Thực tiễn

Xây dựng hệ thống chính trị các xã biên giới vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới

03/07/2026 20:50

Tóm tắt: Các xã biên giới giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phát triển kinh tế - xã hội. Trước yêu cầu của tình hình mới, việc tăng cường lãnh đạo xây dựng hệ thống chính trị các xã biên giới trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ cấp thiết. Trên cơ sở hệ thống hóa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và đánh giá thực trạng hiện nay, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm lãnh đạo củng cố hệ thống chính trị các xã biên giới hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia trong bối cảnh mới.

TS NGUYỄN VĂN TÙNG
Vụ Địa phương I,
Ban Tổ chức Trung ương

he thong chinh tri2
Các lực lượng Công an, Dân quân tự vệ và nhân dân xã biên giới Ia Lốp, huyện Ea Súp phối hợp với Đồn Biên phòng Ea H’Leo tuần tra, kiểm soát biên giới_Ảnh: ttdn.vn

1. Mở đầu

Hệ thống chính trị các xã biên giới giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu vực biên giới. Với đặc thù gắn bó trực tiếp với nhân dân, hệ thống chính trị cơ sở là lực lượng nòng cốt trong tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường sự đồng thuận xã hội. Trước yêu cầu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, việc tiếp tục xây dựng hệ thống chính trị các xã biên giới trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là nhiệm vụ cấp thiết.

2. Nội dung

2.1. Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về xây dựng hệ thống chính trị các biên giới

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở các xã biên giới nhằm đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh đối với địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng này. Bên cạnh những chủ trương, chính sách về xây dựng hệ thống chính trị cấp xã nói chung, Trung ương đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách đặc thù đối với các xã biên giới. Cụ thể, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 10/10/2017 về phát triển kinh tế - xã hội các xã biên giới đất liền kết hợp với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại; Nghị quyết số 33 - NQ/TW ngày 28/9/2018 về chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia; Thông báo Kết luận số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 về chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới. Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 68-KL/TW ngày 05/02/2020 về 2 năm thực hiện chủ trương thí điểm tăng thêm cấp ủy viên là cán bộ đồn biên phòng vào cấp ủy cấp huyện biên giới. Các văn bản của trung ương đã xác định rõ hệ thống quan điểm, mục tiêu, yêu cầu và nhiệm vụ, giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị các xã biên giới, gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng và ninh; chú trọng “thực hiện chính sách dân tộc, nâng cao dân trí, chất lượng nhân lực, tạo nguồn cán bộ là người dân tộc, địa phương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào vùng biên giới, củng cố quốc phòng, an ninh” (Bộ Chính trị, 2025).

Thể chế hóa các văn bản của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách quan trọng. Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 về Phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 (Quốc hội, 2019); Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội: Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 (Quốc hội, 2020); Nghị quyết số 24/2021/QH15 ngày 28/7/2021 của Quốc hội: Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2030 (Quốc hội, 2021). Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 164/2018/NĐ-CP ngày 21/12/2018 về kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với quốc phòng (Chính phủ, 2018); Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (Chính phủ, 2019); Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 02/3/2022 về phát triển kinh tế khu vực biên giới đất liền (Chính phủ, 2022). Hệ thống văn bản của Nhà nước đã quy định cụ thể cơ chế, chính sách đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ các xã biên giới gắn với quy hoạch tổng thể, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; kịp thời tháo gỡ những vướng mắc về thể chế, xây dựng các xã địa bàn biên giới vững mạnh, phát triển về mọi mặt.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong thời kỳ mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã ban hành nhiều quyết sách chiến lược, điển hình là chủ trương xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp. Căn cứ chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, Ban Tổ chức Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 31-HD/BTCTW ngày 23/4/2025 về việc thành lập tổ chức đảng tương ứng các đơn vị hành chính ở địa phương và sắp xếp tổ chức bộ máy cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể cấp tỉnh, cấp xã (Ban Tổ chức Trung ương, 2025).

Như vậy, Đảng và Nhà nước đã ban hành tương đối đồng bộ các chủ trương, chính sách về xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở gắn với hỗ trợ phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và khu vực biên giới; đồng thời thường xuyên rà soát, bổ sung để phù hợp với yêu cầu thực tiễn mới.

2.2. Thực trạng và một số giải pháp tiếp tục xây dựng, củng cố hệ thống chính trị các xã biên giới trong sạch, vững mạnh

Tính đến thời điểm ngày 17/11/2025, cả nước có 3.321 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 248 đơn vị hành chính cấp xã khu vực biên giới đất liền (Chính phủ, 2025). Trong số 22 tỉnh, thành phố có xã biên giới, Cao Bằng, Nghệ An có 21 xã; Tây Ninh có 19 xã; Tuyên Quang có 17 xã; Thanh Hóa có 16 xã; Điện Biên, Quảng Trị có 15 xã; An Giang có 14 xã; Sơn La có 13 xã; Lạng Sơn, Lai Châu có 11 xã; Quảng Ninh, Lào Cai, Quãng Ngãi có 9 xã; Đồng Nai có 8 xã; Hà Tĩnh, Gia Lai có 7 xã; thành phố Đà Nẵng, Đồng Tháp có 6 xã; thành phố Huế, Lâm Đồng có 5 xã; Đắk Lắk có 4 xã.

Các xã biên giới - nơi có đường biên giới quốc gia, là tuyến đầu chiến lược, có tác động trực tiếp đến quốc phòng, an ninh của đất nước, đóng vai trò trọng yếu về quốc phòng - an ninh và hợp tác quốc tế, có chế độ quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt nhằm duy trì an ninh, trật tự và chủ quyền lãnh thổ. Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, các xã biên giới có sự thay đổi lớn về diện tích, quy mô dân số. Phần lớn các xã biên giới có địa bàn rộng, nằm ở khu vực miền núi, địa hình hiểm trở, dân cư thưa; nền kinh tế chủ yếu là nông, lâm nghiệp quy mô nhỏ, tự cung tự cấp; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao hơn mức trung bình của cả nước; điều kiện giao thông đi lại khó khăn, hạ tầng chưa phát triển đồng bộ. Các xã biên giới là nơi có nhiều dân tộc cùng sinh sống; có sự giao thoa văn hóa đặc sắc, bên cạnh phong tục tập quán truyền thống vẫn còn tồn tại một số hủ tục.

Hệ thống chính trị các xã biên giới mang đầy đủ đặc điểm của cấp xã nói chung, nhưng cũng có những nét đặc thù do vị trí chiến lược, trước yêu cầu về tăng cường quốc phòng, an ninh và công tác dân tộc. Cán bộ các đồn biên phòng được tăng cường cho các thôn bản; được phân công tham gia cấp ủy, lãnh đạo chủ chốt cấp ủy, trực tiếp củng cố hệ thống chính trị cơ sở. Các tổ chức trong hệ thống chính trị có nhiều cán bộ là người dân tộc thiểu số; đội ngũ cán bộ am hiểu phong tục tập quán và ngôn ngữ địa phương. Hệ thống chính trị các xã biên giới thực hiện nhiều chức năng, nhiệm vụ trong lĩnh vực chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, tuyên truyền pháp luật và vận động đồng bào. Hệ thống chính trị các xã biên giới phải bám sát cơ sở, gần dân để nắm bắt tình hình tư tưởng và đời sống đồng bào, trong khi địa bàn hoạt động rộng, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức ở nhiều nơi chưa đồng đều; tỷ lệ đảng viên là người dân tộc thiểu số có nơi còn thấp, đặt ra nhiều thách thức trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.

Triển khai các chủ trương, chính sách của Trung ương, cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy các địa phương đã chủ động lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện và đạt được nhiều kết quả tích cực. Hệ thống chính trị ở các xã biên giới từng bước được kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần quan trọng vào ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn chiến lược. Bộ máy tổ chức và đội ngũ cán bộ cơ sở tiếp tục được củng cố, qua đó nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Nhiều cán bộ chủ chốt tại các xã biên giới đã phát huy tốt sự hiểu biết về địa bàn, phong tục, tiếng nói của đồng bào dân tộc, giữ mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân và tạo được uy tín trong cộng đồng. Nhờ đó, đời sống người dân khu vực biên giới có nhiều chuyển biến tích cực; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và chủ quyền biên giới quốc gia tiếp tục được giữ vững.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống chính trị ở các xã biên giới vẫn còn không ít khó khăn, hạn chế. Ở một số địa phương, nội dung và phương thức lãnh đạo của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hoạt động của cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội tại một số xã biên giới còn lúng túng, hiệu quả chưa đồng đều. Năng lực lãnh đạo, quản lý và điều hành của một bộ phận cán bộ cấp xã còn hạn chế; hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội chưa thực sự phát huy vai trò tập hợp quần chúng và thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đáng chú ý, tại một số thôn, bản vùng biên vẫn còn tình trạng thiếu đảng viên, chưa đủ điều kiện thành lập chi bộ; trình độ chuyên môn, kỹ năng công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên còn nhiều bất cập trước yêu cầu nhiệm vụ mới.

Trước yêu cầu phát triển mới và xuất phát từ vai trò then chốt quyết định chất lượng vận hành của toàn hệ thống của cấp xã, việc tăng cường vai trò lãnh đạo của ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh đối với việc xây dựng hệ thống chính trị ở các xã biên giới là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay. Để nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị các xã biên giới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt và tổ chức thực hiện toàn diện, hiệu quả chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng, củng cố hệ thống chính trị ở các xã biên giới và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn biên giới. Cấp ủy cấp tỉnh, trực tiếp là ban thường vụ cấp ủy, cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt và triển khai hiệu quả các chủ trương, nghị quyết, chương trình, kế hoạch của Đảng và Nhà nước liên quan đến xây dựng hệ thống chính trị ở các xã biên giới. Đồng thời, tổ chức thực hiện nghiêm các quy định, hướng dẫn của Trung ương về mô hình chính quyền địa phương hai cấp; quan tâm bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản lý, điều hành cho đội ngũ cán bộ ở vùng sâu, vùng xa, địa bàn còn nhiều khó khăn. Cùng với đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới, nhằm tạo sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tăng cường huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển địa bàn biên giới, gắn với củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Hai là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn và vận hành hiệu quả hệ thống chính trị ở các xã biên giới theo mô hình tổ chức mới, phù hợp với đặc điểm từng địa phương, bảo đảm bộ máy hoạt động đồng bộ, thông suốt đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Ban thường vụ cấp tỉnh cần phát huy vai trò, trách nhiệm, tăng cường bám sát cơ sở, địa bàn phụ trách để kịp thời nắm bắt tình hình, chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh sau quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy. Đồng thời, chú trọng công tác nắm bắt dư luận xã hội, dự báo tình hình tư tưởng, chủ động phát hiện và xử lý các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn. Chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định liên quan đến tổ chức, hoạt động của các cơ quan, đơn vị; tăng cường các tổ công tác xuống cơ sở để hướng dẫn, hỗ trợ và xử lý những vấn đề vượt quá thẩm quyền của cấp xã. Bên cạnh đó, cần quan tâm bố trí nguồn lực phù hợp, tạo điều kiện để cấp xã thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ mới được phân cấp, nhất là trong quản lý đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và tổ chức sản xuất trên địa bàn. Việc sắp xếp thôn, bản và các hội quần chúng ở cơ sở cần được triển khai đồng bộ, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của tổ chức đảng đối với hệ thống chính trị ở cấp xã.

Ba là, làm tốt việc lựa chọn, tăng cường cán bộ xuống địa bàn các xã biên giới, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở các xã biên giới đủ về số lượng, không ngừng nâng cao về chất lượng. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các kết luận, chỉ đạo mới nhất của Trung ương về công tác cán bộ cơ sở. Làm tốt việc bố trí, bổ sung cán bộ theo phương châm “đúng người - đúng việc - đúng địa bàn” (Văn phòng Trung ương Đảng, 2026), chú trọng đội ngũ cán bộ chủ chốt, lãnh đạo các cơ quan chuyên môn cấp xã; thực hiện phân bổ hợp lý biên chế ở cấp xã, tăng cường điều động, bố trí nguồn nhân lực, cán bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ các lĩnh vực về công tác ở các xã biên giới.

Thực hiện có hiệu quả các đề án, kế hoạch nhằm tăng cường cán bộ có phẩm chất, năng lực về đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo, quản lý ở các xã biên giới; chú trọng lựa chọn, tăng cường cán bộ có năng lực về công tác tại các xã biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người, thực hiện tốt “3 cùng, 4 bám”, chủ động tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.

Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nguồn nhân lực để cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội ở các xã biên giới vận hành đồng bộ, thông suốt, hiệu quả. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là những cán bộ chủ chốt. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp, tăng cường cán bộ biên phòng, cán bộ trẻ ưu tú về các xã đặc biệt khó khăn, ưu tiên lựa chọn những trường hợp ưu tú ở địa phương, am hiểu địa bàn, phong tục tập quán, đã được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ.

Bốn là, tập trung lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng các xã biên giới trong sạch, vững mạnh gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với hệ thống chính trị các xã biên giới. Chú trọng củng cố tổ chức cơ sở đảng ở các xã biên giới cả về số lượng và chất lượng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tăng cường công tác giáo dục, quản lý, rèn luyện cán bộ, đảng viên; quan tâm phát triển đảng viên ở các địa bàn còn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những nơi chưa đủ điều kiện thành lập chi bộ độc lập. Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền cơ sở theo hướng khoa học, hiệu quả, phát huy tính chủ động, sáng tạo của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cấp xã trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, vận động nhân dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tham gia giám sát hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên ở cơ sở và huy động nguồn lực trong nhân dân phục vụ phát triển địa phương.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh gắn với phát triển kinh tế - xã hội bền vững và nâng cao đời sống nhân dân ở các xã biên giới. Thường xuyên rà soát, tổng kết thực tiễn để kịp thời bổ sung, hoàn thiện các chính sách đối với khu vực biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Đồng thời, triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch và các dự án phát triển kinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh và cải thiện điều kiện sống của người dân trên địa bàn biên giới.

Tiếp tục quan tâm hoàn thiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ công tác ở các xã vùng sâu, vùng xa, địa bàn khó khăn; có chính sách phù hợp về tiền lương, phụ cấp, điều kiện làm việc và hỗ trợ sinh hoạt để cán bộ yên tâm công tác, gắn bó lâu dài với cơ sở. Các tỉnh biên giới cần căn cứ điều kiện thực tiễn để ban hành chính sách hỗ trợ phù hợp đối với cán bộ thường xuyên làm việc ở địa bàn rộng, giao thông khó khăn hoặc cán bộ tăng cường giữ các chức danh chủ chốt tại xã biên giới. Qua đó, tạo động lực khuyến khích đội ngũ cán bộ phát huy tinh thần trách nhiệm, tính chủ động và sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ. Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện cơ chế phát huy vai trò của người có uy tín, các gia đình, dòng họ tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số nhằm tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đấu tranh phòng, chống các hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động, chia rẽ khối đoàn kết ở khu vực biên giới.

3. Kết luận

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu tiếp tục đổi mới toàn diện, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, việc củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở các xã biên giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở cơ sở mà còn giữ vai trò nòng cốt trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia. Đồng thời, hệ thống chính trị cơ sở ở các xã biên giới còn có vai trò quan trọng trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh, hệ thống chính trị các xã biên giới đã từng bước được củng cố, kiện toàn và đạt nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, nhất là trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, triển khai thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và đổi mới phương thức quản trị ở cơ sở, hệ thống chính trị ở các xã biên giới vẫn còn nhiều khó khăn, hạn chế cần tiếp tục tập trung giải quyết. Vì vậy, tăng cường vai trò lãnh đạo của ban thường vụ cấp ủy cấp tỉnh đối với xây dựng hệ thống chính trị các xã biên giới cần được xác định là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài và có ý nghĩa chiến lược. Trong đó, cần chú trọng quán triệt và tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực và uy tín; nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng; hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với đặc thù khu vực biên giới.

Hệ thống chính trị cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh, gần dân, sát dân và phát huy tốt vai trò của nhân dân là nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại và bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia trong tình hình mới.

_________________

Ngày nhận bài: 26/5/2026; Ngày bình duyệt: 21/6/2026; Ngày quyết định đăng: 29/6/2026.

Email tác giả: tronghoabtc@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Ban Tổ chức Trung ương (2025). Hướng dẫn số 31-HD/BTCTW ngày 23/4/2025 về việc thành lập tổ chức đảng tương ứng các đơn vị hành chính ở địa phương và sắp xếp tổ chức bộ máy cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể cấp tỉnh, cấp xã.

Báo Điện tử Chính phủ (2026). Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV.

Chính phủ (2018). Nghị định số 164/2018/NĐ-CP ngày 21/12/2018 về kết hợp quốc phòng với kinh tế - xã hội và kinh tế - xã hội với quốc phòng.

Chính phủ (2019). Nghị định số 76/2019/NĐ-CP ngày 08/10/2019 về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Chính phủ (2022). Nghị quyết số 23/NQ-CP ngày 02/3/2022 về phát triển kinh tế khu vực biên giới đất liền.

Chính phủ (2025). Nghị định 299/2025/NĐ-CP ngày 17/11/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều các Nghị định của Chính phủ về biên phòng, biên giới quốc gia.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Quốc hội (2019). Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 về phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030.

Quốc hội (2020). Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030.

Văn phòng Trung ương Đảng (2026). Thông báo số 21-TB/VPTW, ngày 07/3/2026 thông báo kết luận của Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Tổ chức Trung ương.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Xây dựng hệ thống chính trị các xã biên giới vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới
    POWERED BY