Thực tiễn

Vai trò của ý thức pháp luật trong phát triển con người toàn diện và yêu cầu đối với giáo dục pháp luật

11/09/2026 13:34

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5196
Tóm tắt: Ý thức pháp luật được Đảng ta xác định là một thành tố cốt lõi trong hệ giá trị và chuẩn mực phát triển con người Việt Nam toàn diện. Bài viết tập trung luận giải cơ chế tác động của ý thức pháp luật đối với việc củng cố nền tảng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và tạo dựng sức mạnh nội sinh để phát triển bền vững. Từ thực tiễn bối cảnh chuyển đổi số, bài viết đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới công tác giáo dục pháp luật. Mục tiêu hướng tới là hình thành những thế hệ công dân có bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm và văn hóa ứng xử chuẩn mực trên cả không gian thực lẫn không gian mạng, đưa dân tộc vững vàng bước vào kỷ nguyên mới.

ThS PHẠM THỊ TÂM
Trường Đại học Tây Nguyên

s-aicmscdn.vietnamhoinhap.vn-vnhn-media-25-11-15-_dua-phap-luat-den-voi-nguoi-dan-de-phap-luat-di-vao-cuoc-song_69185611cf0d8.jpg
Cán bộ Công an xã Đường Hoa, tỉnh Quảng Ninh tuyên truyền Luật Hôn nhân và gia đình đến người dân. Ảnh: VNHN

1. Mở đầu

Trong chiến lược phát triển đất nước, Đảng ta luôn xác định con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể và mục tiêu của sự phát triển. Phát triển con người toàn diện không chỉ đáp ứng yêu cầu nhân văn mà còn là điều kiện quan trọng để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước và tạo động lực cho phát triển nhanh, bền vững. Trong hệ giá trị con người Việt Nam được xác định trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, “thượng tôn pháp luật” được nhấn mạnh cùng với các giá trị đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng số. Điều đó cho thấy, ý thức pháp luật ngày càng được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với việc hình thành nhân cách, trách nhiệm công dân và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, nâng cao ý thức pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với việc định hướng nhận thức, điều chỉnh hành vi và hình thành văn hóa ứng xử có trách nhiệm của mỗi cá nhân. Ý thức pháp luật không chỉ góp phần bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội mà còn tạo nền tảng để phát huy quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, củng cố niềm tin vào pháp luật và phát huy sức mạnh nội sinh cho phát triển bền vững.

2. Nội dung

2.1. Cơ sở lý luận nghiên cứu vai trò của ý thức pháp luật

Pháp luật là một trong những phương tiện quan trọng để nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo đảm trật tự, kỷ cương và định hướng hành vi của các chủ thể theo những chuẩn mực chung. Hiệu lực và hiệu quả của pháp luật phụ thuộc vào chất lượng của hệ thống pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật và thái độ và hành vi của các chủ thể đối với pháp luật. Bởi vậy, ý thức pháp luật giữ vị trí quan trọng trong việc đưa pháp luật vào đời sống, bảo đảm pháp luật được nhận thức, tôn trọng và thực hiện trên thực tế.

Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh đời sống pháp lý và những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Ý thức pháp luật bao gồm hệ thống tri thức, quan điểm, tư tưởng, tình cảm, niềm tin và sự đánh giá của con người về pháp luật, về tính đúng đắn, công bằng của pháp luật cũng như về hành vi xử sự trong đời sống pháp lý. Vì vậy, ý thức pháp luật không chỉ biểu hiện ở sự hiểu biết các quy định pháp luật mà còn thể hiện ở thái độ, niềm tin và khả năng định hướng hành vi của các chủ thể theo pháp luật. Từ đó, có thể thấy ý thức pháp luật vừa phản ánh trình độ nhận thức và thái độ của con người đối với pháp luật, vừa có khả năng định hướng, điều chỉnh hành vi của con người trong các quan hệ xã hội.

Trước hết, ý thức pháp luật định hướng nhận thức và điều chỉnh hành vi của con người theo các chuẩn mực pháp lý. Thông qua tri thức, tình cảm, niềm tin và thái độ đối với pháp luật, mỗi cá nhân nhận thức đúng quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình; từ đó hình thành thái độ tôn trọng pháp luật, tự giác chấp hành và chủ động điều chỉnh hành vi phù hợp với các quy định pháp luật. “Trình độ nhận thức càng cao, ý thức pháp luật ngày càng sâu sắc, lan tỏa trong toàn xã hội thì những văn bản quy phạm pháp luật...” (Đào Duy Tấn, 2003, tr.26). Như vậy, ý thức pháp luật góp phần nâng cao khả năng nhận thức, tự điều chỉnh hành vi và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mỗi cá nhân.

Ý thức pháp luật không chỉ dừng lại ở sự nhận biết các quy định pháp luật mà còn thể hiện ở khả năng con người tự nhận thức, tự đánh giá và tự điều chỉnh hành vi trên cơ sở các chuẩn mực pháp lý. Khi tri thức pháp luật được chuyển hóa thành tình cảm, niềm tin và thái độ đúng đắn, pháp luật từng bước được nội tâm hóa thành những chuẩn mực định hướng hành vi. Đây là cơ sở để con người thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách tự giác, đồng thời tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác.

Thứ hai, ý thức pháp luật góp phần xây dựng môi trường xã hội ổn định, kỷ cương, tạo điều kiện cho con người phát triển. Khi các cá nhân và cộng đồng có nhận thức đúng đắn, thái độ tôn trọng và hành vi tuân thủ pháp luật, các quan hệ xã hội được điều chỉnh theo hướng ổn định, lành mạnh; các hành vi vi phạm pháp luật được hạn chế, trật tự và an toàn xã hội được bảo đảm. Đồng thời, sự phát triển kinh tế - xã hội tạo điều kiện nâng cao trình độ dân trí và ý thức pháp luật của người dân. Vì vậy, ý thức pháp luật vừa chịu sự tác động của điều kiện kinh tế - xã hội, vừa góp phần thúc đẩy sự ổn định và phát triển của xã hội. “Khi con người có ý thức pháp luật cao sẽ nhận thấy những vấn đề đặt ra trong đời sống thực tiễn, từ đó đòi hỏi pháp luật phải điều chỉnh, tạo điều kiện cho pháp luật ngày càng hoàn thiện, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho kinh tế - xã hội phát triển” (Đào Duy Tấn, 2003, tr.27).

Mối quan hệ này cho thấy ý thức pháp luật không chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển của cá nhân mà còn tác động đến môi trường xã hội trong đó con người tồn tại và phát triển. Một môi trường xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật, trong đó các chủ thể tôn trọng và thực hiện các chuẩn mực pháp lý, sẽ tạo điều kiện để các quyền và lợi ích hợp pháp của con người được bảo đảm, đồng thời tạo lập những điều kiện xã hội cần thiết cho sự phát triển của mỗi cá nhân.

Thứ ba, ý thức pháp luật góp phần xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thực thi pháp luật không chỉ phụ thuộc vào tính đồng bộ, khả thi của hệ thống pháp luật mà còn phụ thuộc vào ý thức pháp luật của cán bộ, công chức và nhân dân. Ý thức pháp luật được nâng cao góp phần bảo đảm việc thực hiện pháp luật nghiêm minh, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động quản lý nhà nước, kiểm sát, xét xử, thi hành án và thực hiện các quyết định pháp lý. “Ý thức pháp luật cao thì việc áp dụng pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước, kiểm sát, xét xử, thi hành án và ban hành các quyết định pháp lý khác càng chính xác, nghiêm minh hơn và hiệu quả đối với xã hội sẽ cao hơn” (Đào Duy Tấn, 2003, tr.28).

Ở phương diện này, ý thức pháp luật vừa là điều kiện bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm minh, vừa góp phần nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong đời sống nhà nước và xã hội. Khi pháp luật được nhận thức, tôn trọng và thực hiện, các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền có cơ sở được hiện thực hóa trong thực tiễn; đồng thời, con người có điều kiện phát huy quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân và tham gia tích cực vào đời sống xã hội.

Thứ tư, ý thức pháp luật góp phần hình thành văn hóa pháp lý và lối sống thượng tôn pháp luật. Khi pháp luật được nhận thức đầy đủ, được tôn trọng và tự giác thực hiện, các chuẩn mực pháp lý từng bước được nội tâm hóa thành niềm tin, thái độ và thói quen ứng xử của các chủ thể. Ý thức pháp luật vì vậy là cơ sở bên trong của văn hóa pháp luật, đồng thời được củng cố thông qua thực tiễn thực hiện pháp luật. Sự phát triển của văn hóa pháp luật góp phần hình thành môi trường xã hội trong đó con người biết tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, có trách nhiệm với cộng đồng và chủ động thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

Thứ năm, ý thức pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục pháp luật. Ý thức pháp luật của cá nhân được hình thành thông qua một quá trình tác động của nhiều yếu tố, trong đó giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng. “Sự hình thành ý thức pháp luật cá nhân của con người là sản phẩm của một quá trình phức tạp. Trong đó có nhiều yếu tố ảnh hưởng và cùng tác động” (Viện Khoa học pháp lý, 1994, tr. 11). Giáo dục pháp luật là hoạt động có mục đích, có hệ thống và thường xuyên nhằm trang bị tri thức pháp lý, hình thành thái độ đúng đắn đối với pháp luật và hướng con người đến hành vi tự giác tuân thủ pháp luật. Qua đó, giáo dục pháp luật tạo tiền đề để chuyển hóa tri thức pháp luật thành tình cảm, niềm tin, thái độ và thói quen xử sự phù hợp với pháp luật. Vì vậy, giáo dục pháp luật không chỉ góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật mà còn có ý nghĩa đối với việc hình thành nhân cách, trách nhiệm công dân và năng lực tự điều chỉnh hành vi của con người.

Từ góc độ phát triển con người, ý thức pháp luật vừa là một phương diện phản ánh trình độ phát triển của con người, vừa là nhân tố góp phần định hướng và thúc đẩy quá trình phát triển đó. Con người phát triển không chỉ ở phương diện tri thức, năng lực, thể chất hay đời sống vật chất mà còn ở khả năng làm chủ bản thân, thực hiện trách nhiệm công dân, tôn trọng các chuẩn mực xã hội và tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng. Trong quá trình đó, ý thức pháp luật giúp con người nhận thức đúng quyền và nghĩa vụ, hình thành thái độ tôn trọng pháp luật, tự giác điều chỉnh hành vi và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như của người khác.

Quan điểm về phát triển con người toàn diện đã được Đảng ta nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội XIII: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh” (ĐCSVN, 2021, tr.47). Quan điểm này cho thấy phát triển con người toàn diện phải được đặt trong mối quan hệ với sự phát triển đồng bộ của các lĩnh vực kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa và xã hội. Trong đó, ý thức pháp luật có vị trí quan trọng bởi nó tác động trực tiếp đến khả năng nhận thức, lựa chọn và điều chỉnh hành vi của con người, đồng thời góp phần tạo dựng môi trường xã hội ổn định, kỷ cương và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các chủ thể.

Đến Đại hội XIV, yêu cầu phát triển con người tiếp tục được đặt trong mối quan hệ với những phẩm chất và năng lực phù hợp với điều kiện phát triển mới. Văn kiện xác định mục tiêu: “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số” (ĐCSVN, 2026, tr.99). Việc đặt “thượng tôn pháp luật” trong hệ thống những phẩm chất, năng lực của con người Việt Nam cho thấy ý thức và hành vi pháp luật có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển con người. Ở đây, ý thức pháp luật không chỉ được hiểu là sự hiểu biết các quy định pháp luật mà còn bao hàm khả năng tự giác tuân thủ, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân và chủ động điều chỉnh hành vi theo pháp luật.

Trong điều kiện xã hội số, vai trò của ý thức pháp luật đối với phát triển con người càng được thể hiện rõ. Sự phát triển của công nghệ số làm xuất hiện những dạng thức mới của các quan hệ xã hội, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với khả năng nhận thức, tự điều chỉnh và tự bảo vệ của con người. Ý thức pháp luật không chỉ giúp cá nhân nhận biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ trong đời sống thực mà còn góp phần định hướng hành vi trên không gian mạng, giúp con người nhận diện và ứng xử phù hợp trước thông tin sai sự thật, các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, tội phạm công nghệ cao và những nguy cơ khác trong môi trường số. Ở phương diện này, ý thức pháp luật trở thành một bộ phận của năng lực thích ứng xã hội, góp phần bảo đảm an ninh con người và phát triển con người bền vững.

Từ những phân tích trên, có thể khái quát rằng ý thức pháp luật là một trong những cơ sở quan trọng của quá trình phát triển con người. Ý thức pháp luật vừa phản ánh trình độ nhận thức, tình cảm, niềm tin và thái độ của con người đối với pháp luật, vừa định hướng hành vi, góp phần hình thành trách nhiệm công dân, xây dựng văn hóa pháp lý, củng cố nhà nước pháp quyền và tạo lập môi trường xã hội ổn định cho con người phát triển. Đồng thời, ý thức pháp luật được hình thành và phát triển dưới tác động của nhiều yếu tố, trong đó giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa tri thức pháp luật thành tình cảm, niềm tin, thái độ và hành vi tự giác. Đây là cơ sở lý luận để tiếp tục phân tích vai trò của ý thức pháp luật trong phát triển con người toàn diện và xác định những yêu cầu đặt ra đối với giáo dục pháp luật trong bối cảnh mới.

2.2. Vai trò của giáo dục pháp luật trong phát triển con người toàn diện

Nếu ý thức pháp luật là một thuộc tính của ý thức xã hội và là nhân tố cấu thành nhân cách công dân, thì giáo dục pháp luật chính là phương thức cơ bản để hình thành, phát triển và hiện thực hóa ý thức pháp luật trong đời sống xã hội. Nói cách khác, giữa giáo dục pháp luật và ý thức pháp luật tồn tại mối quan hệ biện chứng: giáo dục pháp luật tạo tiền đề cho sự hình thành ý thức pháp luật, còn ý thức pháp luật là kết quả đồng thời là thước đo hiệu quả của giáo dục pháp luật. Từ mối quan hệ biện chứng đó, có thể thấy vai trò của giáo dục pháp luật trong phát triển con người toàn diện được biểu hiện trên nhiều phương diện, từ hình thành ý thức pháp luật, chuyển hóa tri thức thành niềm tin và hành vi pháp lý đến xây dựng nhân cách công dân, văn hóa pháp luật và hiện thực hóa mục tiêu phát triển con người theo tinh thần Đại hội XIV.

Thứ nhất, giáo dục pháp luật là con đường cơ bản hình thành ý thức pháp luật. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật là kết quả của quá trình con người tiếp thu, lĩnh hội và nội tâm hóa các giá trị pháp lý trong đời sống xã hội. Vì vậy, giáo dục pháp luật giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành nhận thức pháp luật, trang bị cho cá nhân hệ thống tri thức về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý, qua đó định hướng hành vi phù hợp với các chuẩn mực của nhà nước và xã hội. Đồng thời, giáo dục pháp luật còn là cầu nối giữa pháp luật với đời sống xã hội, giúp con người nhận thức đúng vị trí của mình trong mối quan hệ với cộng đồng và nhà nước.“Giáo dục pháp luật giữ vai trò là nền tảng trong việc hình thành nhận thức về trách nhiệm công dân. Trách nhiệm công dân chỉ có thể được thực hiện một cách tự giác và hiệu quả khi cá nhân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật” (Lê Thị Hồng, 2026, tr.89).

Thứ hai, giáo dục pháp luật thực hiện quá trình chuyển hóa từ tri thức pháp luật thành niềm tin và hành vi pháp lý. Mục tiêu của giáo dục pháp luật không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt tri thức pháp lý mà còn hướng đến quá trình chuyển hóa tri thức thành niềm tin pháp luật và từ niềm tin thành hành vi pháp lý tự giác. Khi pháp luật trở thành giá trị được cá nhân tự nguyện tiếp nhận, việc tuân thủ pháp luật không còn xuất phát từ sự cưỡng chế bên ngoài mà trở thành nhu cầu tự thân của chủ thể. Chính quá trình này tạo nên bước chuyển biến về chất trong giáo dục pháp luật, góp phần hình thành lối sống thượng tôn pháp luật. “Giáo dục pháp luật nếu được tổ chức khoa học và phù hợp, sẽ giúp cá nhân nhận thức được giá trị của pháp luật trong việc bảo vệ quyền con người, bảo đảm công bằng xã hội và duy trì trật tự, kỷ cương. Khi niềm tin pháp luật được củng cố, cá nhân sẽ có thái độ tích cực đối với việc chấp hành pháp luật” (Lê Thị Hồng, 2026, tr.90).

Thứ ba, giáo dục pháp luật góp phần hình thành nhân cách công dân và văn hóa pháp luật. Dưới góc độ triết học, nhân cách là sự thống nhất giữa nhận thức, niềm tin, giá trị và hành vi của con người trong các quan hệ xã hội. Vì vậy, giáo dục pháp luật không chỉ trang bị tri thức pháp lý mà còn góp phần hình thành nhân cách pháp lý của công dân thông qua việc bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm, ý thức công dân và bản lĩnh chính trị. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số, giáo dục pháp luật còn giúp mỗi cá nhân nâng cao năng lực nhận diện, sàng lọc và ứng xử trước các tác động tiêu cực của không gian mạng cũng như các luồng văn hóa ngoại lai.

Ở trình độ phát triển cao hơn, giáo dục pháp luật hướng tới xây dựng văn hóa pháp luật và văn hóa tuân thủ pháp luật. Đây là điểm mới trong nhận thức của Đại hội XIV khi chuyển từ yêu cầu “giáo dục ý thức” sang “xây dựng văn hóa”, đưa pháp luật trở thành một giá trị nội tại của lối sống và là nền tảng tinh thần của xã hội. Khi các chuẩn mực pháp luật được nội tâm hóa thành thói quen ứng xử, tinh thần thượng tôn pháp luật sẽ trở thành một bộ phận của văn hóa con người Việt Nam hiện đại và là nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước.

Thứ tư, giáo dục pháp luật là điều kiện hiện thực hóa mục tiêu phát triển con người toàn diện theo tinh thần Đại hội XIV. Trong quan điểm của Đảng, phát triển con người toàn diện là sự phát triển thống nhất giữa đạo đức, trí tuệ, thể chất, năng lực sáng tạo, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số và tinh thần thượng tôn pháp luật. Giáo dục pháp luật không còn là hoạt động phổ biến pháp luật đơn thuần mà đã trở thành một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Thông qua giáo dục pháp luật, các giá trị pháp lý được chuyển hóa thành nguồn lực tinh thần, góp phần gắn kết giữa ý chí của Nhà nước với lợi ích của nhân dân, giữa pháp luật với đạo đức và văn hóa xã hội. Trên cơ sở đó, giáo dục pháp luật tạo dựng môi trường xã hội ổn định, củng cố niềm tin vào pháp luật, phát huy nhân tố con người và tạo động lực nội sinh cho sự phát triển nhanh và bền vững.

Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số quốc gia, giáo dục pháp luật còn là giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm an ninh con người trên cả không gian thực và không gian số. Việc nâng cao ý thức pháp luật giúp mỗi cá nhân sử dụng công nghệ số có trách nhiệm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chủ động đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng và hình thành “sức đề kháng văn hóa” trước các nguy cơ xâm nhập của những giá trị lệch chuẩn. Đây chính là cơ sở để xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

2.3. Yêu cầu đặt ra đối với giáo dục pháp luật trong bối cảnh mới

Trong bối cảnh hiện nay, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường hội nhập quốc tế và thực hiện yêu cầu phát triển con người toàn diện đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống pháp lý và xã hội. Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi mỗi cá nhân ngày càng nâng cao ý thức tôn trọng, chấp hành và sử dụng pháp luật; chuyển đổi số làm xuất hiện những quan hệ và vấn đề pháp lý mới trên không gian mạng, đặt ra yêu cầu về năng lực nhận diện và ứng xử phù hợp với pháp luật; hội nhập quốc tế làm gia tăng các quan hệ xã hội đa dạng, đòi hỏi con người có khả năng thích ứng với những yêu cầu pháp lý trong môi trường hội nhập; đồng thời, yêu cầu phát triển con người toàn diện ngày càng gắn với việc hình thành trách nhiệm công dân, ý thức thượng tôn pháp luật và năng lực tự điều chỉnh hành vi. Những bối cảnh đó đặt ra yêu cầu giáo dục pháp luật phải đổi mới cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức, chuyển từ chủ yếu cung cấp kiến thức pháp luật sang hình thành ý thức, thái độ, trách nhiệm và năng lực thực hiện pháp luật của con người trong đời sống hiện đại.

Thứ nhất, giáo dục pháp luật phải chuyển từ truyền đạt kiến thức sang hình thành ý thức và hành vi pháp luật. Giáo dục pháp luật không thể dừng lại ở việc phổ biến các quy định khô khan mà phải hướng đến việc chuyển hóa những quy phạm pháp luật thành niềm tin và hành vi tự giác của mọi người. Tri thức pháp luật phải giúp cá nhân nhận thức rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, từ đó biết tự điều chỉnh hành vi theo các chuẩn mực, quy định nhằm hướng đến mục tiêu cuối cùng là biến pháp luật từ những quy định khách quan thành pháp luật của chính mình, hình thành lối sống liêm chính, thượng tôn pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống.

Thứ hai, gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, trách nhiệm công dân và kỹ năng sống. Trong hệ giá trị con người Việt Nam mới, thượng tôn pháp luật là tiêu chuẩn không tách rời với các phẩm chất đạo đức như lòng nhân ái, tính trung thực và tinh thần trách nhiệm. Giáo dục pháp luật phải đi đôi với việc bồi đắp lòng tự hào dân tộc và khát vọng cống hiến, giúp mỗi cá nhân nhận thức pháp luật là công cụ bảo vệ công lý và lợi ích chung “phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương; nêu cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng với quốc gia, dân tộc” (ĐCSVN, 2026, tr.54). Đồng thời, phải trang bị các kỹ năng sống thiết yếu để người dân có đủ bản lĩnh ứng phó với các tình huống pháp lý và thực thi trách nhiệm đối với cộng đồng, quốc gia.

Thứ ba, đổi mới căn bản nội dung giáo dục pháp luật thích ứng với môi trường số. Trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không gian mạng đã trở thành địa bàn chiến lược trong quản trị xã hội. Nội dung giáo dục cần tập trung trang bị kỹ năng số, ý thức bảo mật dữ liệu và tuân thủ Luật An ninh mạng cho nhân dân “ứng phó ngày càng có hiệu quả hơn với thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Giữ vững chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng” (ĐCSVN, 2026, tr.102). Quan trọng hơn là giáo dục pháp luật phải tạo ra “sức đề kháng văn hóa”, giúp công dân có năng lực phân tích, sàng lọc thông tin, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch và các hành vi lệch chuẩn trên môi trường mạng “Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, các cơ sở đào tào; chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo; bảo đảm điều kiện học tập suốt đời của người dân” (ĐCSVN, 2026, tr.32).

Thứ tư, đổi mới phương thức giáo dục pháp luật theo hướng hiện đại, đa dạng và trực quan. Cần thay đổi các phương pháp giáo dục truyền thống bằng việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) và các phương tiện truyền thông đa phương tiện để lan tỏa tinh thần thượng tôn pháp luật, phù hợp với sự thay đổi của thời đại “Thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia toàn diện, trước hết là hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số; xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số; bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu; đẩy mạnh ứng dụng, phổ cập kỹ năng số, thu hẹp khoảng cách số; tạo môi trường thử nghiệm, khuyến khích đổi mới và bảo vệ sáng tạo. Phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học; đưa khoa học công nghệ vào từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, từng doanh nghiệp” (ĐCSVN, 2026, tr.132).

Đặc biệt, công tác giáo dục pháp luật phải phát huy tối đa vai trò nêu gương của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Sự gương mẫu, liêm chính của người đứng đầu trong thực hành dân chủ và tuân thủ pháp luật chính là “ngọn đuốc” dẫn dắt, tạo dựng niềm tin pháp lý vững chắc trong quần chúng nhân dân “Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nêu gương. Giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, coi trọng danh dự của cán bộ, đảng viên” (ĐCSVN, 2026, tr.132).

Thứ năm, tăng cường sự phối hợp đồng giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục pháp luật. Văn kiện Đại hội XIV chỉ ra rằng, sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội còn hạn chế, dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao “Giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, kỹ năng ngoại ngữ, năng lực sáng tạo cho học sinh, sinh viên chưa theo kịp yêu cầu; sự phối hợp giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội còn hạn chế”(ĐCSVN, 2026, tr.328). Yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một “hệ sinh thái” giáo dục thống nhất, trong đó gia đình là nền tảng nuôi dưỡng đạo đức, nền nếp. Nhà trường là trung tâm trang bị hệ thống tri thức pháp lý và xã hội là môi trường thực tiễn để rèn luyện, giám sát. Sự gắn kết chặt chẽ giữa các thiết chế này sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, hình thành nhân cách pháp lý bền vững cho thế hệ trẻ và toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu “Trọng tâm trước hết là củng cố kỷ cương xã hội bằng thượng tôn pháp luật, cải cách hành chính; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ “liêm chính”, để “phép nước” đi đôi với “lòng dân”, mọi người đều có trách nhiệm với xã hội”(ĐCSVN, 2026, tr.35).

3. Kết luận

Trong tiến trình đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, Đảng ta xác định ý thức pháp luật không chỉ là một bộ phận của ý thức xã hội mà còn là một giá trị nền tảng trong hệ chuẩn mực phát triển con người Việt Nam toàn diện. Khi ý thức pháp luật trở thành nhu cầu tự giác và chuẩn mực ứng xử trong đời sống xã hội, nó sẽ góp phần củng cố kỷ cương, tăng cường niềm tin xã hội, tạo sức đề kháng trước các hành vi lệch chuẩn và những tác động tiêu cực của môi trường số, qua đó phát huy sức mạnh nội sinh phục vụ mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Từ yêu cầu đó, giáo dục pháp luật cần được đổi mới cả về tư duy và phương thức thực hiện. Trọng tâm không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt tri thức pháp lý mà phải hướng tới hình thành văn hóa thượng tôn pháp luật, bồi dưỡng trách nhiệm công dân, đạo đức xã hội và năng lực ứng xử pháp lý trong môi trường số. Đây chính là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện theo tinh thần Đại hội XIV, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển đất nước.

_________________

Ngày nhận bài: 9/7/2026; Ngày bình duyệt: 14/8/2026; Ngày quyết định đăng: 6/9/2026.

Email tác giả: pttam@ttn.edu.vn

Tài liệu tham khảo

ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Đào Duy Tấn (2003). Sự hình thành ý thức pháp luật và giải pháp nâng cao ý thức pháp luật ở nước ta trong thời kỳ đổi mới. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

Lê Thị Hồng (2026). Vai trò của giáo dục pháp luật trong việc hình thành trách nhiệm công dân của sinh viên hiện nay. Tạp chí Tâm lý - giáo dục (3), 89-90.

Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp. (1994). Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ).

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Vai trò của ý thức pháp luật trong phát triển con người toàn diện và yêu cầu đối với giáo dục pháp luật