Nghiên cứu lý luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế và giá trị định hướng đối với việc xác lập mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam

• 29/09/2026 22:15

Tóm tắt: Bài viết phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế, tập trung vào mục tiêu phát triển vì con người, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất, sử dụng hiệu quả các nguồn lực và giải quyết hài hòa các quan hệ trong quá trình phát triển. Trên cơ sở đó, làm rõ sự kế thừa và phát triển sáng tạo của Đảng trong việc xác lập mô hình tăng trưởng mới theo tinh thần Đại hội XIV, với trọng tâm là tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

TS LÊ CAO VINH
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên

mic.mediacdn.vn-thumb_w-720-639352410187198464-2025-11-17-_img-gian-khong-gian-xuat-khau-namibia-17633726319321815662782.webp
Giàn không gian xuất khẩu do Công ty Cổ phần Cơ khí Đông Anh thiết kế, chế tạo_Ảnh: mst.gov.vn

1. Mở đầu

Phát triển kinh tế luôn là vấn đề trung tâm trong tư duy lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và là nền tảng vật chất để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng không còn dừng lại ở việc điều chỉnh các động lực phát triển truyền thống mà đòi hỏi phải xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đại hội XIV của Đảng đã xác định đây là một trong những định hướng chiến lược nhằm tạo lập nền tảng phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về phát triển kinh tế đã được xây dựng trên hệ thống những quan điểm toàn diện, với những nội dung cốt lõi như phát triển vì con người, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, thực hành tiết kiệm, phát huy sức mạnh của nhân dân, kết hợp nội lực với ngoại lực và giải quyết hài hòa các quan hệ trong quá trình phát triển. Những quan điểm đó không chỉ phản ánh tư duy phát triển vượt trước thời đại mà còn chứa đựng giá trị phương pháp luận quan trọng đối với quá trình hoạch định đường lối phát triển đất nước hiện nay.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế; nghiên cứu về đổi mới mô hình tăng trưởng ở Việt Nam, tiếp nối các công trình nghiên cứu đó, bài viết làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế; phân tích giá trị định hướng của những tư tưởng đó đối với việc xác lập mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam; phân tích sự kế thừa và phát triển sáng tạo của Đảng trong xây dựng đường lối phát triển kinh tế ở giai đoạn hiện nay, góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho việc tiếp tục hoàn thiện mô hình tăng trưởng mới, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.

2. Nội dung

2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế

Thứ nhất, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế

Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế không được trình bày như một học thuyết kinh tế độc lập hay một hệ thống lý luận chuyên ngành theo nghĩa hiện đại, mà được hình thành trong quá trình lãnh đạo cách mạng và xây dựng chế độ mới ở Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn Người chỉ đạo trực tiếp sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc 1954 - 1969. Tuy nhiên, thông qua các bài nói, bài viết, thư, điện và các Chỉ thị của Người, có thể nhận thấy một hệ thống quan điểm tương đối hoàn chỉnh về mục tiêu, động lực, phương thức và điều kiện phát triển kinh tế. Hệ thống quan điểm đó không chỉ phản ánh tư duy phát triển của Hồ Chí Minh trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam mà còn chứa đựng những giá trị phương pháp luận có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp phát triển đất nước.

Từ góc độ lý luận, có thể hiểu: tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế là hệ thống quan điểm của Người về mục tiêu, động lực, phương thức và các điều kiện bảo đảm phát triển nền kinh tế nhằm không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, phát huy sức mạnh của con người và dân tộc, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động mở rộng hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Quan điểm này được hình thành trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đồng thời kế thừa những giá trị tích cực của truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại.

Trước hết, Hồ Chí Minh tiếp cận phát triển kinh tế từ mục tiêu xã hội và giá trị con người. Theo Người, phát triển kinh tế không phải là mục đích tự thân, càng không phải là sự gia tăng đơn thuần về của cải vật chất hay quy mô sản xuất, mà là phương tiện để nâng cao đời sống nhân dân, củng cố độc lập dân tộc và tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Người đã khẳng định: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 64). Luận điểm này cho thấy tư tưởng phát triển kinh tế của Hồ Chí Minh luôn thống nhất giữa mục tiêu kinh tế với mục tiêu chính trị và mục tiêu nhân văn. Quan niệm này cũng phản ánh sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Hồ Chí Minh không tách rời việc phát triển sản xuất với nhiệm vụ cải thiện đời sống nhân dân. Theo Người, muốn nâng cao đời sống phải phát triển sản xuất; ngược lại, phát triển sản xuất chỉ có ý nghĩa khi thành quả của nó được chuyển hóa thành sự tiến bộ của xã hội và hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, Người nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phải làm cho “người nghèo thì đủ ăn/ Người đủ ăn thì khá giàu/ Người khá giàu thì giàu thêm” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 81). Cách diễn đạt giản dị nhưng đã phản ánh một quan niệm phát triển tiến bộ, trong đó tăng trưởng kinh tế phải gắn với nâng cao mức sống và mở rộng cơ hội phát triển cho mọi tầng lớp nhân dân.

Hai là, đặc điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế là: phát triển kinh tế luôn được đặt trong mối quan hệ biện chứng với phát triển lực lượng sản xuất. Người coi sản xuất là cơ sở trực tiếp tạo ra của cải vật chất và quyết định khả năng nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, phát triển sản xuất không đồng nghĩa với mở rộng quy mô một cách giản đơn mà phải gắn với cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, đổi mới phương thức tổ chức sản xuất và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực. Theo Hồ Chí Minh, muốn tạo ra nhiều của cải hơn phải không ngừng học tập khoa học, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và phát huy sáng kiến của người lao động. Đây là tư duy phát triển vượt lên cách tiếp cận dựa chủ yếu vào mở rộng các yếu tố đầu vào, đồng thời đặt nền móng cho quan điểm coi năng suất và khoa học, công nghệ là động lực của phát triển.

Ba là, điểm đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế là khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là chủ thể của phát triển kinh tế. Theo Người, mọi nguồn lực của đất nước đều bắt nguồn từ nhân dân; sức mạnh phát triển không chỉ nằm ở vốn, tài nguyên hay máy móc mà trước hết là trí tuệ, ý chí, tinh thần lao động sáng tạo và sự đồng thuận xã hội. Do đó, phát triển kinh tế phải gắn với phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy khát vọng cống hiến và tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy năng lực sáng tạo. Quan điểm này không chỉ mang ý nghĩa chính trị mà còn phản ánh nhận thức sâu sắc của Hồ Chí Minh về vai trò quyết định của nguồn lực con người trong quá trình phát triển. Bên cạnh việc phát huy nội lực, Hồ Chí Minh cũng sớm nhận thức được vai trò của hợp tác quốc tế trong phát triển kinh tế. Người luôn nhấn mạnh phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ nhưng không khép kín, biệt lập; ngược lại, cần chủ động học hỏi thành tựu khoa học - kỹ thuật của nhân loại, mở rộng quan hệ hợp tác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và giữ vững độc lập dân tộc, là điều kiện để hội nhập chủ động và khai thác hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước. Đây là tư duy có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế là một chỉnh thể thống nhất, trong đó mục tiêu, động lực và phương thức phát triển luôn gắn bó hữu cơ với nhau. Nếu mục tiêu cao nhất là không ngừng nâng cao đời sống nhân dân và phát triển con người toàn diện, thì động lực của phát triển là phát huy sức mạnh của nhân dân, phát triển lực lượng sản xuất, khoa học - kỹ thuật và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; còn phương thức phát triển là kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa nội lực và ngoại lực, giữa hiệu quả trước mắt với lợi ích lâu dài. Chính tính chỉnh thể này tạo nên giá trị lý luận và phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, phát triển trong hoạch định đường lối phát triển đất nước và xác lập mô hình tăng trưởng mới trong giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế là một hệ thống quan điểm thống nhất về mục tiêu, động lực và phương thức phát triển. Trong đó, các yếu tố này luôn gắn bó hữu cơ với nhau, phản ánh nhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa con người với sản xuất, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, giữa phát triển lực lượng sản xuất với hoàn thiện các điều kiện bảo đảm cho sự phát triển lâu dài. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế được thể hiện tập trung ở ba nội dung cơ bản sau đây.

Phát triển kinh tế phải hướng tới con người và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Đây là quan điểm xuyên suốt và giữ vị trí trung tâm. Theo Người, phát triển kinh tế không nhằm tạo ra sự gia tăng đơn thuần về của cải vật chất hay mở rộng quy mô sản xuất, mà trước hết phải phục vụ con người, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân. Đối với Hồ Chí Minh, Người không chỉ xác định mục tiêu cuối cùng của độc lập dân tộc mà còn chỉ ra tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả của mọi chính sách phát triển kinh tế. Từ quan điểm đó, Hồ Chí Minh luôn xem cải thiện đời sống nhân dân là tiêu chí quan trọng nhất phản ánh chất lượng của sự phát triển. Cách diễn đạt của Người về phát triển kinh tế luôn giản dị nhưng hàm chứa tư duy phát triển rất tiến bộ: tăng trưởng kinh tế phải tạo điều kiện để mọi tầng lớp nhân dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển và có cơ hội nâng cao chất lượng cuộc sống. Điều này cho thấy Hồ Chí Minh không quan niệm tăng trưởng như mục đích tự thân mà luôn đặt nó trong mối quan hệ thống nhất với tiến bộ và công bằng xã hội.

Quan điểm này phản ánh sự thống nhất giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu nhân văn. Con người vừa là mục tiêu, vừa là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả của phát triển. Giá trị của tăng trưởng không chỉ được đo bằng quy mô GDP hay tốc độ gia tăng sản lượng, mà quan trọng là khả năng tạo ra cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn cho nhân dân. Đây cũng chính là cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay xác định con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể và động lực của sự phát triển.

Phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất và sử dụng hiệu quả các nguồn lực là động lực của phát triển kinh tế. Nếu nâng cao đời sống nhân dân là mục tiêu của phát triển thì phát triển lực lượng sản xuất là điều kiện quyết định để hiện thực hóa mục tiêu đó. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng muốn cải thiện đời sống thì trước hết phải tạo ra nhiều của cải vật chất hơn thông qua phát triển sản xuất. Người khẳng định: “muốn sung sướng hơn (…) Phải sản xuất cho tốt” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr. 207). Điều đáng chú ý là Hồ Chí Minh không đồng nhất phát triển sản xuất với mở rộng quy mô lao động hoặc gia tăng các yếu tố đầu vào. Theo Người, yếu tố quyết định nằm ở việc cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, đổi mới phương thức tổ chức sản xuất và phát huy sáng kiến của người lao động. Khi nói chuyện với nông dân, Người yêu cầu phải làm cho cùng một diện tích đất có thể tạo ra sản lượng cao hơn nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật. Điều đó cho thấy Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức rằng năng suất là yếu tố quyết định chất lượng tăng trưởng. Quan điểm này phản ánh tư duy phát triển rất gần với nhận thức hiện đại về vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, điểm khác biệt là Hồ Chí Minh luôn đặt kỹ thuật trong mối quan hệ với con người. Máy móc, công nghệ hay vốn đầu tư chỉ phát huy hiệu quả khi được kết hợp với trình độ, kỹ năng và tinh thần sáng tạo của người lao động. Vì vậy, phát triển lực lượng sản xuất không chỉ là đổi mới công nghệ mà còn là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát huy trí tuệ của nhân dân.

Song song với phát triển sản xuất, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng thực hành tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Theo Người, tiết kiệm không phải là hạn chế chi tiêu một cách cực đoan mà là sử dụng hợp lý lao động, thời gian, vật tư và tiền của để tạo ra hiệu quả cao nhất. Người khẳng định: “Tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. 352). Quan điểm này cho thấy hiệu quả sử dụng nguồn lực là một bộ phận hữu cơ của phát triển kinh tế chứ không chỉ là yêu cầu về quản lý tài chính hay đạo đức công vụ. Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, động lực của phát triển không nằm ở việc huy động ngày càng nhiều nguồn lực mà ở khả năng nâng cao năng suất, cải tiến kỹ thuật, phát huy sáng tạo và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có. Đây là một tư duy có giá trị phương pháp luận sâu sắc đối với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam hiện nay.

Phát triển kinh tế phải giải quyết hài hòa các quan hệ trong quá trình phát triển. Một trong những đặc điểm nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh là luôn xem xét phát triển kinh tế trong mối quan hệ biện chứng với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Người không tiếp cận kinh tế như một lĩnh vực biệt lập mà đặt nó trong tổng thể các quan hệ giữa kinh tế với chính trị, văn hóa, xã hội, con người và môi trường phát triển.

Hồ Chí Minh khẳng định sự thống nhất giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, xã hội. Theo Người, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải đồng thời phát triển kinh tế và văn hóa, bởi kinh tế tạo nền tảng vật chất còn văn hóa tạo nền tảng tinh thần cho sự phát triển. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân (Hồ Chí Minh, 2011g, tr. 612). Quan điểm này thể hiện nhận thức sâu sắc về tính thống nhất giữa phát triển vật chất và phát triển con người. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu kết hợp hài hòa giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài. Theo Người, phát triển kinh tế không thể chạy theo những kết quả ngắn hạn mà phải tính đến khả năng phát triển bền vững của đất nước. Tinh thần “phải trông xa, thấy rộng” phản ánh phương pháp tư duy chiến lược, trong đó hiệu quả kinh tế trước mắt phải được đặt trong mối quan hệ với lợi ích lâu dài của quốc gia và dân tộc.

Sự thống nhất giữa khai thác và bảo vệ nguồn lực là nội dung quan trọng trong phát triển kinh tế. Quan điểm nổi tiếng của Hồ Chí Minh: “Rừng là vàng, nếu mình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý” (Hồ Chí Minh, 2011f, tr. 165) cho thấy, Người không chỉ quan tâm đến khai thác tài nguyên mà còn nhấn mạnh trách nhiệm bảo tồn và phát triển nguồn lực cho các thế hệ tương lai. Đây là tư tưởng có giá trị đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn hiện nay. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng giải quyết một cách biện chứng mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực. Người luôn khẳng định phải dựa vào sức mình là chính nhưng đồng thời chủ động học hỏi kinh nghiệm quốc tế, tiếp thu thành tựu khoa học - kỹ thuật của nhân loại và mở rộng hợp tác bình đẳng với các nước. Theo đó, nội lực giữ vai trò quyết định, còn ngoại lực là nguồn lực quan trọng để bổ sung và thúc đẩy phát triển. Quan điểm này tiếp tục giữ nguyên giá trị trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế là một hệ thống quan điểm thống nhất, trong đó mục tiêu, động lực và phương thức phát triển được đặt trong mối quan hệ biện chứng với nhau. Giá trị nổi bật của tư tưởng đó không chỉ nằm ở các chỉ dẫn cụ thể đối với hoạt động kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử, mà còn ở phương pháp tư duy phát triển lấy con người làm trung tâm, lấy phát triển lực lượng sản xuất làm nền tảng, lấy hiệu quả sử dụng nguồn lực làm động lực và lấy sự hài hòa giữa các quan hệ phát triển làm nguyên tắc. Chính những giá trị mang tính nguyên lý này tạo nên cơ sở lý luận để phân tích vai trò định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc xác lập mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

2.2. Những giá trị định hướng và sự kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong xác lập mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam

Thứ nhất, những giá trị định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc xác lập mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam

Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế đã xác lập những nguyên lý phát triển có tính phổ quát, phản ánh quy luật của sự phát triển kinh tế gắn với con người, với dân tộc và với yêu cầu phát triển lâu dài. Chính những nguyên lý đó tiếp tục giữ vai trò định hướng cho việc hoạch định đường lối phát triển của Đảng trong bối cảnh mới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh định hướng việc xác lập mục tiêu của mô hình tăng trưởng mới theo hướng lấy con người làm trung tâm của phát triển. Trong kinh tế học hiện đại, chất lượng tăng trưởng ngày càng được đánh giá không chỉ bằng tốc độ gia tăng GDP mà còn bằng khả năng nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm công bằng xã hội và mở rộng cơ hội phát triển cho mọi người dân. Quan điểm này có sự kế thừa và tiếp nối với tư tưởng Hồ Chí Minh khi Người luôn khẳng định rằng phát triển kinh tế phải nhằm nâng cao đời sống nhân dân và phục vụ hạnh phúc của con người. Điều đó cho thấy, mặc dù bối cảnh lịch sử đã thay đổi, nhưng nguyên lý phát triển vì con người vẫn là tiêu chuẩn có giá trị định hướng đối với việc xác lập mô hình tăng trưởng mới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh định hướng cách thức lựa chọn động lực phát triển. Trong điều kiện hiện nay, Đại hội XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là những động lực chủ yếu của tăng trưởng. Xét về bản chất, đây là sự kế thừa và tiếp nối những nguyên lý của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh luôn coi cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, phát huy sáng kiến và trí tuệ của nhân dân là điều kiện để tạo ra nhiều của cải hơn cho xã hội. Ngày nay, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo chính là hình thức phát triển ở trình độ cao hơn của yêu cầu cải tiến kỹ thuật và phát triển lực lượng sản xuất trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Do đó, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ ở phương pháp tư duy coi tri thức, sáng tạo và năng lực của con người là động lực của phát triển.

Tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp cơ sở phương pháp luận để giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển bền vững. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và yêu cầu chuyển đổi xanh, tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên hay mở rộng các yếu tố đầu vào. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng mô hình tăng trưởng vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa bảo đảm sử dụng hiệu quả tài nguyên và duy trì năng lực phát triển lâu dài. Mặc dù chưa sử dụng khái niệm “phát triển bền vững”, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, khai thác đi đôi với bảo vệ nguồn lực và kết hợp lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài đã hàm chứa những giá trị phương pháp luận có ý nghĩa đối với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh, tuần hoàn và phát triển bền vững hiện nay.

Tư tưởng Hồ Chí Minh định hướng cách thức huy động và phát huy các nguồn lực phát triển. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, nguồn lực phát triển không chỉ bao gồm vốn, tài nguyên hay lao động, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng thể chế, năng lực quản trị, trình độ khoa học, công nghệ và khả năng huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội. Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch sử, đồng thời khẳng định phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Quan điểm đó tiếp tục là cơ sở để Đảng xác định yêu cầu phát huy nội lực gắn với tranh thủ ngoại lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Đây cũng là điều kiện để mô hình tăng trưởng mới vừa phát huy được tiềm năng trong nước, vừa tận dụng hiệu quả các nguồn lực toàn cầu.

Giá trị nổi bật nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế là cung cấp phương pháp tư duy về phát triển, chứ không phải một mô hình phát triển bất biến. Phương pháp tư duy về sự phát triển thể hiện ở việc luôn xuất phát từ lợi ích của nhân dân; giải quyết các mối quan hệ trong tính chỉnh thể; phát huy nội lực đồng thời tranh thủ ngoại lực; kết hợp mục tiêu trước mắt với mục tiêu lâu dài; gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Chính phương pháp tư duy này tạo nên khả năng thích ứng của tư tưởng Hồ Chí Minh trước những biến đổi của thời đại. Vì vậy, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay không phải là lặp lại những giải pháp kinh tế của nửa sau thế kỷ XX, mà là kế thừa những nguyên lý và phương pháp luận của Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề phát triển mới đặt ra trong thế kỷ XXI.

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế không nhằm tìm kiếm những khái niệm kinh tế hiện đại trong các tác phẩm của Người, mà nhằm nhận diện những giá trị lý luận có khả năng định hướng cho việc giải quyết các vấn đề phát triển của đất nước trong bối cảnh mới. Vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế vẫn giữ nguyên giá trị định hướng đối với quá trình hoạch định đường lối phát triển của Đảng. Giá trị đó không chỉ được thể hiện ở tính đúng đắn của những quan điểm cụ thể, mà quan trọng hơn là ở hệ thống nguyên lý và phương pháp luận phát triển mang tính bền vững. Đây chính là cơ sở lý luận để phân tích sự kế thừa và phát triển sáng tạo của Đảng trong quá trình xác lập mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam hiện nay. Giá trị định hướng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc xác lập mô hình tăng trưởng mới được thể hiện ở sự thống nhất về nguyên lý phát triển. Đại hội XIV của Đảng chủ trương “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực chính” (ĐCSVN, 2026, tr.373). Những định hướng này đều có cơ sở phương pháp luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển lực lượng sản xuất, phát huy sức dân, sử dụng hiệu quả nguồn lực, kết hợp nội lực với ngoại lực và lấy con người làm mục tiêu của sự phát triển.

Thứ hai, xác lập mô hình tăng trưởng mới - bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về phát triển kinh tế

Quá trình đổi mới tư duy phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với sự vận động của thực tiễn đất nước và những biến đổi của bối cảnh quốc tế. Nếu trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, trọng tâm là giải phóng lực lượng sản xuất, khắc phục cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp và tạo lập các điều kiện cho tăng trưởng kinh tế, thì ở giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng mà còn phải nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng. Sự thay đổi đó phản ánh bước phát triển trong nhận thức lý luận của Đảng về bản chất của phát triển kinh tế trong điều kiện mới.

Từ Đại hội XI, Đảng chính thức xác định nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, coi đây là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chủ yếu tập trung vào điều chỉnh phương thức tăng trưởng hiện có, chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang kết hợp hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, lấy nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả làm trọng tâm. Đến Đại hội XIII, nội dung đổi mới mô hình tăng trưởng tiếp tục được phát triển theo hướng gắn chặt hơn với cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Điểm đột phá về tư duy được xác lập tại Đại hội XIV khi Đảng không chỉ dừng lại ở yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng mà chuyển sang chủ trương xác lập mô hình tăng trưởng mới. Điều này phản ánh sự chuyển biến về chất trong tư duy phát triển. Nếu “đổi mới mô hình tăng trưởng” chủ yếu hướng tới điều chỉnh phương thức tạo ra tăng trưởng trong khuôn khổ mô hình hiện hữu, thì “xác lập mô hình tăng trưởng mới” hàm ý xây dựng một nền tảng phát triển mới với hệ thống mục tiêu, động lực, phương thức và thể chế phù hợp với bối cảnh phát triển của đất nước trong kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Theo tinh thần Đại hội XIV, mô hình tăng trưởng mới được xây dựng trên nền tảng nâng cao năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời phát huy đồng bộ các động lực truyền thống và động lực mới, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững và lấy con người làm trung tâm của quá trình phát triển. So với các giai đoạn trước, điểm mới không nằm ở việc bổ sung một số động lực phát triển mới, mà ở sự thay đổi đồng thời quan điểm về nguồn lực, động lực, phương thức và mục tiêu tăng trưởng. Sự phát triển này phản ánh bước trưởng thành trong tư duy lý luận của Đảng về phát triển kinh tế. Đó là sự chuyển dịch từ tư duy tăng trưởng dựa chủ yếu vào huy động các yếu tố đầu vào sang tư duy phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực; từ tư duy coi tăng trưởng là mục tiêu trung tâm sang tư duy phát triển lấy con người làm trung tâm; từ tư duy quản lý phát triển sang tư duy kiến tạo phát triển và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia. Những chuyển biến đó đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước và thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế. Việc xác lập mô hình tăng trưởng mới không chỉ là yêu cầu của phát triển kinh tế, mà còn là bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về con đường phát triển đất nước trong thời kỳ mới, là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xác định mục tiêu, động lực và phương thức phát triển của mô hình tăng trưởng mới.

3. Kết luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế là một hệ thống nguyên lý và phương pháp luận về phát triển với ba nội dung cốt lõi: phát triển vì con người; phát triển lực lượng sản xuất trên cơ sở nâng cao năng suất và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; đồng thời giải quyết hài hòa các quan hệ trong quá trình phát triển. Hệ thống nguyên lý này tạo nên giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh và tiếp tục giữ vai trò định hướng đối với quá trình hoạch định đường lối phát triển của Đảng trong giai đoạn mới.

Ngày nhận bài: 10/8/2026; Ngày bình duyệt: 20/9/2026; Ngày quyết định đăng: 27/9/2026.

Email: lecaovinhspkthy@gmail.com

Tài liệu tham khảo

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

  • Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
  • Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
  • Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 7). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
  • Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 11). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
  • Hồ Chí Minh (2011e). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
  • Hồ Chí Minh (2011f). Toàn tập (Tập 14). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011g). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế và giá trị định hướng đối với việc xác lập mô hình tăng trưởng mới ở Việt Nam