Thực tiễn

Thực trạng và giải pháp phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

26/07/2026 18:11

Tóm tắt: Bài viết phân tích sự chuyển biến trong tư duy và chủ trương của Đảng về khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) qua các kỳ Đại hội, đặc biệt nhấn mạnh định hướng mang tính bước ngoặt từ Nghị quyết số 10- NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Thông qua việc đánh giá thực trạng dòng vốn này tại Việt Nam, bài viết đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế, đổi mới chính sách ưu đãi, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng nội địa và nâng cấp hạ tầng chiến lược nhằm chuyển hướng từ “thu hút vốn” sang “phát triển nền tảng đầu tư quốc gia”.

ThS LÊ BẢO NGỌC
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

tccs.1cdn.vn-2026-07-07-_fdi-9.jpg
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một động lực tăng trưởng cốt lõi, góp phần thay đổi diện mạo hạ tầng, thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu và tạo ra hàng triệu việc làm tại Việt Nam_Ảnh: thoibaotaichinh.vn

1. Mở đầu

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một động lực tăng trưởng cốt lõi, góp phần thay đổi diện mạo hạ tầng, thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu và tạo ra hàng triệu việc làm tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp cùng sự đứt gãy của chuỗi cung ứng toàn cầu sau đại dịch Covid-19, thực tiễn thu hút FDI đang bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Sự thiếu vắng các điểm giao cắt hữu cơ giữa khối ngoại và khối nội, tình trạng chuyển giao công nghệ yếu kém, cùng những rủi ro về môi trường và an ninh tài chính cho thấy triết lý thu hút FDI thụ động không còn phù hợp. Trước yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, bài viết này tập trung làm rõ bức tranh thực trạng khu vực FDI tại Việt Nam. Từ đó, hệ thống hóa các giải pháp chiến lược gắn liền với tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026, nhằm kiến tạo cơ chế đột phá giúp kinh tế Việt Nam vươn lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

2. Nội dung

2.1. Chủ trương của Đảng về thu hút, phát triển khu vực kinh tế có đầu tư trực tiếp nước ngoài

Trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay, Việt Nam bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh, phức tạp, đặc biệt là sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những tác động sâu sắc của đại dịch Covid-19. Để thu hút FDI và tận dụng nguồn vốn này như là một nguồn lực để phát triển kinh tế, chủ trương của Đảng về thu hút và phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã có những bước tiến rõ rệt.

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) xác định: “Thu hút mạnh đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển của đất nước, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao” (ĐCSVN, 2011, tr. 209). Đây là sự chuyển dịch từ phát triển theo chiều rộng sang chú trọng chất lượng, hướng đến các dự án có “công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường và tăng cường sự liên kết với doanh nghiệp trong nước” (ĐCSVN, 2011, tr.111).

Các yếu tố bên trong của nền kinh tế đóng vai trò then chốt trong thu hút FDI. Đại hội XI của Đảng xác định chủ trương cụ thể về hoàn thiện môi trường pháp lý, chú trọng “Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, áp dụng các hình thức thu hút đầu tư đa dạng, hấp dẫn để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài, phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực cho phát triển” (ĐCSVN, 2011, tr. 192). Đồng thời, “Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến” (ĐCSVN, 2011, tr. 236). Điều này thể hiện sự chủ động trong thu hút FDI phù hợp với điều kiện và sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Sự chủ động còn được thể hiện qua Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, đã nhấn mạnh: “gắn thu hút đầu tư với giám sát quá trình thực thi, bảo đảm an ninh kinh tế, hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường” (ĐCSVN, 2013, tr.4), thể hiện sự kiên định về nguyên tắc phát triển nền kinh tế nhanh và bền vững.

Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục nâng cấp định hướng: “Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, chú trọng chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến… chủ động lựa chọn và có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước” (ĐCSVN, 2016, tr.108).

Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 là bước đột phá mạnh mẽ khi lần đầu tiên Đảng sử dụng khái niệm “hợp tác” thay vì “thu hút” thụ động, xác định khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển lâu dài. Nghị quyết “lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu” (ĐCSVN, 2019, tr. 2). Điều này cho thấy sự đột phá về tư duy của Đảng bằng việc thu hút, hợp tác có chọn lọc, chấm dứt việc thu hút bằng mọi giá, đồng thời góp phần tăng cường niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quá trình hợp tác, đầu tư.

Đại hội XIII (2021) của Đảng nhấn mạnh: “Chuyển trọng điểm chính sách thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án có công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, có mô hình quản trị hiện đại, có chuỗi cung ứng toàn cầu, có tác động lan tỏa và kết nối chặt chẽ với khu vực kinh tế trong nước; phát triển cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, góp phần nâng cao giá trị gia tăng nội địa, sức cạnh tranh của sản phẩm và vị trí quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu” (ĐCSVN, 2021, tr. 126-127).

Cụ thể hóa tinh thần đó, Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 02/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Hợp tác đầu tư nước ngoài giai đoạn 2021-2030 yêu cầu ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, quản trị hiện đại và có khả năng kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu.

Hệ thống chính sách giai đoạn này đã định hướng hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước đánh giá và lựa chọn công nghệ được chuyển giao, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, và đa dạng hóa công tác xúc tiến đầu tư để nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị.

Đánh dấu một bước tiến có tính chiến lược, ngày 08/6/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia. Nghị quyết đề ra nhiều cơ chế đột phá như: chuyển dần từ ưu đãi đầu sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt cho các dự án công nghệ chiến lược (bán dẫn, AI); và triển khai chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước. Đồng thời, yêu cầu vận hành Cổng một cửa đầu tư quốc gia số hóa toàn trình và thí điểm có kiểm soát việc phát triển các sàn giao dịch tài sản mã hóa. Về mục tiêu cụ thể, Việt Nam phấn đấu thu hút ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đến đặt trung tâm R&D, hướng tới kỳ vọng khu vực FDI sẽ đóng góp khoảng 30% GDP vào năm 2045 (ĐCSVN, 2026).

2.2. Thực trạng sự phát triển của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có những biến động phức tạp, sự đứt gãy chuỗi cung ứng sau đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn duy trì vị thế là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất toàn cầu. Thống kê giai đoạn 2010 - 2025 cho thấy quy mô dòng vốn FDI gia tăng liên tục, sự bùng nổ thực sự diễn ra trong giai đoạn 2021 - 2025.

Một là, quy mô dòng vốn FDI

Biểu đồ 1: Quy mô nguồn vốn và số lượng dự án mới FDI giai đoạn 2010-2025

picture1.png
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ nguồn số liệu của Cục đầu tư nước ngoài từ năm 2010-2025)

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc lịch sử khi tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, và đặc biệt vốn thực hiện đạt 27,62 tỷ USD (tăng 8,7% so với năm 2024) - mức giải ngân cao nhất giai đoạn 2010-2025. Lũy kế đến tháng 12/2025, tổng vốn thực hiện của khu vực FDI ước tính đạt khoảng 350,22 tỷ USD (bằng khoảng 66,1% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực), đạt mức tăng trưởng cao kỷ lục trong suốt giai đoạn 2010-2025, củng cố vị thế vững chắc của Việt Nam trong nhóm các quốc gia thu hút FDI hàng đầu khu vực ASEAN (Cục Đầu tư nước ngoài, 2025).

Bước sang nửa đầu năm 2026, dữ liệu tiếp tục ghi nhận sự bứt phá với tổng vốn FDI đăng ký thu hút đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm trước, đồng thời vốn thực hiện cũng đạt mức cao nhất của kỳ 6 tháng đầu năm trong vòng 5 năm qua (VOV, 2026). Các dự báo tổng thể cho năm 2025 và 2026 từ Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) đều chỉ ra rằng vốn FDI đăng ký sẽ tiếp tục dao động ở ngưỡng kỷ lục từ 38 đến trên 40 tỷ USD mỗi năm (VAFIE, 2026).

Hai là, cơ cấu dòng vốn FDI theo ngành

Bức tranh cơ cấu FDI tại Việt Nam thể hiện sự tập trung cao độ cả về mặt ngành nghề lẫn khu vực địa lý, phản ánh chiến lược của các tập đoàn đa quốc gia khi tìm kiếm lợi thế nhờ quy mô (economies of scale) và cụm liên kết ngành.

Bảng 1: Cơ cầu vốn FDI theo ngành kinh tế

Cơ cấu vốn FDI theo ngành kinh tế (%)
Năm 2021
Cơ cấu vốn FDI theo ngành kinh tế (%)
Năm 2025
Công nghiệp chế biến, chế tạo
57,9%
Công nghiệp chế biến, chế tạo
54,7%
Sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa
20,56%
Kinh doanh bất động sản
18,5%
Kinh doanh bất động sản
9,2%
Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy
7,9%
Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy
3.67%
Hoạt động chuyên môn, khoa học - công nghệ
5,1%
Các lĩnh vực khác
8.67%
Các lĩnh vực khác
13,8%

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ số liệu Cục Đầu tư nước ngoài)

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì vai trò xương sống trong thu hút FDI. Nếu như tính đến cuối năm 2021, ngành này thu hút hơn 225 tỷ USD (chiếm 55,9% tổng vốn), thì đến 31/12/2025, tỷ trọng này giảm nhẹ xuống 54,7%. Điều này cho thấy mặc dù Việt Nam vẫn là công xưởng sản xuất hấp dẫn, nhưng dòng vốn FDI đang có xu hướng phân bổ đa dạng hơn sang các ngành dịch vụ và thương mại khác. Xu hướng kinh doanh bất động sản chứng kiến sự gia tăng đột biến về tỷ trọng trong thu hút FDI. Sự thay đổi từ vị trí thứ ba với 9,2% (năm 2021) lên vị trí thứ 2 chiếm 18,5% (năm 2025), tức là tỷ trọng tăng gấp đôi. Điều này phản ánh kỳ vọng lớn của các nhà đầu tư nước ngoài vào tiềm năng thị trường nhà ở, bất động sản công nghiệp và thương mại tại Việt Nam trong tương lai. Năm 2025 ghi nhận sự nổi lên của lĩnh vực đầu tư vào hoạt động chuyên môn, khoa học - công nghệ, chiếm 5,1%. Đây là tín hiệu tích cực, cho thấy dòng vốn FDI đang dần chuyển dịch từ gia công giá rẻ sang các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển (R&D).

Các nhóm ngành khác tăng từ 8,67% (năm 2021) lên 13,8% (năm 2025) củng cố thêm nhận định rằng dòng vốn FDI vào Việt Nam không còn quá tập trung vào một số ngành mũi nhọn như trước, mà đang lan tỏa sang nhiều lĩnh vực đa dạng hơn trong nền kinh tế.

Ba là, cơ cấu theo không gian địa lý

Theo địa bàn đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 31/34 tỉnh, thành phố trên cả nước, sự hình thành các trung tâm trọng điểm bám dọc theo hệ thống giao thông huyết mạch và cảng biển là xu hướng chủ đạo. Vùng Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai) và đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng) tiếp tục bỏ xa các vùng trung du, miền núi phía Bắc hay Tây Nguyên.

Phân tích số liệu năm 2025 cho thấy tính tập trung địa lý tiếp tục gia tăng: Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu (hơn 7 tỷ USD, chiếm 18,4% tổng vốn đầu tư cả nước, tăng 5,8% so với năm trước). Bắc Ninh đứng thứ hai với gần 5,7 tỷ USD, chiếm 14,8%; Hà Nội đứng thứ ba với 4,4 tỷ USD, chiếm 11,5% tổng số vốn đầu tư đăng ký (Cục đầu tư nước ngoài, 2025, tr.3-4). Đáng chú ý, 10 địa phương dẫn đầu đã chiếm tới 85,4% (32,8 tỷ USD) tổng vốn đăng ký. Điều này minh chứng cho sự thành công của một số địa phương như Phú Thọ, Thái Nguyên trong việc chuẩn bị các đề án thu hút có chọn lọc, xây dựng cơ chế “luồng xanh” và hạ tầng khu công nghiệp thế hệ mới.

Bốn là, cơ cấu theo đối tác đầu tư

Sự hội nhập của kinh tế Việt Nam phụ thuộc chặt chẽ vào dòng vốn từ các nền kinh tế phát triển tại châu Á. Tính đến năm 2021, mặc dù có 137 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư, Hàn Quốc vẫn khẳng định vị trí số một với tổng vốn đăng ký chiếm khoảng 19%, tiếp theo là Nhật Bản (16%), Singapore (14%), Đài Loan (Trung Quốc) (9%), Hồng Kông (Trung Quốc) (7%) và Trung Quốc (4%). Các tập đoàn như Samsung, LG, Honda, Toyota, Foxconn hay Panasonic không chỉ rót vốn mà còn trực tiếp cấu trúc lại hệ sinh thái sản xuất của Việt Nam. Tính đến 31/12/2025, có 113 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, Xinhgapo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư hơn 9,39 tỷ USD, chiếm 24,45% tổng vốn đầu tư, thứ hai là Trung Quốc với gần 5,7 tỷ USD, chiếm 14,8%, tăng 20,4% so cùng kỳ, tiếp theo là Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông (Trung Quốc) với số vốn lần lượt là 5,3 tỷ USD; 3,73 tỷ USD và 3,12 tỷ USD.

Những kết quả đạt được

Một là, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng vai trò động lực tăng trưởng trực tiếp. Trong giai đoạn 2011 - 2020, vốn thực hiện của khu vực FDI bình quân chiếm tới 22% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, góp phần thay đổi diện mạo hạ tầng và năng lực sản xuất quốc gia (Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, 2025).

Số liệu thống kê cho thấy, kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn duy trì ở mức cao, năm 2025 đạt trên 361,9 tỷ USD, chiếm 50% kim ngạch xuất khẩu, tăng 24,4% so với năm 2024. Khu vực này liên tục tạo ra thặng dư thương mại khổng lồ (đạt gần 49,6 tỷ USD năm 2025), đóng vai trò sống còn trong việc bù đắp khoản thâm hụt 30,6 tỷ USD của khối doanh nghiệp trong nước. Từ đó, FDI đã giúp Việt Nam thiết lập chuỗi kỷ lục 10 năm xuất siêu liên tiếp, giữ vững ổn định tỷ giá hối đoái và an ninh dự trữ ngoại hối.

Hai là, về khía cạnh xã hội, khu vực FDI là cỗ máy tạo việc làm khổng lồ, thu hút hàng triệu lao động nông thôn chuyển dịch sang khu vực công nghiệp dịch vụ, đóng góp vào mục tiêu nâng tỷ trọng lao động qua đào tạo (từ 56% năm 2017 hướng tới mục tiêu 80% năm 2030 (ĐCSVN, 2019)).

Một số hạn chế

Một là, thực trạng phát triển khu vực kinh tế FDI cho thấy tồn tại “nền kinh tế kép” (Dual Economy) tại Việt Nam, nơi hai khối doanh nghiệp nội và ngoại hoạt động song song trên cùng một lãnh thổ nhưng thiếu vắng các điểm kết nối hữu cơ. Năng lực hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp trong nước còn yếu. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2022), có tới 60% doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) của Việt Nam không đủ năng lực tài chính và công nghệ để cạnh tranh hay trở thành vệ tinh cho các tập đoàn đa quốc gia. Áp lực từ các doanh nghiệp FDI đã khiến tỷ lệ phá sản trong một số ngành sản xuất truyền thống tăng tới 15% trong giai đoạn 2015-2020.

Mối liên kết chuỗi cung ứng được thể hiện qua “tỷ lệ nội địa hóa” - một chỉ số vẫn đang dậm chân tại chỗ ở mức đáng lo ngại, đặc biệt trong các lĩnh vực chế tạo điện tử và cơ khí chính xác. Khảo sát năm 2024 đối với các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam cho thấy, tỷ lệ cung ứng nội địa chỉ đạt 36,6%, giảm 5,3 điểm phần trăm so với mức 41,9% của cuộc khảo sát trước đó (Thời báo Tài chính Việt Nam, 2025). Sự yếu kém này khiến doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu cung cấp các dịch vụ gia công như bao bì, nhựa, hoặc logistics cơ bản, không thể chạm tới các công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cốt lõi.

Hai là, kỳ vọng mang tính chiến lược khi thu hút FDI là tiếp cận được nguồn công nghệ lõi tiên tiến nhằm tạo sức bật cho nền kinh tế nội địa. Tuy nhiên, thực tế quá trình chuyển giao công nghệ không đạt được hiệu quả do các tập đoàn nước ngoài thường có xu hướng giấu kín bí quyết công nghệ để giữ thế độc quyền. Đáng lo ngại hơn, nhiều nhà đầu tư đã lợi dụng sự lỏng lẻo trong khâu thẩm định và các khe hở của chính sách để biến quốc gia tiếp nhận thành “bãi đáp” cho dây chuyền sản xuất đã lỗi thời. Việc sử dụng các loại máy móc, thiết bị chắp vá và lạc hậu này dẫn đến tình trạng thâm dụng tài nguyên, tiêu hao năng lượng và thâm dụng lao động. Hậu quả là, thay vì thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa hiện đại, những dự án FDI chất lượng thấp này lại đang tạo ra nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Ba là, công tác quản lý tài chính và ngăn chặn tình trạng thất thu ngân sách từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn đang là một bài toán vô cùng nan giải đối với các cơ quan chức năng. Điển hình là vụ việc của Keangnam Vina, một doanh nghiệp có nguồn vốn khổng lồ vào thị trường từ năm 2007 nhưng lại liên tục báo lỗ trong suốt 5 năm đầu hoạt động. Phải đến khi cơ quan thanh tra vào cuộc, những hành vi chuyển giá tinh vi nhằm mục đích trốn thuế của tập đoàn này mới bị bóc trần. Thực trạng này minh chứng cho việc nhiều doanh nghiệp FDI đang lợi dụng các thủ thuật tài chính phức tạp để trục lợi, làm thất thu nguồn thu của quốc gia. Hơn nữa, việc lạm dụng chính sách ưu đãi thuế để thu hút đầu tư không chỉ làm sụt giảm ngân sách nhà nước mà còn vô tình đẩy các doanh nghiệp trong nước vào thế bất lợi, tạo ra một môi trường cạnh tranh thiếu công bằng giữa khối nội và khối ngoại..

2.3. Giải pháp

Trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Việc thu hút đầu tư không còn theo địa giới hành chính mà chuyển sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Để hiện thực hóa mục tiêu này, hệ thống giải pháp thực thi cần tập trung vào các trọng tâm sau:

Một là, cần hoàn thiện thể chế thông qua việc áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và cơ chế ưu đãi cho các dự án công nghệ chiến lược có quy mô lớn, có tác động liên vùng và tiềm năng dẫn dắt chuỗi cung ứng. Cơ chế đặc biệt này cũng được áp dụng cho các dự án công nghệ cao có cam kết chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam. Đi kèm với đó, cần tổ chức thực hiện bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế FDI ở cả cấp trung ương và địa phương, trong đó lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường và an ninh kinh tế làm tiêu chí chủ yếu. Để nâng cao hiệu quả quản lý, việc xây dựng và vận hành Cổng một cửa đầu tư quốc gia theo hướng số hóa toàn trình là thiết yếu, giúp liên thông dữ liệu trực tiếp giữa các bộ, ngành và địa phương.

Hai là, chính sách ưu đãi đầu tư phải được đổi mới, chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động thực tế của dự án. Công tác quản lý sẽ được thiết lập thông qua cơ chế hậu kiểm chặt chẽ, sẵn sàng thu hồi các ưu đãi và hỗ trợ nếu nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết. Sự ưu tiên hỗ trợ sẽ được dành riêng cho các dự án triển khai tốt cam kết về sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, đóng góp lớn vào hoạt động nghiên cứu, phát triển và xây dựng chuỗi cung ứng trong nước. Thay vì chỉ kiểm soát đầu vào như trước đây, phương thức quản trị mới sẽ bao trùm toàn bộ vòng đời dự án và yêu cầu sự gắn kết chặt chẽ với các doanh nghiệp trong nước.

Ba là, việc thúc đẩy liên kết và lan tỏa công nghệ được cụ thể hóa bằng mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của khối doanh nghiệp FDI, đồng thời đưa tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45 - 50%. Để đạt được điều này, Nhà nước cần khuyến khích, yêu cầu doanh nghiệp FDI cam kết về chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung ứng nội địa như một điều kiện cốt lõi để được hưởng ưu đãi đầu tư theo kết quả. Cùng với đó, triển khai chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị. Chú trọng hoàn thiện cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập, từng bước tăng tỷ lệ góp vốn hoặc tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các đối tác nước ngoài.

Bốn là, nâng cấp đồng bộ kết cấu hạ tầng chiến lược và phát triển các thể chế tài chính đột phá. Về hạ tầng không gian, nguồn lực cần tập trung đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, ưu tiên các công trình kết nối và trung tâm logistics ở các cảng biển đầu mối, sân bay và đường sắt cao tốc. Các khu công nghiệp, khu kinh tế hiện hữu cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi theo hướng sinh thái, thông minh, tích hợp chặt chẽ hạ tầng sản xuất với dịch vụ logistics và hạ tầng xã hội. Về thể chế tài chính, nhiệm vụ cấp bách là khẩn trương triển khai xây dựng và đưa vào vận hành các Trung tâm tài chính quốc tế, khu vực. Song song với việc thí điểm có kiểm soát phát triển các sàn giao dịch tài sản mã hóa nhằm mở ra không gian phát triển mới, hệ thống quản lý cũng phải thúc đẩy phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào thị trường tín dụng ngắn hạn.

3. Kết luận

Nhìn chung, khu vực FDI đã đóng vai trò tạo động lực tăng trưởng trực tiếp cho kinh tế Việt Nam, mang lại thặng dư thương mại lớn và ổn định kinh tế vĩ mô. Dù vậy, những điểm nghẽn về mức độ nội địa hóa thấp, nguy cơ ô nhiễm môi trường do công nghệ lạc hậu, và thủ thuật chuyển giá đã đặt ra yêu cầu cấp thiết trong chính sách quản lý dòng vốn FDI. Việc thực thi đồng bộ các giải pháp chiến lược bám sát Nghị quyết số 10-NQ/TW là cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Đây là bước chuyển mang tính lịch sử, từ việc đóng vai trò là công xưởng gia công giá rẻ sang định vị Việt Nam thành trung tâm đổi mới sáng tạo, đưa khu vực FDI thực sự trở thành đòn bẩy chiến lược cho mục tiêu phát triển quốc gia bền vững đến năm 2045.

_________________

Ngày nhận: 17/7/2026; Ngày bình duyệt: 21/7/2026; Ngày quyết định đăng: 23/7/2026.

Email tác giả: Baongoc.hcma@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Cục Đầu tư nước ngoài (2025). Báo cáo nhanh tình hình thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài 12 tháng năm 2025. Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính.

ĐCSVN (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb. Chính trị quốc gia.

ĐCSVN (2013). Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2913 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.

ĐCSVN (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng.

ĐCSVN (2019). Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030.

ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 2. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

ĐCSVN (2026). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ (2025). Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.

Thời báo Tài chính Việt Nam (2025). Việt Nam được đánh giá có nhiều triển vọng cung ứng nội địa trong tương lai.

VAFIE - Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (2026). Báo cáo thường niên về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) - Động lực mới từ trung tâm tài chính quốc tế và các khu thương mại tự do.

VOV (2026). Nghị quyết 10-NQ/TW: Chủ động lựa chọn, dẫn dắt dòng vốn FDI.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Thực trạng và giải pháp phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
    POWERED BY