TW trong lĩnh vực ngân hàng không chỉ nhằm nâng quy mô và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại nhà nước, đây còn là yêu cầu chính trị tư tưởng quan trọng để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế nhà nước. Việc Nhà nước nắm giữ các định chế tài chính chủ lực giúp tăng khả năng điều tiết thị trường tiền tệ. Đồng thời, nhóm ngân hàng này góp phần ổn định kỳ vọng lạm phát, tỷ giá và an toàn hệ thống. Qua đó, nền kinh tế có nền tảng vững chắc để tăng trưởng bền vững, đồng thời thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

Hai là, tiên phong và chủ lực trong thực hiện chính sách tiền tệ

Bốn ngân hàng thương mại nhà nước gồm Agribank, Vietcombank, VietinBank và BIDV giữ vai trò trụ cột trong truyền dẫn chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Tổng dư nợ của nhóm ngân hàng thương mại này chiếm khoảng 45% toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam, tạo sức lan tỏa lớn tới nền kinh tế. Nhóm ngân hàng được đề cập là lực lượng chủ lực triển khai tín dụng ưu đãi, cơ cấu lại nợ khi các doanh nghiệp và hộ gia đình vay vốn gặp thiên tai, dịch bệnh và hỗ trợ lãi suất theo chỉ đạo của Chính phủ. Agribank có vai trò đặc biệt trong tín dụng phục vụ tam nông và phát triển tài chính toàn diện. Ba ngân hàng thương mại còn lại là trụ cột tài trợ vốn cho doanh nghiệp lớn và đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng, tài trợ vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Điều này phù hợp yêu cầu “chủ lực, chủ đạo” của Nghị quyết 79-NQ/TW.

Ba là, dẫn dắt các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân về lãi suất, tín dụng và lựa chọn khách hàng

Bốn ngân hàng thương mại nhà nước có vai trò dẫn dắt mặt bằng lãi suất trên thị trường tiền tệ. Lãi suất huy động và cho vay của nhóm ngân hàng này thường được các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân tham chiếu trong điều kiện thị trường biến động. Trong phân bổ tín dụng, Agribank tập trung vào hộ gia đình, hợp tác xã và khu vực nông nghiệp, nông thôn và hộ nông dân. Các ngân hàng Vietcombank, VietinBank và BIDV định hướng đầu tư vốn vào doanh nghiệp đầu ngành và dự án trọng điểm quốc gia. Cách lựa chọn khách hàng theo hướng an toàn giúp hạn chế rủi ro tín dụng toàn hệ thống. Qua đó, cạnh tranh thị trường diễn ra lành mạnh và ít gây bất ổn vĩ mô.

Bốn là, đầu tư và ứng dụng công nghệ số với vai trò dẫn đầu toàn ngành ngân hàng

Bốn ngân hàng thương mại nhà nước là lực lượng quan trọng trong chuyển đổi số ngành ngân hàng. Vietcombank, VietinBank và BIDV đi đầu trong ứng dụng công nghệ ngân hàng số, thanh toán điện tử, QR code và eKYC. Các ngân hàng thương mại này cũng tích hợp mạnh với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và nền tảng dịch vụ công. Agribank mở rộng dịch vụ ngân hàng số nhằm phục vụ khu vực nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Quy mô đầu tư công nghệ lớn giúp nâng hiệu quả quản trị và kiểm soát rủi ro. Đồng thời, nhóm ngân hàng thương mại này cũng tạo chuẩn mực công nghệ để các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân phát triển theo.

Năm là, tiên phong, chủ lực và chi phối trong cung ứng dịch vụ công

Bốn ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò chủ lực trong cung ứng dịch vụ ngân hàng cho khu vực công. Agribank và BIDV có mạng lưới rộng, bảo đảm dịch vụ tài chính tại vùng nông thôn và địa bàn khó khăn. Vietcombank và VietinBank nổi bật trong thực hiện dịch vụ thu - chi ngân sách và thanh toán thuế, hải quan. Nhóm ngân hàng thương mại này cũng tiên phong và chiếm thị phần lớn nhất trong triển khai thực hiện chi trả lương hưu, trợ cấp xã hội và các chương trình an sinh. Vai trò đó thể hiện rõ chức năng “ngân hàng của nền kinh tế”. Đây cũng là yêu cầu cốt lõi của Nghị quyết 79-NQ/TW về nắm giữ lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân

Một là, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài còn thấp, hạn chế đổi mới và hội nhập quốc tế

Đối với ba ngân hàng thương mại nhà nước đã cổ phần hóa: Vietcombank, VietinBank, BIDV với trần sở hữu nước ngoài tối đa 30% và tỷ lệ Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối làm hạn chế khả năng thu hút nhà đầu tư chiến lược quốc tế có năng lực về quản trị, công nghệ và quản lý rủi ro hiện đại. Riêng Agribank, do 100% vốn nhà nước, hoàn toàn không tiếp nhận vốn từ nhà đầu tư nước ngoài. Điều này khiến nhóm bốn ngân hàng thương mại nhà nước gặp bất lợi so với các ngân hàng trong khu vực ASEAN về tốc độ đổi mới mô hình kinh doanh, áp dụng chuẩn mực quốc tế và mở rộng mạng lưới toàn cầu.

Hai là, bất cập trong tăng vốn chủ sở hữu do cơ chế chia cổ tức và cấp vốn ngân sách

Cả bốn ngân hàng thương mại nhà nước đều chịu hạn chế lớn trong tăng vốn chủ sở hữu. Với Vietcombank, VietinBank và BIDV, yêu cầu nộp cổ tức tiền mặt về ngân sách làm giảm khả năng giữ lại lợi nhuận để tăng vốn điều lệ. Trong khi đó, Agribank phụ thuộc chủ yếu vào việc Nhà nước cấp bổ sung vốn, thường chậm và không theo kịp tốc độ tăng trưởng tài sản. Hệ quả là năng lực vốn của các ngân hàng tăng chậm, gây áp lực đáp ứng chuẩn Basel II/III, hạn chế dư địa mở rộng tín dụng trung - dài hạn và đầu tư công nghệ quy mô lớn.

Ba là, các chỉ tiêu an toàn tài chính và hiệu quả thấp hơn nhiều ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân

So với các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân quy mô lớn, nhóm bốn ngân hàng thương mại nhà nước nhìn chung có hệ số an toàn vốn, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và hiệu quả sử dụng vốn thấp hơn. Nguyên nhân là quy mô tài sản lớn nhưng vốn chủ sở hữu tăng chậm, cùng với tỷ trọng cao các khoản tín dụng chính sách, nông nghiệp - nông thôn và lĩnh vực ưu tiên. Đặc biệt, Agribank với mạng lưới rộng ở khu vực nông thôn phải chấp nhận biên lợi nhuận thấp và rủi ro cao hơn, làm giảm hiệu quả tài chính chung so với các ngân hàng tập trung bán lẻ đô thị.

Bốn là, bộ máy tổ chức cồng kềnh, năng suất lao động và lợi nhuận bình quân trên cán bộ thấp

Tất cả bốn ngân hàng thương mại nhà nước đều có mạng lưới chi nhánh lớn, số lượng cán bộ đông, dẫn tới chi phí hoạt động cao và năng suất lao động thấp hơn nhóm ngân hàng tư nhân tinh gọn. Agribank là ngân hàng thương mại có quy mô nhân sự lớn nhất hệ thống, trong khi VietinBank, BIDV và Vietcombank cũng duy trì bộ máy nhiều tầng nấc quản lý. Cơ chế tiền lương, đánh giá hiệu quả công việc chưa thực sự dựa trên KPI như các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân và ngân hàng 100% vốn nước ngoài, làm giảm động lực đổi mới, sáng tạo và khả năng thu hút nhân sự chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ, dữ liệu và AI.

Năm là, biên lãi ròng thấp (NIM) thấp và lãi suất cho vay mang tính dẫn dắt thị trường

Nhóm bốn ngân hàng thương mại nhà nước thường xuyên đóng vai trò dẫn dắt mặt bằng lãi suất theo định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt trong các giai đoạn hỗ trợ phục hồi kinh tế. Do đó, lãi suất cho vay thấp hơn thị trường kéo theo mức độ chênh lệch giữa lãi suất huy động vốn bình quân và lãi suất cho vay bình quân (NIM) thấp hơn so với nhiều ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân. Agribank chịu ảnh hưởng rõ nhất do tập trung cho vay nông nghiệp, nông thôn, trong khi Vietcombank, VietinBank và BIDV phải cân đối giữa mục tiêu kinh doanh và nhiệm vụ ổn định vĩ mô, phục vụ các nhiệm vụ chính trị với vai trò kinh tế nhà nước làm hạn chế khả năng tối ưu hóa lợi nhuận.

Sáu là, chậm đổi mới mô hình kinh doanh và đầu tư AI so với khu vực tư nhân

Mặc dù đều triển khai chuyển đổi số, song mức độ ứng dụng AI tại ba ngân hàng thương mại nhà nước, trừ Vietcombank còn thiên về hỗ trợ vận hành, chưa tạo đột phá trong chấm điểm tín dụng, cá nhân hóa sản phẩm và quản trị rủi ro thời gian thực. Nguyên nhân do hệ thống công nghệ thông tin kế thừa phức tạp, quy trình phê duyệt đầu tư dài và tâm lý thận trọng trong thử nghiệm công nghệ mới. So với các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân linh hoạt, khả năng “thử nhanh - mở rộng nhanh” của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước còn hạn chế.

Bảy là, các hạn chế khác gắn với vai trò “kép” vừa kinh doanh, vừa thực hiện nhiệm vụ chính sách

Cả bốn ngân hàng thương mại nhà nước đều phải thực hiện vai trò kép: ngân hàng thương mại và công cụ thực thi chính sách kinh tế - xã hội. Việc ưu tiên tín dụng chính sách, hỗ trợ khu vực yếu thế và ổn định thị trường đôi khi làm giảm tính linh hoạt trong chiến lược kinh doanh. Sự can thiệp hành chính nhất định, cùng yêu cầu bảo toàn vốn nhà nước, khiến mức độ chấp nhận rủi ro thấp hơn ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân, từ đó ảnh hưởng đến tốc độ đổi mới và hiệu quả cạnh tranh dài hạn.

2.3. Khuyến nghị

Một là, điều chỉnh chính sách sở hữu để nâng cao năng lực hội nhập và đổi mới quản trị

Thực hiện Nghị quyết 79-NQ/TW không đồng nghĩa với việc duy trì mô hình sở hữu cứng nhắc. Đối với ba ngân hàng thương mại nhà nước đã cổ phần hóa, Chính phủ cần xem xét nới có điều kiện trần sở hữu nước ngoài, có thể lên 35% hoặc 40%, đặc biệt ưu tiên nhà đầu tư chiến lược dài hạn, có cam kết chuyển giao công nghệ, quản trị rủi ro và mạng lưới quốc tế. Đối với Agribank, cần sớm có lộ trình đa dạng hóa nguồn vốn, từng bước phân tách nhiệm vụ chính sách và thương mại. Đây là điều kiện quan trọng để kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo nhưng vận hành theo cơ chế thị trường.

Hai là, cải cách cơ chế tăng vốn chủ sở hữu gắn với bảo toàn và phát triển vốn nhà nước

Nghị quyết 79-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, do đó cơ chế chia cổ tức tiền mặt cần được điều chỉnh linh hoạt. Cho phép các ngân hàng thương mại nhà nước giữ lại lợi nhuận hợp lý để tăng vốn điều lệ, nhất là trong giai đoạn triển khai Basel III và chuyển đổi số sâu. Với Agribank, Quốc hội và Chính phủ cần có cơ chế cấp vốn kịp thời hoặc cho phép phát hành công cụ vốn phù hợp. Việc tăng vốn không chỉ nhằm mở rộng tín dụng mà còn nâng cao khả năng chống chịu rủi ro hệ thống. Tiến tới sớm cổ phần hóa Agribank.

Ba là, nâng cao các chỉ tiêu an toàn và hiệu quả theo chuẩn mực quốc tế

Để khắc phục hạn chế về tỷ lệ an toàn vốn, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và hiệu quả sử dụng vốn, cần chuyển trọng tâm từ “quy mô” sang “chất lượng tăng trưởng”. Nghị quyết 79-NQ/TW đặt mục tiêu doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả, do đó các ngân hàng thương mại nhà nước cần áp dụng đầy đủ Basel II nâng cao và từng bước Basel III, cải thiện quản trị tài sản - nợ (ALM), kiểm soát rủi ro tập trung ngành và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo khuôn khổ, thay vì can thiệp vi mô vào chỉ tiêu kinh doanh.

Bốn là, tinh gọn bộ máy, nâng cao năng suất lao động gắn với cải cách quản trị nhân sự

Một trong những yêu cầu then chốt của Nghị quyết 79-NQ/TW là đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước. Các ngân hàng thương mại nhà nước cần đẩy mạnh tinh giản bộ máy trung gian, tái cấu trúc mạng lưới chi nhánh theo hướng số hóa và đa kênh. Đồng thời, cải cách cơ chế tiền lương, đánh giá hiệu quả theo vị trí việc làm và kết quả đầu ra sẽ giúp nâng cao năng suất lao động, lợi nhuận trên mỗi cán bộ và khả năng thu hút nhân lực chất lượng cao.

Năm là, tái cấu trúc mô hình lợi nhuận để cải thiện biên lãi ròng nhưng vẫn giữ vai trò dẫn dắt

Việc duy trì NIM thấp phản ánh vai trò ổn định vĩ mô của các ngân hàng thương mại nhà nước, song về dài hạn cần đa dạng hóa nguồn thu ngoài lãi, phát triển dịch vụ ngân hàng số, ngân hàng đầu tư, bảo hiểm - ngân hàng. Điều này cho phép cải thiện hiệu quả tài chính mà không làm mất vai trò dẫn dắt lãi suất. Đây là cách thức hài hòa giữa mục tiêu kinh doanh và nhiệm vụ chính sách theo tinh thần Nghị quyết 79-NQ/TW.

Sáu là, đẩy nhanh đầu tư AI và chuyển đổi số như một trụ cột chiến lược

Để khắc phục tình trạng chậm ứng dụng AI, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần cho phép các ngân hàng thương mại nhà nước chủ động hơn trong quyết định đầu tư công nghệ, chấp nhận thử nghiệm có kiểm soát (sandbox). AI cần được triển khai sâu trong chấm điểm tín dụng, quản trị rủi ro, phòng chống gian lận và cá nhân hóa dịch vụ. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả mà còn củng cố vai trò dẫn dắt công nghệ của khu vực ngân hàng nhà nước.

Bảy là, làm rõ và phân tách vai trò kinh doanh và nhiệm vụ chính sách

Nghị quyết 79-NQ/TW yêu cầu doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo nguyên tắc thị trường, đồng thời thực hiện nhiệm vụ chính trị khi cần thiết. Do đó, cần minh bạch hóa chi phí của các nhiệm vụ chính sách, có cơ chế bù đắp phù hợp từ ngân sách, tránh “ẩn” trong hoạt động kinh doanh. Việc tách bạch này giúp nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và trách nhiệm giải trình của các ngân hàng thương mại nhà nước.

Tám là, hoàn thiện khuôn khổ giám sát và đánh giá hiệu quả theo chuẩn hiện đại

Bổ sung hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả ngân hàng thương mại nhà nước không chỉ dựa vào quy mô hay lợi nhuận tuyệt đối, mà cả hiệu quả vốn, đổi mới sáng tạo và đóng góp phát triển bền vững. Đây là giải pháp mang tính nền tảng để bảo đảm các ngân hàng thực hiện đúng vai trò “lực lượng vật chất nòng cốt” của kinh tế nhà nước như Nghị quyết 79-NQ/TW đã xác định.

3. Kết luận

Thực hiện Nghị quyết 79-NQ/TW đối với bốn ngân hàng thương mại nhà nước không chỉ dừng ở việc khẳng định vai trò chủ đạo, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của khu vực ngân hàng thương mại nhà nước trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Các hạn chế và nguyên nhân được nhận diện phản ánh những “điểm nghẽn thể chế” hơn là yếu kém nội tại. Do đó, các giải pháp cần hướng tới cải cách cơ chế sở hữu, tăng vốn, quản trị, nhân sự và công nghệ, đồng thời tách bạch rõ nhiệm vụ chính sách và kinh doanh. Nếu được triển khai đồng bộ, bốn ngân hàng thương mại nhà nước sẽ vừa giữ vững vai trò trụ cột ổn định kinh tế vĩ mô, vừa trở thành các định chế tài chính hiện đại, hội nhập sâu và đóng góp hiệu quả cho phát triển bền vững theo đúng tinh thần Nghị quyết 79-NQ/TW.

_________________

Ngày nhận bài: 22/01/2026; Ngày bình duyệt 11/3/2026; Ngày quyết định đăng: 2/7/2026.

Email tác giả: ndhungsbv@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Vietcombank (2025): Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2025.

VietinBank (2025): Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2025.

BIDV (2025): Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2025.

Agribank (2025): Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2025.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Thực trạng và giải pháp phát triển các ngân hàng thương mại nhà nước theo Nghị quyết 79-NQ/TW
    POWERED BY