Thực tiễn

Vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển du lịch di sản (từ thực tiễn chợ phiên Bắc Hà, Sín Chéng, tỉnh Lào Cai)

31/07/2026 09:25

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.7524
Tóm tắt: Bài viết phân tích yêu cầu bảo đảm vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển du lịch chợ phiên ở tỉnh Lào Cai, chủ yếu là các chợ Bắc Hà và Sín Chéng. Từ thực tế sự hiện diện của người dân trong du lịch chưa đủ để bảo đảm quyền tham gia, diễn giải và hưởng lợi. Bài viết đề xuất nhận diện nhóm chủ thể cụ thể, thiết kế cơ chế tham vấn, kiểm chứng diễn giải, giám sát tác động văn hóa - xã hội và tái đầu tư lợi ích cho điều kiện sống của di sản.

NGUYỄN THỊ THUYẾT
Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật - Đại học Quốc gia Hà Nội

cho bac ha
Chợ phiên Bắc Hà, tỉnh Lào Cai_Ảnh: VT

1. Mở đầu

Phát huy giá trị di sản và phát triển du lịch bền vững là những nội dung quan trọng trong đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa. Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực phát triển bền vững: “Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản v ă n hóa với phát triển kinh tế - xã hội. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2014); Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đưa văn hóa vào đời sống xã hội và phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn mới: “Xử lý hài hoà giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá các dân tộc với các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch bền vững ở các địa phương, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam” (Bộ Chính trị, 2020).

Đại hội XIII đặt nhiệm vụ khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 34). Đại hội XIV xác định “Xây dựng các thiết chế và tổ chức các hoạt động văn hóa theo hướng thiết thực, linh hoạt, lấy địa bàn cơ sở, người dân làm trung tâm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 98); “Khuyến khích tìm tòi, xây dựng và phát triển sáng tạo những mô hình, thiết chế văn hóa, thể thao và quản lý văn hóa có hiệu quả” (ĐCSVN, 2026, tr. 99)

Trong lĩnh vực du lịch, Nghị quyết số 08-NQ/TW, Luật Du lịch năm 2017 và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 đều đặt ra yêu cầu phát triển du lịch trên cơ sở tài nguyên văn hóa, sự tham gia của cộng đồng và lợi ích của địa phương (Bộ Chính trị, 2017; Quốc hội, 2017; Thủ tướng Chính phủ, 2020). Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Quyết định số 1719/QĐ-TTg nhấn mạnh mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội gắn với nâng cao đời sống, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc (Thủ tướng Chính phủ, 2021).

Chợ phiên vùng cao Lào Cai là một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù trong đời sống của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số. Vào ngày phiên, người dân từ các thôn bản xuống chợ để mua bán nông sản, vật nuôi, dược liệu, vải vóc, trang phục, hàng ăn, nông cụ và sản vật địa phương. Người bán mở hàng, trao đổi thông tin mùa vụ, giữ mối quen; người mua quan sát, chọn lựa, mặc cả, hỏi cách dùng, ngồi ăn hoặc gặp người quen. Những hoạt động ấy làm cho chợ phiên trở thành không gian văn hoá, nơi giao tiếp xã hội, trao đổi tri thức và tái tạo quan hệ cộng đồng, phục vụ sinh kế của người dân tộc.

Khi chợ phiên trở thành điểm đến du lịch, cộng đồng địa phương có thêm cơ hội sinh kế nhưng cũng đứng trước sức ép mới. Du lịch mở rộng thị trường cho dịch vụ, nghề thủ công, dược liệu, mua bán nhạc cụ, hướng dẫn, lưu trú và trải nghiệm văn hóa. Cùng lúc, khi chợ được đưa vào tuyến du lịch, chợ đêm, điểm chụp ảnh, truyền thông điểm đến hoặc chương trình biểu diễn, vai trò của cộng đồng có thể bị thu hẹp. Người dân vẫn xuất hiện trong chợ, vẫn bán hàng, vẫn mặc trang phục, vẫn thực hành văn hóa, nhưng chưa chắc được tham gia quyết định nội dung chia sẻ, cách tổ chức không gian, câu chuyện diễn giải và cơ chế phân phối lợi ích. Đặt ra vấn đề tổ chức thực hiện chính sách: phát triển du lịch phải chuyển từ huy động cộng đồng phục vụ du lịch sang bảo đảm cộng đồng là chủ thể tham gia, chủ thể diễn giải và chủ thể thụ hưởng.

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích định tính trên cơ sở dữ liệu thực địa tại Bắc Hà và Sín Chéng, kết hợp rà soát văn bản chính sách liên quan đến văn hóa, di sản và du lịch. Các dẫn chứng thực địa được ẩn danh, chỉ dùng khi làm rõ vấn đề chính sách và không nhằm mô tả địa chí hai chợ. Cách xử lý dữ liệu tập trung vào quan hệ giữa nhóm chủ thể, thực hành chợ phiên, cơ chế tham gia, quyền diễn giải và phân phối lợi ích trong bối cảnh phát triển du lịch.

Từ thực trạng trên, bài viết nêu vấn đề và phân tích yêu cầu bảo đảm vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển du lịch, qua hai trường hợp Bắc Hà và Sín Chéng ở Lào Cai. Chợ Bắc Hà cho thấy trạng thái chợ phiên đã tham gia sâu hơn vào cấu trúc điểm đến cuối tuần; Sín Chéng thuộc trạng thái chợ còn bám rõ nhịp cộng đồng nhưng đã bước vào giai đoạn chuẩn bị phát triển du lịch. Hai trường hợp không dùng để xếp hạng phát triển, mà để nhận diện những vấn đề đặt ra cho cơ chế bảo đảm cộng đồng tham gia, diễn giải, giám sát và hưởng lợi trong phát triển du lịch.

2. Nội dung

2.1. Cơ sở chính sách và cách tiếp cận cộng đồng chủ thể

Cách tiếp cận cộng đồng trong phát triển du lịch chợ phiên cần xuất phát từ tinh thần của chính sách văn hóa, di sản và du lịch của Đảng và Nhà nước. Luật Du lịch năm 2017 xác định tài nguyên du lịch gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa, đồng thời đặt phát triển du lịch trong mối quan hệ với bảo vệ tài nguyên, quyền lợi của tổ chức, cá nhân và cộng đồng tham gia hoạt động du lịch (Quốc hội, 2017). Luật Di sản văn hóa năm 2024 tiếp tục củng cố yêu cầu bảo vệ và phát huy giá trị di sản trong đời sống xã hội, trong đó di sản văn hóa phi vật thể gắn với cộng đồng, nhóm người và cá nhân thực hành, gìn giữ, trao truyền (Quốc hội, 2024).

Ở cấp độ quốc tế, Công ước 2003 của UNESCO nhấn mạnh vai trò của cộng đồng, nhóm và cá nhân trong việc tạo ra, bảo tồn, phát huy và trao truyền di sản văn hóa phi vật thể; các văn bản hướng dẫn thực hành của Công ước yêu cầu bảo đảm sự tham gia rộng rãi của chủ thể các di sản trong các chương trình phát triển và trong đó có các hoạt động du lịch liên quan đến di sản (UNESCO, 2003, 2022).

Với chợ phiên, cộng đồng không thể được hiểu như một khối đồng nhất. Trong cùng một phiên chợ có nhiều nhóm chủ thể: người đi chợ, người bán hàng ăn, người bán sản vật, người làm hoặc bán thổ cẩm, người bán dược liệu, người thực hành thổi khèn, thương lái trâu, hộ kinh doanh dịch vụ, hướng dẫn viên địa phương, ban quản lý chợ và chính quyền cơ sở. Mỗi nhóm có vị thế, lợi ích, khả năng tiếp cận thị trường và mức độ ảnh hưởng khác nhau. Cách nói “phát huy vai trò cộng đồng” sẽ thiếu cụ thể nếu không xác định cộng đồng nào, tham gia ở khâu nào, bằng cơ chế nào và hưởng lợi ra sao.

Phát huy giá trị di sản và phát triển du lịch bền vững là những nội dung quan trọng trong đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa.

Các nghiên cứu về chợ vùng cao Lào Cai đã chỉ ra rằng chợ phiên là không gian sinh kế, giao lưu xã hội và mạng lưới quan hệ, đồng thời là nơi vận hành những tri thức thực hành gắn với sản phẩm, giao thương, uy tín và quan hệ quen biết. Trần Hữu Sơn (2014), Bonnin (2014), Tạ Hữu Dực và Tạ Thị Tâm (2023) cho thấy chợ vùng cao gắn với lịch họp theo phiên, sản phẩm địa phương, sinh kế, quan hệ xã hội và mạng lưới giao thương. Qua các tiếp cận về di sản và du lịch, cộng đồng được nhìn như chủ thể tạo nghĩa, duy trì thực hành, tham gia quyết định và thụ hưởng lợi ích, thay vì chỉ là nguồn cung cấp hình ảnh văn hóa cho điểm đến (ICOMOS, 2022; Scheyvens, 1999; Smith, 2006).

Việc sử dụng khái niệm “cộng đồng chủ thể” nhằm nhấn mạnh vị trí của những nhóm người đang thực hành, duy trì, diễn giải, trao truyền và gắn nghĩa cho chợ phiên. Cách tiếp cận này không hoàn toàn đồng nhất cộng đồng với cư dân địa phương nói chung, cũng không xem cộng đồng như đối tượng được huy động cho du lịch. Cộng đồng chủ thể được nhìn qua bốn vai trò: tham gia xác định giá trị; tham gia thiết kế và tổ chức hoạt động du lịch; tham gia diễn giải và giám sát tác động; tham gia thụ hưởng lợi ích.

2.2. Vai trò cộng đồng trong phát triển du lịch chợ phiên Bắc Hà và Sín Chéng

a) Bắc Hà: điều tiết vai trò cộng đồng trong điểm đến du lịch đã định hình

Bắc Hà là trường hợp chợ phiên đã tham gia rõ vào cấu trúc điểm đến cuối tuần. Phiên Chủ nhật gắn với chợ trâu, chợ đêm, đền Bắc Hà, dinh Hoàng A Tưởng, dịch vụ lưu trú, hướng dẫn viên, hoạt động truyền thông và các tuyến trải nghiệm lân cận. Dữ liệu thực địa tại Bắc Hà ghi nhận tình trạng cuối tuần sau Tết: khách lên đông, phòng lưu trú khan hiếm, khu chợ và khu bến xe tắc nghẽn. Dẫn chứng này cho thấy khi chợ phiên trở thành điểm đến, quản lý du lịch không dừng ở quảng bá sản phẩm. Chính quyền cơ sở, ban quản lý chợ và ngành du lịch phải điều tiết không gian, giao thông, vệ sinh, trật tự, lợi ích và sự tham gia của nhiều nhóm chủ thể.

Cộng đồng tại Bắc Hà gồm nhiều nhóm khác nhau: Người bán hàng ăn tạo không gian ẩm thực và giao tiếp; người nấu rượu ngô, người bán dược liệu, người làm hoặc bán thổ cẩm cung cấp sản phẩm gắn với tri thức địa phương; người thực hành khèn và thương lái trâu giữ những kỹ năng, quy tắc giao thương và uy tín xã hội của chợ; hộ lưu trú, hướng dẫn viên địa phương và người tham gia tổ chức trải nghiệm kết nối chợ với chuỗi dịch vụ cuối tuần.

Du lịch tạo cơ hội sinh kế rõ hơn cho nhóm có vị trí kinh doanh tốt, có vốn, có khả năng giao tiếp với khách hoặc có liên kết với dịch vụ lưu trú và tuyến du lịch. Lợi ích ấy không tự động đến với người bán nhỏ theo phiên, người giữ tri thức nghề, người thực hành không có lịch biểu diễn ổn định hoặc người đi chợ như chủ thể tạo nên không khí chợ phiên.

Du lịch phát triển cũng làm xuất hiện nhiều chủ thể trung gian. Hướng dẫn viên giúp khách hiểu về rượu ngô, thắng cố, thổ cẩm, dược liệu, chợ trâu, Đền Bắc Hà và dinh Hoàng A Tưởng. Nhà quản lý tổ chức không gian, điều phối trật tự và bảo đảm vệ sinh. Doanh nghiệp, cơ sở lưu trú và truyền thông điểm đến định hình cách khách nhìn về chợ. Các chủ thể này cần thiết cho phát triển du lịch, nhưng nếu thiếu cơ chế cộng đồng tham gia, câu chuyện về chợ dễ được kể thay bởi những người không trực tiếp duy trì thực hành.

Dữ liệu thực địa tại Bắc Hà cho thấy phát triển sản phẩm du lịch văn hóa không nên dàn trải, mà cần dựa vào những không gian cộng đồng còn vận hành trong đời sống, như chợ, nhà văn hóa thôn và một số hộ gia đình có khả năng đón tiếp, giới thiệu thực hành. Gợi ý này đặt ra yêu cầu chính sách: Sản phẩm du lịch văn hóa phải dựa vào không gian cộng đồng còn sống, có người thực hành và có cơ chế để cộng đồng tham gia diễn giải.

b) Sín Chéng: thiết kế sớm cơ chế cộng đồng khi du lịch đang hình thành

Sín Chéng thể hiện một trạng thái khác. Chợ họp vào thứ Tư, chủ yếu dựa vào nhịp sinh hoạt cộng đồng qua hàng ăn, dược liệu, thổ cẩm, nông cụ, sản vật địa phương và các quan hệ mua bán quen biết. Dữ liệu thực địa tại Sín Chéng cho thấy người bán hàng xén không gắn với một điểm chợ cố định, mà di chuyển theo lịch phiên, duy trì nguồn hàng và mối quen ở nhiều chợ khác nhau. Điều này cho thấy chợ Sín Chéng không phải một điểm bán đơn lẻ, mà là một nút trong mạng sinh kế liên vùng, nơi lịch họp chợ, tuyến di chuyển, quan hệ quen biết và khả năng tiếp cận người mua cùng tạo nên điều kiện vận hành của sinh kế chợ phiên.

Ở Sín Chéng, nhiều thực hành vẫn gắn với công dụng đời sống hơn là trình diễn du lịch. Người bán hạt dổi giải thích cách giã và cách dùng với món ăn; người bán dược liệu hoặc sản vật địa phương nói về tên gọi, công dụng, nguồn hàng và kinh nghiệm sử dụng. Người bán hàng ăn tính lượng bánh, lượng thịt và số khách theo phiên; người làm hoặc bán thổ cẩm trao đổi mẫu, chất liệu, công lao động và khả năng đặt hàng.

Những lời giải thích ấy trước hết phục vụ quan hệ mua bán trong đời sống, rồi mới trở thành nguồn thông tin cho du khách. Du khách có thể quan sát, hỏi chuyện, chụp ảnh, nhưng nhịp chợ chưa bị chi phối hoàn toàn bởi nhu cầu xem và tiêu dùng nhanh.

Chính trạng thái đang mở của Sín Chéng tạo ra cơ hội chính sách. Chính quyền địa phương và ngành văn hóa - du lịch có thể nhận diện nhóm chủ thể cộng đồng, bản đồ không gian chợ, tuyến di chuyển, vị trí bán hàng nhỏ, nhóm thực hành tri thức và khả năng chịu tác động trước khi mở rộng sản phẩm. Nếu cơ chế tham gia, quy tắc chụp ảnh, quy tắc trải nghiệm, cơ chế hưởng lợi và kênh phản hồi được thiết kế từ đầu, du lịch có thể hỗ trợ sinh kế và sức sống của chợ phiên. Nếu các khuôn khổ điểm đến áp vào sau khi mô hình đã định sẵn, cộng đồng sẽ phải thích nghi trong vị thế yếu hơn. Sín Chéng vì vậy không nên được nhìn như “Bắc Hà tương lai” theo nghĩa sao chép mô hình, mà cần được xem như một chợ cộng đồng đang mở, nơi chính sách còn cơ hội đi trước để bảo đảm vai trò chủ thể của người dân.

2.3. Những vấn đề đặt ra đối với bảo đảm vai trò chủ thể cộng đồng

a) Cộng đồng dễ bị gọi chung, trong khi vị thế và lợi ích khác nhau

Trong phát triển du lịch chợ phiên, “cộng đồng” thường được dùng như một danh từ bao quát. Cách gọi này thuận tiện về quản lý, nhưng dễ che khuất khác biệt bên trong. Một hộ kinh doanh lưu trú, một người bán hàng ăn, một phụ nữ mang ít sản vật từ bản xuống, một nghệ nhân khèn, một người bán dược liệu, một thương lái trâu và một cán bộ ban quản lý chợ đều có quan hệ với chợ phiên, nhưng không có cùng quyền quyết định, nguồn lực, khả năng tiếp cận khách và lợi ích. Nếu chính sách chỉ mời “đại diện cộng đồng” chung chung, những nhóm yếu thế hơn dễ bị bỏ qua.

Ở Bắc Hà, nhóm có vị trí bán hàng tốt, có vốn, biết giao tiếp với khách, có liên kết với lưu trú hoặc tuyến du lịch dễ tiếp cận lợi ích du lịch hơn. Người bán nhỏ, người chỉ mang sản vật theo phiên, người giữ tri thức nhưng không đứng ở khâu bán hàng hoặc người thực hành không thường xuyên biểu diễn có thể tạo nên sức hấp dẫn văn hóa nhưng hưởng lợi ít hơn.

Ở Sín Chéng, do hoạt động du lịch mới ở giai đoạn đầu, sự khác biệt này chưa hiện rõ như ở Bắc Hà, nhưng nếu không thiết kế cơ chế từ đầu, quá trình phát triển có thể lặp lại tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận không gian, thông tin và lợi ích.

b) Cộng đồng có thể tham gia thực hành nhưng chưa chắc tham gia quyết định

Một vấn đề phổ biến trong phát triển du lịch cộng đồng là người dân được huy động để bán hàng, biểu diễn, mặc trang phục, mở nhà đón khách hoặc xuất hiện trong hoạt động quảng bá, nhưng không tham gia thực chất vào quyết định. Họ tham gia ở khâu thực hiện, trong khi các quyết định về sản phẩm, kịch bản trải nghiệm, không gian chợ, giá dịch vụ, quy tắc chụp ảnh, nội dung diễn giải và phân phối lợi ích lại do chủ thể khác quyết định. Khi đó, cộng đồng có mặt trong du lịch nhưng chưa phải chủ thể của quá trình phát triển.

Điểm này cần được nhìn trực tiếp từ đặc điểm di sản chợ phiên. Di sản ở đây không nằm trong một tiết mục cố định. Di sản nằm trong bếp phở, quầy dược liệu, cuộn thổ cẩm, bãi trâu, tiếng khèn, lời mặc cả, hỏi tin, đi chợ chơi và quan hệ quen biết. Nếu các thực hành ấy được đưa vào tuyến du lịch mà người thực hành không tham gia xác định phần nào được chia sẻ, chia sẻ trong bối cảnh nào và nhận lợi ích ra sao, du lịch sẽ làm nghèo đời sống chợ dù bề ngoài có nhiều hoạt động văn hóa.

c) Quyền diễn giải dễ chuyển sang chủ thể trung gian

Khách du lịch đến chợ thường cần được giải thích về nguồn gốc sản phẩm, cách dùng dược liệu, cách phân biệt thổ cẩm, ý nghĩa khèn, vai trò chợ trâu hoặc câu chuyện của một món ăn. Nhu cầu này làm cho hướng dẫn viên, doanh nghiệp, truyền thông và nhà quản lý giữ vai trò quan trọng. Vấn đề không nằm ở sự tham gia của các chủ thể trung gian, mà ở việc họ có kể thay hoàn toàn cộng đồng hay không. Nếu câu chuyện về chợ chỉ được xây dựng từ ngôn ngữ quảng bá, di sản dễ bị rút gọn thành hình ảnh đẹp, món ăn lạ, trang phục bắt mắt và cảnh chụp ảnh.

Người bán dược liệu có quyền nói về nguồn gốc và giới hạn tri thức của mình. Người làm thổ cẩm có quyền giải thích công lao động, chất liệu, hoa văn, hàng thêu tay và hàng công nghiệp. Nghệ nhân khèn có quyền chọn bài, chọn bối cảnh và mức độ chia sẻ. Người đi chợ có quyền không bị biến thành cảnh nền cho du khách. Tinh thần của du lịch di sản có trách nhiệm là bảo vệ di sản gắn với khả năng chống chịu, tiếng nói và sự tham gia của cộng đồng (ICOMOS, 2022). Với chợ phiên, bảo đảm vai trò chủ thể cộng đồng phải bao gồm quyền diễn giải và quyền lựa chọn chia sẻ.

d) Quyền hưởng lợi không tự động đi cùng đóng góp văn hóa

Du lịch tạo ra thị trường mới, nhưng thị trường không tự động phân phối lợi ích công bằng. Một điểm đến có thể tăng khách và doanh thu, nhưng người trực tiếp duy trì thực hành văn hóa chưa chắc là người hưởng lợi chính. Chợ phiên hấp dẫn du khách nhờ bầu không khí cộng đồng, trang phục, món ăn, dược liệu, chợ trâu, thổ cẩm, khèn, lời mặc cả và quan hệ mua bán. Tuy nhiên, lợi ích có thể tập trung nhiều hơn vào nhóm có lợi thế, như trên đã phân tích. Scheyvens (1999) cho rằng trao quyền cộng đồng trong du lịch phải được xem xét ở cả khía cạnh kinh tế, xã hội và chính trị, trong đó quyền kiểm soát và phân phối lợi ích giữ vị trí quan trọng.

Từ góc độ khai thác di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trong phát triển du lịch, và từ thực hiện chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vấn đề sinh kế trong du lịch chợ phiên không nên dừng ở việc có thêm dịch vụ hay không và cần quan tâm vấn đề nhóm nào được trả công khi tri thức/kỹ năng được dùng để tạo sản phẩm du lịch, và phần lợi ích nào quay lại cho không gian chợ, an ninh, an toàn, truyền nghề và năng lực cộng đồng. Đây là nội dung cần được bổ sung vào khung đánh giá phát triển du lịch địa phương.

e) Thiếu chỉ báo giám sát tác động văn hóa - xã hội

Trong quản lý du lịch, các chỉ số thường được chú ý là lượng khách, doanh thu, cơ sở lưu trú, số sản phẩm, sự kiện, hạ tầng và truyền thông. Những chỉ số này cần thiết, nhưng chưa đủ để đánh giá phát triển du lịch chợ phiên. Nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu thị trường, địa phương khó phát hiện sớm việc cộng đồng bị thu hẹp quyền tham gia, người thực hành không được hưởng lợi, câu chuyện văn hóa được kể thay hoặc nhịp sinh hoạt chợ bị lấn át.

Các chỉ báo văn hóa - xã hội không nên biến di sản sống thành bảng điểm cứng, nhưng cần giúp nhà quản lý phát hiện sớm tác động. Có thể theo dõi số nhóm chủ thể được tham vấn; mức độ tham gia của người thực hành vào nội dung diễn giải; cơ chế thù lao và chia sẻ lợi ích; khả năng tiếp tục sử dụng không gian chợ của người bán nhỏ; mức độ đồng thuận của người dân; quy tắc chụp ảnh và ứng xử của khách; và việc truyền dạy các thực hành liên quan đến chợ. Đây là cách cụ thể hóa chủ trương phát triển văn hóa trong phát triển bền vững.

2.4. Một số kiến nghị hoàn thiện cơ chế bảo đảm vai trò chủ thể cộng đồng trong du lịch di sản

Một là, cụ thể hóa vai trò cộng đồng trong kế hoạch phát triển du lịch di sản. Cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ quan văn hóa và cơ quan du lịch cần đưa nội dung này vào kế hoạch phát triển du lịch cấp xã. Kế hoạch cần xác định rõ cộng đồng tham gia ở những khâu nào: xác định giá trị di sản, như chợ phiên,..; lựa chọn thực hành có thể chia sẻ; góp ý quy hoạch không gian; tham gia xây dựng nội dung diễn giải; giám sát tác động; và thụ hưởng lợi ích. Việc tham gia của cộng đồng cần được xem là điều kiện tổ chức phát triển du lịch di sản, không phải bước vận động bổ sung sau khi sản phẩm đã hoàn thành.

Hai là, phân nhóm chủ thể khi tham vấn và thiết kế sản phẩm. Chính quyền địa phương và ban quản lý chợ cần tránh mời “đại diện cộng đồng” theo cách hình thức. Đối với mỗi điểm du lịch di sản, cần lập danh sách nhóm chủ thể đang giữ thực hành và chịu tác động: Người bán sản vật, người làm thổ cẩm, người bán dược liệu, nghệ nhân khèn, hướng dẫn viên địa phương... Mỗi nhóm cần được hỏi về nhu cầu, giới hạn chia sẻ, vị trí sử dụng không gian và lợi ích mong muốn. Cách làm này giúp chính sách thể hiện sự khác biệt bên trong cộng đồng, từ đó hạn chế tình trạng nhóm có tiếng nói yếu đứng ngoài quá trình phát triển.

Ba là, xây dựng cơ chế diễn giải có sự tham gia của người thực hành. Hướng dẫn viên, doanh nghiệp và truyền thông nên chỉ giữ vai trò cầu nối. Nội dung giới thiệu về thực hành di sản thổ cẩm, dược liệu, khèn, đi chơi chợ và các tập quán giao thương… cần được kiểm chứng với người thực hành trước khi đưa vào thuyết minh, ấn phẩm hoặc truyền thông điểm đến.

Cơ quan văn hóa địa phương có thể phối hợp với ban quản lý di tích, địa điểm di sản và cộng đồng xây dựng nhóm “người kể chuyện”, điểm diễn giải nhỏ, quy tắc hỏi chuyện - chụp ảnh và nguyên tắc trả thù lao khi người dân tham gia diễn giải. Làm như vậy sẽ bảo đảm quyền kể chuyện của cộng đồng, đồng thời nâng chất lượng sản phẩm du lịch văn hóa.

Bốn là, bảo đảm lợi ích du lịch quay lại nhóm duy trì thực hành. Cần có cơ chế thù lao minh bạch cho người thực hành khi tham gia diễn giải, trình diễn, truyền dạy hoặc đón khách; hỗ trợ vị trí thực hành phù hợp; ưu tiên sản phẩm địa phương trong chuỗi trải nghiệm; và dành một phần nguồn thu từ sự kiện hoặc dịch vụ để tái đầu tư cho không gian di sản, truyền nghề và nâng cao năng lực cộng đồng. Chính sách này không nhằm bao cấp du lịch, mà nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa điểm đến, doanh nghiệp, chính quyền và nhóm người trực tiếp tạo nên giá trị văn hóa.

Năm là, đưa tiêu chí tham gia và thụ hưởng của cộng đồng vào đánh giá phát triển du lịch. Bên cạnh các chỉ tiêu về khách, doanh thu, hạ tầng và sản phẩm, cơ quan quản lý cần bổ sung chỉ báo về cộng đồng: nhóm nào được tham vấn; ai tham gia diễn giải; ai được trả công; lợi ích quay lại cho không gian chợ và truyền nghề ra sao; người dân có đồng thuận với cách tổ chức tour, sự kiện, chợ đêm hay không. Mức độ tham gia, đồng thuận và thụ hưởng của cộng đồng cần trở thành thước đo hiệu quả chính sách, không phải nội dung phụ sau khi sản phẩm du lịch đã hoàn thành.

Sáu là, tăng vai trò của cấp ủy, chính quyền cơ sở và ban quản lý trong điều phối lợi ích. Phát triển du lịch di sản liên quan đến nhiều chủ thể: ngành văn hóa, ngành du lịch, thương mại, chính quyền xã, phường, ban quản lý di tích, doanh nghiệp, hướng dẫn viên và cộng đồng. Nếu không có cơ chế phối hợp rõ vai, du lịch dễ phát triển theo từng nhóm lợi ích. Cấp ủy, chính quyền cơ sở cần giữ vai trò điều phối, bảo đảm trật tự, an toàn, đồng thời bảo vệ vị trí của người trực tham gia trực tiếp và gián tiếp, quyền tiếp cận không gian, tiếng nói của người thực hành và kênh phản hồi của người dân. Trọng tâm là thiết lập cơ chế cộng đồng trước khi du lịch mở rộng và điều tiết mạng chủ thể khi hoạt động du lịch đã phát triển.

3. Kết luận

Phát triển du lịch di sản, trường hợp cụ thể là chợ phiên Bắc Hà và Sín Chéng ở vùng cao Lào Cai là một hướng cụ thể để thực hiện chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển du lịch bền vững và nâng cao đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Từ thực tiễn Lào Cai, chủ yếu qua khảo sát chợ Bắc Hà và Sín Chéng, đề xuất chuyển trọng tâm chính sách từ “huy động cộng đồng tham gia du lịch” sang “bảo đảm cộng đồng tham gia quyết định, diễn giải, giám sát và thụ hưởng”. Cộng đồng giữ vai trò tạo dựng, duy trì và trao truyền giá trị di sản; bản sắc du lịch chỉ có nền vững khi vai trò cộng đồng được tôn trọng. Khi vai trò cộng đồng được bảo đảm bằng cơ chế cụ thể, phát triển du lịch chợ phiên mới có thể gắn với sinh kế, đồng thuận xã hội, sức sống văn hóa và hiệu quả thực hiện chính sách ở cơ sở.

_________________

Ngày nhận bài: 30/6/2026; Ngày bình duyệt: 24/7/2026; Ngày quyết định đăng: 28/7/2026. Email tác giả: thuyetnt@hou.edu.vn

Tài liệu tham khảo

Ban Chấp hành Trung ương (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Bộ Chính trị (2017). Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Bộ Chính trị (2020). Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

Bonnin, C. (2014). Những trao đổi địa phương và buôn bán trâu tại chợ ở vùng cao Việt Nam (tỉnh Lào Cai). Tạp chí Dân tộc học, (3), 72-83.

ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

ICOMOS (2022). ICOMOS International Charter for Cultural Heritage Tourism (2022): Reinforcing cultural heritage protection and community resilience through responsible and sustainable tourism management. ICOMOS.

Quốc hội (2017). Luật Du lịch số 09/2017/QH14.

Quốc hội (2024). Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15.

Scheyvens, R. (1999). Ecotourism and the empowerment of local communities. Tourism Management, 20(2), 245-249. https://doi.org/10.1016/S0261-5177(98)00069-7

Smith, L. (2006). Uses of heritage. Routledge.

Tạ Hữu Dực, & Tạ Thị Tâm. (2023). Tính di động trong chiến lược sinh kế của người Hmông mua bán trâu ở một chợ vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, 11(191), 95-103.

Thủ tướng Chính phủ. (2020). Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.

Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025.

Trần Hữu Sơn. (2014). Hiệu quả hoạt động của chợ vùng cao Lào Cai dưới góc nhìn nhân học. Tạp chí Dân tộc học, (3), 61-71.

UNESCO. (2003). Convention for the safeguarding of the intangible cultural heritage. UNESCO.

UNESCO. (2022). Basic Texts of the 2003 Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage: 2022 Edition. UNESCO.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển du lịch di sản (từ thực tiễn chợ phiên Bắc Hà, Sín Chéng, tỉnh Lào Cai)
    POWERED BY