DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.4003
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trên cơ sở phân tích các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, bài viết làm rõ những chuyển biến và thách thức trong phát triển giáo dục đại học hiện nay, tập trung vào các vấn đề tự chủ đại học, quản trị đại học hiện đại, chuyển đổi số và gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và thị trường lao động. Từ đó, bài viết đề xuất một số định hướng và giải pháp mang tính hệ thống nhằm thúc đẩy phát triển giáo dục đại học Việt Nam theo hướng chất lượng, hiệu quả và bền vững trong kỷ nguyên mới.
TS PHÙNG KIM ANH
Trường Đại học Thăng Long

1. Mở đầu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, “kỷ nguyên mới” được xác lập như một giai đoạn phát triển mang tính chuyển đổi cấu trúc, gắn liền với sự phát triển của kinh tế tri thức. Đối với giáo dục đại học, đây không chỉ là sự thay đổi về công nghệ đào tạo mà là quá trình tái định hình căn bản vai trò, mô hình phát triển trong mối liên kết hữu cơ với sự vận động của kinh tế - xã hội.
Tại Việt Nam, giáo dục đại học được xác định là động lực then chốt, là hạ tầng tri thức quan trọng để đất nước thực hiện đột phá chiến lược về nguồn nhân lực. Phát triển giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới đòi hỏi sự chuyển dịch từ không gian quốc gia sang không gian học thuật và thị trường lao động toàn cầu, lấy sự hài lòng của người học và mức độ đáp ứng yêu cầu của xã hội làm thước đo hiệu quả. Bài viết tập trung luận giải các đặc trưng cốt lõi và đề xuất các định hướng chiến lược nhằm đưa giáo dục đại học Việt Nam thích ứng và phát triển trong kỷ nguyên mới.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận về phát triển giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới
Giáo dục đại học trong nền kinh tế tri thức và xã hội học tập
Hiện nay, tri thức, kỹ năng và đổi mới sáng tạo đã trở thành nguồn lực sản xuất chủ yếu, có ý nghĩa quyết định đối với tăng trưởng bền vững. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học không chỉ thực hiện chức năng truyền thụ tri thức, mà còn đảm nhiệm vai trò sáng tạo tri thức thông qua nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo. Sự gắn kết giữa đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo trở thành tiêu chí quan trọng đánh giá trình độ phát triển của giáo dục đại học hiện đại.
Cùng với kinh tế tri thức, sự hình thành xã hội học tập và học tập suốt đời làm thay đổi căn bản đối tượng, nội dung và phương thức giáo dục đại học. Giáo dục đại học không còn giới hạn trong khuôn khổ đào tạo chính quy, mà mở rộng sang đào tạo lại, đào tạo nâng cao, linh hoạt cho nhiều nhóm đối tượng, đáp ứng nhu cầu học tập liên tục của xã hội. Điều này đòi hỏi hệ thống giáo dục đại học phải phát triển theo hướng mở, linh hoạt, đa dạng hóa hình thức và lộ trình học tập, đồng thời bảo đảm chất lượng và khả năng liên thông.
Từ góc độ lý luận, xã hội học tập đặt ra yêu cầu tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng lấy người học làm trung tâm, chú trọng phát triển năng lực, tư duy phản biện và khả năng thích ứng, thay vì chỉ trang bị kiến thức tĩnh. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để định hình các chính sách đổi mới giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới.
Tự chủ đại học và quản trị đại học hiện đại
Tự chủ đại học là một trong những nguyên lý cốt lõi của giáo dục đại học hiện đại, phản ánh sự chuyển đổi từ mô hình quản lý bao cấp sang mô hình quản trị dựa trên quyền tự quyết và trách nhiệm giải trình. Dưới góc độ lý luận, tự chủ đại học bao gồm các cấu phần cơ bản: tự chủ học thuật, tự chủ tổ chức - nhân sự và tự chủ tài chính, được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và chịu sự giám sát của Nhà nước và xã hội.
Tự chủ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn chặt với cơ chế trách nhiệm giải trình, bảo đảm minh bạch, kiểm định chất lượng và giám sát xã hội. Mô hình quản trị đại học hiện đại nhấn mạnh vai trò của hội đồng trường, quản trị dựa trên dữ liệu và quản lý theo kết quả đầu ra, thay thế dần phương thức quản lý truyền thống. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để lý giải vì sao tự chủ đại học được xem là đột phá chiến lược trong nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống giáo dục đại học.
Trong kỷ nguyên mới, tự chủ đại học không chỉ là vấn đề phân quyền quản lý, mà còn là điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học nâng cao năng lực cạnh tranh, thích ứng nhanh với biến động của thị trường lao động và yêu cầu đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, tự chủ đại học cần được thực hiện theo lộ trình phù hợp với trình độ phát triển của hệ thống và năng lực quản trị của từng cơ sở, tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa hoặc hành chính hóa tự chủ đại học.
Chuyển đổi số và đổi mới mô hình giáo dục đại học
Chuyển đổi số trong giáo dục đại học không chỉ là việc ứng dụng công nghệ thông tin, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện mô hình hoạt động của cơ sở giáo dục trên nền tảng công nghệ số. Quá trình này tác động đồng thời tới quản trị đại học, phương thức đào tạo, nghiên cứu khoa học và cung cấp dịch vụ học thuật. Chuyển đổi số tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục, cá nhân hóa quá trình học tập và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Tuy nhiên, chuyển đổi số cũng đặt ra những thách thức mới về bảo đảm chất lượng, công bằng trong tiếp cận, cũng nhu về năng lực số của đội ngũ giảng viên, người học. Do đó, chuyển đổi số cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển giáo dục đại học, gắn với đổi mới quản trị và bảo đảm chất lượng.
Từ góc độ khoa học, chuyển đổi số được xem là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy quốc tế hóa giáo dục đại học, thông qua việc tăng cường kết nối học thuật, chia sẻ học liệu và hợp tác nghiên cứu. Điều này cho thấy chuyển đổi số không chỉ là công cụ kỹ thuật, mà là yếu tố cấu trúc của giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới.
Vai trò kiến tạo của Nhà nước trong phát triển giáo dục đại học
Lý luận quản lý công hiện đại nhấn mạnh sự chuyển đổi vai trò của Nhà nước từ “quản lý trực tiếp” sang “kiến tạo phát triển”. Trong lĩnh vực giáo dục đại học, vai trò kiến tạo của Nhà nước thể hiện ở việc xây dựng thể chế, định hướng chiến lược, bảo đảm chất lượng và công bằng xã hội, thay vì can thiệp sâu vào hoạt động chuyên môn của các cơ sở giáo dục đại học.
Nhà nước giữ vai trò định hướng phát triển thông qua chiến lược, quy hoạch mạng lưới, cơ chế phân bổ nguồn lực và hệ thống bảo đảm chất lượng. Đồng thời, Nhà nước có trách nhiệm điều tiết các vấn đề của thị trường trong giáo dục đại học, bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục cho các nhóm yếu thế và cân đối phát triển giữa các vùng, miền.
2.2. Thực trạng phát triển giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986 - 2025)
Thứ nhất, quy mô hệ thống giáo dục đại học ngày càng mở rộng, gắn với chuyển dịch mô hình phát triển
Thực hiện đường lối đổi mới đất nước, trên lĩnh vực giáo dục, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng về phát triển giáo dục, trong đó có nhiều nội dung quan trọng về giáo dục đại học: Nghị quyết 29-NQ/TW (2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh việc phát triển giáo dục đại học theo hướng phân tầng, chuyên sâu, gắn với nghiên cứu, thực hành; phát triển hệ thống đại học quốc gia, đại học vùng và các cơ sở chất lượng cao; mở rộng, đa dạng hóa hình thức đào tạo; tăng quyền tự chủ, trách nhiệm xã hội đối với cơ sở giáo dục; đổi mới quản trị đại học; đẩy mạnh kiểm định và bảo đảm chất lượng.
Năm 2019, Chính phủ ban hành Quyết định 69/QĐ-TTg phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng giáo dục đại học giai đoạn 2019 - 2025. Mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo đại học, tăng cường liên kết với doanh nghiệp và hội nhập quốc tế, bảo đảm cạnh tranh và minh bạch trong hoạt động giáo dục.
Gần đây nhất là Nghị quyết 71-NQ/TW (2025) về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Nghị quyết là sự kế thừa, phát triển tư duy đổi mới giáo dục đại học: Đẩy mạnh hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục trên toàn quốc. Ưu tiên đầu tư cho giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Tăng ngân sách cho giáo dục, hỗ trợ tài chính cho người học, phát triển học bổng, tín dụng sinh viên. Ưu tiên phát triển đại học gắn với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế.
Thực hiện chủ trương của Đảng, trong thời kỳ đổi mới, giáo dục đại học Việt Nam đã đạt được sự mở rộng nhanh chóng về quy mô, góp phần quan trọng nâng cao trình độ dân trí và đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giáo dục đại học Việt Nam đã chuyển sang mô hình đa dạng hóa về loại hình, ngành nghề và phương thức đào tạo.
Giai đoạn 1986 - 2000, ngành giáo dục đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, từ mô hình bao cấp sang mô hình xã hội hóa với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Cho phép thu học phí, mở rộng trường ngoài công lập, đa dạng hóa hình thức đào tạo. Năm 1987, cả nước có 101 trường đại học và cao đẳng, đến năm 2000, cả nước có 178 trường đại học, cao đẳng, trong đó có 148 trường công lập, 30 trường ngoài công lập với tổng số 899.500 sinh viên (795.600 sinh viên công lập, 103.900 sinh viên ngoài công lập) và 32.400 giảng viên (Nguyễn Thúy Quỳnh, 2022), phản ánh sự mở rộng nhanh chóng về quy mô hệ thống giáo dục đại học trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới.
Giai đoạn 2001 - 2020, là thời kỳ mở rộng và hội nhập, đa dạng hóa loại hình trường, hình thức đào tạo, và nỗ lực nâng cao chất lượng gắn với thị trường lao động. Mạng lưới trường lớp được mở rộng, số lượng sinh viên tăng mạnh, đáp ứng nhu cầu nhân lực của đất nước. Đồng thời hệ thống giáo dục đại học giai đoạn này cũng gặp phải những thách thức về quản lý, đầu tư và chất lượng, hướng tới tự chủ, đổi mới chương trình theo hướng toàn cầu, chuẩn bị cho Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Quy mô sinh viên, giảng viên, trường đại học giai đoạn 2000-2020:

Các số liệu thống kê cho thấy, giai đoạn 2001 - 2020 đánh dấu sự gia tăng mạnh về số lượng cơ sở giáo dục đại học và quy mô người học. Số trường đại học công lập tăng từ 57 lên 172 trường; số trường ngoài công lập tăng từ 17 lên 65 trường. Quy mô sinh viên đại học đạt đỉnh vào khoảng năm 2010 với hơn 1,9 triệu sinh viên, phản ánh nhu cầu lớn về nguồn nhân lực trình độ cao trong giai đoạn tăng trưởng nhanh của nền kinh tế. Tuy nhiên, từ sau năm 2013, quy mô sinh viên có xu hướng điều chỉnh giảm, đặc biệt ở khu vực công lập, cho thấy sự chuyển dịch có chủ đích từ phát triển theo chiều rộng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả đào tạo, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW.
Sự điều chỉnh này phản ánh một đặc điểm quan trọng của giáo dục đại học Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Hệ thống giáo dục đại học đang từng bước thoát khỏi lôgíc tăng trưởng số lượng thuần túy để chuyển sang mô hình phát triển bền vững hơn, lấy chất lượng và giá trị gia tăng tri thức làm trọng tâm. Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch mô hình vẫn diễn ra không đồng đều giữa các cơ sở và các vùng, miền.
Giai đoạn 2021-2025, giáo dục đại học đứng trước thời cơ và thách thức mới khi Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt mục tiêu hiện đại hóa, nâng tầm hệ thống và tạo đột phá phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài quốc gia.
Giáo dục đại học thời kỳ này đã có chuyển biến mạnh mẽ cả về chất lượng, hiệu quả và mức độ tiếp cận của người dân, góp phần quan trọng cho việc nâng cao trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo nhân tài cho đất nước. Năm 2024, tuyển mới gần 700.000 sinh viên đại học các hình thức đào tạo (tăng khoảng 14% so với 2023) (Thanh Xuân, 2025). Năm 2025, Việt Nam có 16 cơ sở giáo dục đại học nằm trong bảng xếp hạng THE (Times Higher Education) Impact Rankings (Bích Ngọc, 2025).
Nghị quyết số 71-NQ/TW cũng chỉ rõ, giáo dục đại học hiện nay vẫn còn những hạn chế và chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho sự phát triển bứt phá của đất nước. Hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp phát triển chưa đồng bộ, chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm. Những hạn chế này xuất phát chủ yếu từ việc nhận thức và thực hiện chưa đầy đủ quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, tư duy quản lý chậm đổi mới, cơ chế tự chủ và xã hội hóa giáo dục chưa phù hợp, cùng với những bất cập về nguồn lực đầu tư, chính sách đối với đội ngũ nhà giáo và các yếu tố xã hội tác động đến hoạt động giáo dục.
Thứ hai, cải thiện về chất lượng đào tạo và mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
Cùng với quá trình mở rộng quy mô, chất lượng đào tạo đại học ở Việt Nam đã có những cải thiện nhất định, thể hiện qua việc từng bước chuẩn hóa chương trình đào tạo theo Khung trình độ quốc gia; gia tăng số lượng chương trình được kiểm định và đa dạng hóa phương thức đào tạo. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến hết năm 2024, cả nước có 2.224 trên tổng số hơn 6.000 chương trình đào tạo được kiểm định, đạt tỷ lệ 37,1% - vượt chỉ tiêu 35% đặt ra đến năm 2025. Đáng chú ý, hơn 600 chương trình đã đạt chuẩn kiểm định quốc tế, cho thấy chất lượng đào tạo đang được nâng tầm. Tính đến ngày 31/8/2025, hệ thống giáo dục đại học cả nước có 89,7% cơ sở đã hoàn thành kiểm định chu kỳ 1 và 53,71% ở chu kỳ 2 (Cục Quản lý chất lượng, 2025. Đây là những chỉ dấu tích cực, cho thấy hệ thống bảo đảm chất lượng giáo dục đại học đang từng bước được thiết lập và vận hành hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, xét tổng thể, mức độ đáp ứng của giáo dục đại học đối với nhu cầu thị trường lao động vẫn còn hạn chế. Các báo cáo khảo sát tình trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp cho thấy, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 12 tháng tốt nghiệp đạt khoảng 87-90%, song tỷ lệ làm việc đúng hoặc gần đúng ngành đào tạo dao động trong khoảng 60-65%. Khoảng 30% người tốt nghiệp đại học cho biết phải đào tạo bổ sung hoặc đào tạo lại khi tham gia thị trường lao động, phản ánh khoảng cách đáng kể giữa chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo và yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Bên cạnh đó, cơ cấu ngành đào tạo còn bộc lộ sự mất cân đối so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức và chuyển đổi số. Các ngành kinh tế, quản trị, luật và khoa học xã hội tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong tổng quy mô tuyển sinh, trong khi các ngành khoa học tự nhiên, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) - được coi là nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới sáng tạo, hiện chiếm khoảng 27 - 30% tổng số sinh viên đại học. Tỷ lệ này thấp hơn so với mức trung bình của nhiều quốc gia trong khu vực đang đẩy mạnh chiến lược phát triển dựa trên khoa học - công nghệ và nhân lực chất lượng cao.
Những số liệu trên cho thấy, giáo dục đại học Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của mô hình đào tạo định hướng cung, việc xây dựng chương trình và xác định quy mô tuyển sinh chưa hoàn toàn dựa trên dự báo nhu cầu nhân lực trung và dài hạn. Mối liên kết giữa nhà trường và thị trường lao động còn chưa chặt chẽ, đặc biệt là sự tham gia của doanh nghiệp vào xây dựng chương trình, đánh giá chuẩn đầu ra và sử dụng lao động còn nhiều hạn chế.
Thứ ba, đội ngũ giảng viên và năng lực nghiên cứu khoa học
Trong những năm gần đây, mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam từng bước được củng cố và hoàn thiện, với xu hướng ổn định về quy mô và cơ cấu. Việc ban hành và triển khai hệ thống chính sách, pháp luật về tự chủ đại học đã tạo ra những chuyển biến có tính hệ thống trong quản lý nhà nước, cũng như trong tổ chức và vận hành của các cơ sở giáo dục đại học, qua đó góp phần mở rộng không gian tự chủ học thuật.
Các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục đại học được đầu tư theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đội ngũ giảng viên đại học đã có sự phát triển về số lượng và trình độ. Giai đoạn 2001 - 2020, số giảng viên đại học công lập tăng từ 20.325 lên 56.990 người; khu vực ngoài công lập tăng từ 4.037 lên 16.142 người. Tỷ lệ giáo sư, phó giáo sư và tiến sỹ đạt trên 35% (Báo Nhân Dân, 2025), hoạt động nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế của hệ thống đại học có bước phát triển rõ rệt so với các giai đoạn trước.
Mặc dù vậy, năng lực nghiên cứu khoa học của phần lớn các cơ sở giáo dục đại học vẫn chưa tương xứng với vai trò trung tâm tri thức trong nền kinh tế tri thức. Hoạt động nghiên cứu còn phân tán, thiếu các nhóm nghiên cứu mạnh có khả năng dẫn dắt và tạo ảnh hưởng học thuật quốc tế. Số lượng công bố quốc tế tăng nhanh trong những năm gần đây, song tập trung chủ yếu ở một số trường đại học lớn, cho thấy sự phân hóa rõ rệt về năng lực nghiên cứu trong hệ thống giáo dục đại học.
Thứ tư, tự chủ đại học và năng lực quản trị
Việc triển khai tự chủ đại học trong thời gian qua đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trong quản trị các cơ sở giáo dục đại học. Nhiều trường đại học đã chủ động hơn trong xây dựng chiến lược phát triển, mở ngành đào tạo mới, huy động nguồn lực xã hội và đổi mới phương thức quản lý. Không gian tự chủ học thuật từng bước được mở rộng, góp phần thúc đẩy sáng tạo và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, tự chủ đại học ở Việt Nam còn chưa đồng đều và chưa thực sự bền vững. Ở nhiều cơ sở, tự chủ mới tập trung chủ yếu trong lĩnh vực tài chính, trong khi tự chủ học thuật và tự chủ tổ chức chưa được phát huy đầy đủ. Năng lực quản trị đại học, đặc biệt là vai trò của quản trị dựa trên dữ liệu và quản lý theo kết quả đầu ra, vẫn còn là điểm nghẽn.
Thứ năm, chuyển đổi số và quốc tế hóa giáo dục đại học
Chuyển đổi số trong giáo dục đại học Việt Nam đã được triển khai mạnh mẽ trong những năm gần đây, đặc biệt sau đại dịch Covid-19. Hạ tầng công nghệ, hệ thống quản lý đào tạo và học liệu số từng bước được đầu tư; các mô hình đào tạo trực tuyến và kết hợp được mở rộng, góp phần tăng tính linh hoạt và khả năng tiếp cận giáo dục.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số vẫn còn thiếu đồng bộ giữa các cơ sở giáo dục đại học. Sự chênh lệch về hạ tầng công nghệ, năng lực số của giảng viên và sinh viên, cũng như chất lượng học liệu số, đặt ra thách thức lớn đối với việc bảo đảm chất lượng đào tạo. Điều này cho thấy chuyển đổi số ở nhiều nơi vẫn mang tính giải pháp tình thế, chưa thực sự gắn với đổi mới mô hình quản trị và bảo đảm chất lượng theo tiếp cận hệ thống.
Về quốc tế hóa, giáo dục đại học Việt Nam đã đạt được một số kết quả tích cực, thể hiện qua việc gia tăng số cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng quốc tế và mở rộng hợp tác đào tạo, nghiên cứu với các đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, quốc tế hóa vẫn chưa trở thành động lực phổ biến nâng cao chất lượng trong toàn hệ thống, mà chủ yếu tập trung ở một số cơ sở có điều kiện thuận lợi.
2.3. Một số giải pháp phát triển giáo dục đại học trong kỷ nguyên mới
Trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam đang chịu tác động đồng thời của chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, các giải pháp phát triển cần được tiếp cận theo hướng hệ thống, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu chiến lược, thể chế chính sách và điều kiện thực thi. Trên cơ sở đó, việc đề xuất các giải pháp phát triển giáo dục đại học không chỉ nhằm khắc phục những hạn chế hiện nay, mà còn hướng tới xây dựng nền giáo dục đại học có chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng cao trong kỷ nguyên mới.
Thứ nhất, cần đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho giáo dục đại học công lập trên cơ sở phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm giải trình
Tự chủ đại học là xu hướng tất yếu của giáo dục đại học hiện đại, phản ánh sự chuyển đổi từ mô hình quản lý hành chính sang quản trị đại học dựa trên trách nhiệm và hiệu quả. Thực tiễn triển khai tự chủ đại học ở Việt Nam thời gian qua cho thấy, mặc dù quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học đã từng bước được mở rộng, song hiệu quả thực hiện còn hạn chế, do sự thiếu đồng bộ của khung thể chế và năng lực quản trị chưa theo kịp yêu cầu mới.
Vấn đề cốt lõi hiện nay không chỉ nằm ở phạm vi quyền tự chủ, mà ở cách thức thiết kế mối quan hệ giữa quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình. Khi khung pháp lý còn chồng chéo giữa các lĩnh vực giáo dục, tài chính công, tài sản công và quản lý cán bộ, quyền tự chủ khó có thể được thực thi một cách thực chất. Do đó, hoàn thiện thể chế tự chủ đại học cần được tiếp cận như một quá trình cải cách quản trị, trong đó Nhà nước chuyển mạnh từ vai trò “can thiệp trực tiếp” sang “kiến tạo, giám sát và bảo đảm chất lượng”.
Cùng với mở rộng quyền tự chủ, việc thiết lập cơ chế trách nhiệm giải trình dựa trên kiểm định chất lượng, công khai thông tin và giám sát xã hội có ý nghĩa quyết định. Tự chủ chỉ thực sự phát huy tác dụng khi các cơ sở giáo dục đại học chịu trách nhiệm trước Nhà nước và xã hội về chất lượng đào tạo, hiệu quả sử dụng nguồn lực và kết quả đầu ra. Trên cơ sở đó, nâng cao năng lực quản trị đại học, đặc biệt là vai trò của quản trị dựa trên dữ liệu, trở thành điều kiện then chốt để bảo đảm tự chủ đại học gắn với phát triển bền vững.
Thứ hai, đổi mới, tập trung giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động và phát triển kinh tế - xã hội
Chất lượng đào tạo và mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động là thước đo quan trọng của hiệu quả giáo dục đại học. Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo, giáo dục đại học không thể tiếp tục vận hành theo lôgíc cung ứng truyền thống, mà cần chuyển mạnh sang mô hình đào tạo định hướng năng lực và chuẩn đầu ra.
Thực tiễn cho thấy, sự mất cân đối giữa cung - cầu lao động và khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động vẫn là vấn đề nổi cộm. Điều này đặt ra yêu cầu đổi mới chương trình đào tạo theo hướng linh hoạt, liên ngành và cập nhật thường xuyên, gắn chặt với yêu cầu nghề nghiệp và nhu cầu phát triển của từng ngành, lĩnh vực. Việc tích hợp các kỹ năng mềm, năng lực số và tư duy đổi mới sáng tạo vào chương trình đào tạo không chỉ giúp nâng cao khả năng thích ứng của người học, mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong dài hạn.
Bên cạnh đó, việc tăng cường gắn kết giữa đào tạo và thực tiễn nghề nghiệp cần được coi là trụ cột của đổi mới giáo dục đại học. Quan hệ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp không nên chỉ dừng lại ở khâu thực tập, mà cần được thể chế hóa thông qua sự tham gia của doanh nghiệp vào xây dựng chương trình, đánh giá chuẩn đầu ra và tuyển dụng sinh viên. Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao tính phù hợp của đào tạo, mà còn góp phần chia sẻ trách nhiệm phát triển nguồn nhân lực giữa Nhà nước, nhà trường và xã hội.
Thứ ba, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục đại học
Trong nền kinh tế tri thức, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo là chức năng cốt lõi tạo nên giá trị gia tăng của giáo dục đại học. Tuy nhiên, hoạt động nghiên cứu khoa học ở nhiều cơ sở giáo dục đại học Việt Nam hiện nay vẫn còn phân tán, thiếu trọng tâm và chưa gắn chặt với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu, cần chuyển từ cơ chế đầu tư dàn trải sang đầu tư có trọng điểm, ưu tiên phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và lĩnh vực mũi nhọn, phù hợp với chiến lược phát triển quốc gia. Đồng thời, việc gắn kết nghiên cứu khoa học với đào tạo, đặc biệt là đào tạo sau đại học, có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành năng lực nghiên cứu và tư duy sáng tạo cho người học.
Mặt khác, tăng cường liên kết giữa nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp là điều kiện cần thiết để thúc đẩy ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Việc phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp trong các trường đại học không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu, mà còn tạo động lực mới cho phát triển giáo dục đại học trong bối cảnh chuyển đổi số.
Thứ tư, phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu mới
Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý là nhân tố quyết định chất lượng và năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học. Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học, yêu cầu đối với đội ngũ không chỉ dừng ở trình độ chuyên môn, mà còn bao gồm năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại.
Việc phát triển đội ngũ cần được tiếp cận một cách chiến lược, gắn với định hướng phát triển của từng cơ sở giáo dục đại học và của toàn hệ thống. Ưu tiên nâng cao tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sỹ, có kinh nghiệm nghiên cứu và hội nhập quốc tế là yêu cầu quan trọng, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ và kinh tế số. Đồng thời, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá đội ngũ theo chuẩn năng lực và kết quả đầu ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng và tính chuyên nghiệp của đội ngũ.
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý, việc trang bị kiến thức và kỹ năng quản trị đại học hiện đại, quản trị tài chính, kiểm định chất lượng và quản trị dựa trên dữ liệu là điều kiện tiên quyết để thực hiện tự chủ đại học. Chuyên nghiệp hóa đội ngũ quản lý không chỉ nâng cao hiệu quả điều hành, mà còn tăng cường trách nhiệm giải trình và tính minh bạch trong hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học.
Thứ năm, đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số và quốc tế hóa giáo dục đại học
Chuyển đổi số và quốc tế hóa đang trở thành những động lực quan trọng, góp phần tái cấu trúc giáo dục đại học. Quá trình này ở Việt Nam hiện nay còn thiếu đồng đều, cả về hạ tầng công nghệ, năng lực số của đội ngũ và chất lượng giáo dục.
Chuyển đổi số trong giáo dục đại học cần được tiếp cận như một quá trình đổi mới toàn diện, từ quản trị đại học đến đào tạo và nghiên cứu khoa học. Việc phát triển các mô hình đào tạo linh hoạt, kết hợp trực tuyến và trực tiếp không chỉ mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, mà còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đồng thời, nâng cao năng lực số cho giảng viên, cán bộ quản lý và người học là điều kiện tiên quyết để chuyển đổi số thực chất.
Song song với đó, quốc tế hóa giáo dục đại học cần được triển khai theo hướng nâng cao chất lượng, tránh hình thức. Mở rộng hợp tác đào tạo, nghiên cứu và trao đổi học thuật với các đối tác quốc tế, kết hợp với chuẩn hóa chương trình đào tạo theo chuẩn khu vực và quốc tế, sẽ góp phần nâng cao vị thế và uy tín của giáo dục đại học Việt Nam trong không gian tri thức toàn cầu.Top of Form
Bottom of Form
Thứ sáu, bảo đảm phát triển giáo dục đại học bền vững, cân đối và công bằng
Phát triển giáo dục đại học bền vững đòi hỏi sự cân đối giữa mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng, giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội. Thực tiễn cho thấy, sự chênh lệch về điều kiện bảo đảm chất lượng và cơ hội tiếp cận giáo dục đại học giữa các vùng miền và nhóm xã hội vẫn là thách thức lớn.
Do đó, việc thực hiện hiệu quả quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, có ý nghĩa quan trọng trong sử dụng hiệu quả nguồn lực và nâng cao chất lượng đào tạo. Đồng thời, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học thông qua các chính sách học bổng, tín dụng sinh viên và đào tạo linh hoạt sẽ góp phần mở rộng cơ hội học tập cho các nhóm yếu thế.
Bên cạnh đó, việc tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các loại hình cơ sở giáo dục đại học, công lập và ngoài công lập, trên cơ sở bảo đảm chất lượng và quyền lợi của người học là yếu tố quan trọng để xây dựng hệ thống giáo dục đại học phát triển cân đối, hiệu quả và bền vững trong dài hạn.
3. Kết luận
Phát triển giáo dục đại học là một nhân tố quan trọng, góp phần quyết định sự thành công của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong kỷ nguyên mới, giáo dục đại học giữ vai trò trung tâm trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển khoa học - công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Thực tiễn phát triển giáo dục đại học Việt Nam thời gian qua cho thấy những chuyển biến tích cực, song vẫn còn không ít hạn chế, đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về thể chế, quản trị, chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ tạo nền tảng vững chắc để giáo dục đại học phát triển theo hướng chất lượng, hiệu quả và bền vững, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
_________________
Ngày nhận bài: 28-2-2026; Ngày quyết định đăng:15-5-2026.
Email tác giả: tsnguyenduyhanh@gmail.com
Báo Nhân Dân (28/12/2025). 10 kết quả nổi bật của lĩnh vực giáo dục và đào tạo năm 2025. https://nhandan.vn/10-ket-qua-noi-bat-cua-linh-vuc-giao-duc-va-dao-tao-nam-2025-post933665.html
Bích Ngọc (18/6/2025). Việt Nam có 16 cơ sở đại học lọt BXH trường có tầm ảnh hưởng thế giới. Báo điện tử Dân trí. https://dantri.com.vn/giao-duc/viet-nam-co-16-co-so-dai-hoc-lot-bxh-truong-co-tam-anh-huong-the-gioi-20250618120733274.htm
Cục Quản lý chất lượng (2025). Kết quả kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục đại học năm 2024, 2025. Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Nguyễn Thúy Quỳnh (2022), Vai trò của giáo dục đại học đối với đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam giai đoan 2000-2020, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 5/2022, tr.79-89.
Thanh Xuân (30/12/2025). Đổi mới mạnh mẽ, ngành giáo dục và đào tạo đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng cho những đột phá dài hạn. Trang thông tin chính thức của Đại hội Đảng XIV. https://daihoidangtoanquoc.vn/doi-moi-manh-me-nganh-giao-duc-va-dao-tao-dat-nhieu-ket-qua-tich-cuc-tao-nen-tang-cho-nhung-dot-pha-dai-han-post1309.html