DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.6628
Tóm tắt: Trong lĩnh vực nông nghiệp, để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa với các mục tiêu phát triển nền nông nghiệp hiện đại, nhanh và bền vững, trước hết phải phát triển nguồn nhân lực. Bài viết tập trung làm rõ thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay.
ThS NGUYỄN HỒNG THẬT
Trường Chính trị tỉnh Tây Ninh

1. Mở đầu
Nguồn nhân lực luôn là yếu tố quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. Đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, lĩnh vực có vị trí, vai trò nền tảng trong bảo đảm an ninh lương thực, ổn định xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng, phát triển bền vững đất nước, nguồn nhân lực nông nghiệp có vai trò quyết định.
Trong đó, nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao đóng vai trò quan trọng thực hiện xây dựng một nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản phẩm nông nghiệp có năng suất, chất lượng cao, tăng khả năng cạnh tranh. Đồng thời, tạo sinh kế bền vững và xây dựng nông thôn văn minh, cơ cấu kinh tế và các hình thức sản xuất phù hợp; gắn phát triển nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ; giữ gìn cảnh quan, môi trường sinh thái.
Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp tạo nền tảng, tiền đề vật chất - kỹ thuật cho xã hội, cải thiện tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, thấp kém, phát triển nền kinh tế nông nghiệp hiện đại, máy móc, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; tạo nền tảng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc xác lập, củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa và củng cố hệ thống chính trị, tăng cường an ninh quốc phòng ở khu vực nông thôn...
Trong quá trình đó, nguồn nhân lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp định hình, đó là nguồn nhân lực tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, ứng dụng máy móc, khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra các sản phẩm năng suất, chất lượng, hiệu quả, tăng khả năng cạnh tranh. Nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp yêu cầu bảo đảm đầy đủ các yếu tố về cơ cấu độ tuổi, chuyên môn, trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm, có phẩm chất đạo đức, tham gia vào sản xuất nông nghiệp. Đủ năng lực vận hành và ứng dụng hiệu quả máy móc, trang thiết bị khoa học, kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, có khả năng thích ứng với những đòi hỏi và thay đổi của tình hình thực tiễn.
2. Nội dung
2.1. Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp hiện nay
Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là phát triển nguồn lực con người trong lĩnh vực nông nghiệp, về cơ cấu, số lượng, có thể lực tốt, có phẩm chất, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có khả năng ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất; góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động, tạo ra những sản phẩm nông nghiệp năng suất, chất lượng, hiệu quả, hướng đến mục tiêu xây dựng nông nghiệp công nghệ cao, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh.
Phát triển nguồn nhân lực luôn là vấn đề trọng tâm trong chiến lược phát triển quốc gia. Đại hội VIII (năm 1996) đề ra mục tiêu, chiến lược của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trong đó xác định phát triển nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để thực hiện thắng lợi sự nghiệp to lớn này. Đại hội nhấn mạnh: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (ĐCSVN, 1995, tr.13).
Đại hội XII đề ra nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược nhằm thực hiện mục tiêu phát triển đất nước, trong đó “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao…” (ĐCSVN, 2021, tr.203) là một đột phá chiến lược.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao càng đóng vai trò quyết định sự phát triển. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh một trong những đột phá chiến lược là “…nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài” (ĐCSVN, 2026, tr.147).
Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nêu rõ, nông nghiệp, nông dân, nông thôn là ba thành tố có quan hệ mật thiết, gắn bó, không thể tách rời; có vai trò, vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở, lực lượng to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường... Tiếp tục ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Bảo đảm phát triển hài hòa giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, miền, địa phương; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp, giữa phát triển nông thôn bền vững với quá trình đô thị hoá theo hướng “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh” (Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, 2022).
Đồng thời, định hướng phát triển nông nghiệp ở các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, diêm nghiệp.
Theo đó, phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp trước hết hướng đến mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nhằm xây dựng một nền nông nghiệp phát triển hiện đại, sản xuất hàng hoá lớn, ứng dụng các mô hình sản xuất hiện đại; kết hợp công nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số nhằm nâng cao chất lượng lao động và hiệu quả ngành nông nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực quốc gia, là lực lượng quan trọng, nòng cốt quyết định đến hiệu quả phát triển kinh tế xã hội đất nước.
Trong bối cảnh mới, phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp là tập trung phát triển người lao động có thể lực tốt, có phẩm chất tốt, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật nông nghiệp cao, nhạy bén, sáng tạo có khả năng thích ứng với những thay đổi thực tiễn và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là điều kiện cơ bản bảo đảm cho việc thực hiện hiệu quả mục tiêu Chương trình xây dựng nông thôn mới; điều kiện để xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, năng suất, chất lượng và hiệu quả.
2.2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Trong những năm qua, phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, diêm nghiệp. Tuy nhiên, nguồn nhân lực nông nghiệp, nhất là nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao còn thiếu và yếu; chưa có nhiều chuyên gia làm chủ công nghệ, kỹ thuật cao; nguồn nhân lực nông nghiệp qua đào tạo còn hạn chế.
Về cơ cấu, số lượng, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp giảm mạnh trong những năm qua. Từ 24,28 triệu lao động năm 2011, giảm xuống 22,18 triệu lao động năm 2016 (trung bình mỗi năm giảm 460 nghìn lao động). Đến năm 2021, là 14,26 triệu người, bình quân giảm 1,5 triệu lao động mỗi năm từ 2016-2021. Bình quân cả giai đoạn 2011-2021 giảm khoảng 1 triệu lao động nông, lâm, thuỷ sản mỗi năm.
Số lượng và cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên của ngành nông, lâm, thủy sản giảm từ 17,7 triệu người (chiếm 33,1% lao động cả nước) năm 2020 xuống còn 14,3 triệu người (chiếm 29,1%) năm 2021.
Về cơ cấu tuổi, so với cơ cấu lao động chung của cả nước, lao động nông, lâm, thủy sản có tỷ lệ người lớn tuổi cao hơn. Số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp từ 40 trở lên chiếm 65,2% (năm 2021); từ 50 tuổi trở lên chiếm 42,8%. Trong khi, tỷ lệ lao động từ 40 tuổi trở lên của cả nước là 51,3%; từ 50 tuổi trở lên là 27,2% (Tổng cục Thống kê, 2012 - 2021).
Về trình độ, trình độ chuyên môn, kỹ năng của lao động nông nghiệp đã được cải thiện, song vẫn còn tỷ lệ cao chưa có bằng cấp, lao động giản đơn.
Số lượng lao động có chứng chỉ chuyên môn đã được cải thiện trong giai đoạn 2011- 2021 nhưng nhìn chung còn thấp và tốc độ cải thiện chậm.
Tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật tăng từ 2,7% năm 2011 lên 4,1% năm 2021. Tuy vậy, đến năm 2021 vẫn còn 13,6 triệu lao động nông, lâm, thuỷ sản không có bằng/chứng chỉ chuyên môn từ sơ cấp trở lên (chiếm 95,9% tổng số lao động nông, lâm, thuỷ sản). Lao động có xu hướng lựa chọn các khóa ngắn hạn (sơ cấp…) hoặc đại học hơn là tham gia các khóa đào tạo trung cấp, cao đẳng.
Xu hướng chuyển dịch từ lao động giản đơn sang lao động có kỹ năng diễn ra mạnh mẽ. Đã có khoảng 17% lao động nông, lâm, thuỷ sản chuyển từ lao động giản đơn sang lao động có kỹ năng. Tuy vậy, nhóm lao động giản đơn vẫn chiếm tỷ lệ lớn, năm 2021 là 8,1 triệu người, tương đương 57,0% (Tổng cục Thống kê, 2012- 2021).
Về năng suất lao động, năng suất lao động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản của Việt Nam được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Năm 2011, năng suất lao động nông, lâm, thuỷ sản là 23,5 triệu đồng/người/năm; đến năm 2016 tăng lên 35,1 triệu đồng và năm 2021 đạt 74,4 triệu đồng. Tuy vậy, năng suất lao động nông, lâm, thủy sản vẫn còn thấp, năm 2021 chỉ bằng 62,9% năng suất lao động chung cả xã hội (118,3 triệu đồng/người/năm), bằng 57,2% năng suất lao động trong ngành công nghiệp - xây dựng; 52,9% lao động trong ngành dịch vụ.
Thực tế thu nhập bình quân của lao động nông, lâm, thủy sản thấp nhất trong các nhóm ngành. Năm 2021, đạt 3,5 triệu đồng/người/tháng, bằng 62,0% thu nhập của chung của cả nước; bằng 56,2% thu nhập của lao động trong ngành công nghiệp; bằng 54,7% thu nhập lao động làm việc trong ngành xây dựng và chỉ bằng 47,3% thu nhập trong các ngành dịch vụ (Tổng cục Thống kê, 2012- 2021).
Như vậy, lao động nông nghiệp trong những năm qua đã có những bước cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn một số hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, mục tiêu phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh nói riêng.
Do đó, để phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững thì việc đào tạo nguồn nhân lực là giải pháp then chốt, có vai trò quan trọng, mang tính quyết định đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. Cần đào tạo nguồn nhân lực có đủ kiến thức, kỹ năng, phẩm chất và thái độ, đáp ứng các yêu cầu và đòi hỏi của nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nền nông nghiệp thông minh và đưa sản phẩm nông nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
2.3. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền trong triển khai hiệu quả chủ trương, chính sách về phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp
Các cấp ủy đảng cần tăng cường đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đề ra những chủ trương, chính sách phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao; xây dựng và thực hiện hiệu quả các chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao gắn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp của địa phương.
Các cấp ủy, chính quyền cần có những chính sách phát triển nguồn nhân nông nghiệp có trình độ chuyên môn, kỹ năng, tay nghề, thể lực và phẩm chất đạo đức. Trong đó, chú trọng chính sách đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao, trang bị cho người lao động kiến thức chuyên môn kỹ thuật công nghệ cao, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, đủ khả năng tiếp nhận và ứng dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại trong sản xuất nông nghiệp.
Tăng cường đổi mới, hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo nghề nghiệp ngành nông nghiệp theo hướng tinh gọn, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Chú trọng dành nguồn lực cho đào tạo nguồn nhân lực thực hiện những nhiệm vụ trọng yếu trong quản lý, kiến tạo ra giá trị mới cho ngành nông nghiệp.
Chú trọng thu hút nhân tài trong lĩnh vực nông nghiệp, trọng dụng, thu hút nhân lực nông nghiệp công nghệ cao, giảm thủ tục hành chính rườm rà, minh bạch thông tin, quy trình hóa công việc. Gắn công tác thu hút nhân tài với đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng, bảo đảm chất lượng, nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp và đạo đức, trách nhiệm.
Thứ hai, nâng cao nhận thức của nguồn nhân lực nông nghiệp tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Nâng cao phẩm chất nghề nghiệp, ý chí tự lực, tự cường, cần mẫn, chăm chỉ, kiên nhẫn, đồng thời tăng cường phẩm chất năng động sáng tạo của nguồn nhân lực nông nghiệp. Nâng cao nhận thức về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển nông nghiệp trong giai đoạn mới, cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái. Trong đó, xác định rõ vai trò chủ thể của nhân lực nông nghiệp.
Từ đó, nguồn nhân lực nông nghiệp thấy rõ được vai trò, trách nhiệm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp; nâng cao ý thức tự giác, chủ động tích cực trong học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề và yên tâm lao động sản xuất, gắn bó với nghề nghiệp; tích cực tham gia các lớp học bồi dưỡng để tiếp thu những kiến thức, khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại, ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp theo hướng: phát triển nền nông nghiệp bền vững, bảo đảm cơ hội phát triển cho các thế hệ tương lai, có khả năng thích ứng và chống chịu biến động, cân đối, hài hòa các yêu tố môi trường, xã hội và kinh tế, tái tạo nguyên liệu, năng lượng,... trong sản xuất, góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng năm 2030 GDP ngành nông nghiệp khoảng 3%/năm; tăng năng suất lao động nông nghiệp bình quân từ 5,5- 6%/năm.
Cụ thể hóa quan điểm lấy người nông dân là trung tâm, là chủ thể phát triển nông nghiệp sinh thái, là trọng tâm phát triển, bảo đảm tiếp cận bình đẳng. Đồng thời, có chính sách phát triển nguồn nhân lực hướng đến thực hiện bảo đảm công bằng, phúc lợi xã hội ở nông thôn, tạo điều kiện để nguồn nhân lực nông nghiệp yên tâm lao động, cống hiến và nâng cao trình độ bản thân.
Thứ ba, tăng cường đổi mới giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp.
Đa dạng giáo dục đào tạo nghề nghiệp, đa dạng hóa loại hình đào tạo, cách thức tuyên truyền, vận động bảo đảm hiệu quả, lan toả. Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp bảo đảm thực chất, hiệu quả, trang bị chuyên môn, kỹ năng nghề, xây dựng nguồn nhân lực nông nghiệp hợp lý về cơ cấu, ngành nghề, đáp ứng yêu cầu công nghiêp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp; góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng nền nông nghiệp.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp; thường xuyên rà soát, bổ sung ngành nghề đào tạo phù hợp với nhu cầu người học và tình hình thực tế của ngành nông nghiệp.
Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần chú trọng đến giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp để đáp ứng những yêu cầu của công nghiêp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp; kiến thức về vệ sinh lao động, pháp luật, kinh doanh, các kỹ năng mềm và đổi mới sáng tạo cho lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Nhân lực nông nghiệp đang hàng ngày lao động, sản xuất ra các sản phẩm phục vụ trực tiếp cuộc sống con người và liên quan trực tiếp đến môi trường sinh thái. Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của nhân lực trong sản xuất nông nghiệp là yếu tố có ý nghĩa quyết định gốc những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao và bảo đảm yêu cầu giữ gìn môi trường sinh thái. Việc nhân lực nông nghiệp thực hiện nghiêm các quy định về an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường sinh thái, coi trọng sức khỏe người tiêu dùng có ý nghĩa quyết định đến sản phẩm và giữ gìn môi trường. Nếu nhân lực nông nghiệp vi phạm đạo đức trong sản xuất, tuyệt đối hóa lợi ích kinh tế, lợi nhuận thì hậu quả xã hội và môi trường là rất lớn.
Tăng cường liên kết giữa đào tạo nghề cho lao động nông nghiệp với các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp. Hỗ trợ đào tạo gắn với nhu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, phục vụ các chuỗi liên kết, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu mới của thị trường; phấn đấu đến năm 2030 đạt tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 20%; bình quân hàng năm đào tạo nghề cho khoảng 1,5 triệu lao động nông thôn (Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, 2022).
Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong tất cả các khâu của quá trình đào tạo. Nghiên cứu, đổi mới nội dung chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, trung cấp theo hướng mở, linh hoạt, phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động và người học.
Thứ tư, tập trung phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho nguồn nhân lực nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và khả năng cạnh tranh.
Tập trung thực hiện các chương trình, kế hoạch triển khai đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tiếp tục tập trung đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyên giao ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong các ngành, lĩnh vực quan trọng cho nguồn nhân lực nông nghiệp theo định hướng đột phá phát triển. Góp phần vào thực hiện mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 đạt tốc độ tăng trưởng công nghiệp, dịch vụ nông thôn bình quân 10%/ năm; số xã đạt chuẩn nông thôn mới trên 90%; phấn đấu 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; số đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới trên 70%, trong đó phấn đấu 35% số đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42%, nâng cao năng suất, chất lượng rừng; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt nông thôn được thu gom, xử lý theo quy định đạt 90% (Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, 2022).
Đẩy mạnh triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách thúc đẩy hợp tác, liên kết giữa cơ quan quản lý, viện, trường, chuyên gia, doanh nghiệp nhằm huy động hiệu quả nguồn lực đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tăng cường hoạt động hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ. Tập trung thúc đẩy bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, phát triển và khai thác tài sản trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Hỗ trợ, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân khởi nghiệp từ việc nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ. Phát triển hạ tầng số đồng bộ theo hướng hiện đại, tập trung xây dựng các nền tảng số dùng chung, hoàn thiện cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kho cơ sở dữ liệu của tỉnh, kết hợp ứng dụng các công nghệ hiện đại phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, thúc đẩy chuyển đổi số; mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số thiết yếu phục vụ người dân và doanh nghiệp. Hướng dẫn tri thức số, kỹ năng số cho người dân, thúc đẩy phát triển xã hội số; thực hiện có hiêu quả phong trào “Bình dân học vụ số”; bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng trong mọi hoạt động.
Thứ năm, tăng cường hợp tác công - tư và chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp.
Chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm mục tiêu phát triển các thành phần kinh tế, trong đó tập trung khắc phục các yếu kém của kinh tế tập thể, nhất là đối với hợp tác xã nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu ngành nông nghiệp; khuyến khích phát triển hợp tác xã với hình thức mở rộng quy mô thành viên, hoạt động đa ngành; ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ sản xuất, kinh doanh; sản xuất theo chuỗi giá trị, liên kết với doanh nghiệp.
Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Tiếp tục phát huy vai trò kinh tế tư nhân theo hướng là động lực quan trọng của nên kinh tế; tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triên kinh tế tư nhân; hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp chất lượng cao, nâng cao năng suất lao động; đẩy mạnh đổi mới máy móc, trang thiết bị, quy trình sản xuất theo hướng hiện đại để tăng tính cạnh tranh. Huy động vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Các dự án đối tác công tư phải được nghiên cứu, chuẩn bị kỹ lưỡng; công tác chuẩn bị hồ sơ và công việc sơ bộ cần được ưu tiên và tập trung thực hiện trước khi bắt đầu các cuộc thảo luận đối tác công tư với các nhà đầu tư tiềm năng.
3. Kết luận
Phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Để xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tập trung xây dựng và phát triển nguồn nhân lực lớn mạnh về số lượng và chất lượng, trong tất cả các lĩnh vực, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp một cách toàn diện góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV: “Nông nghiệp từng bước phát triển theo hướng sinh thái, xanh, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng, hiệu quả, tiếp tục phát huy vai trò “trụ đỡ” trong nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia” (ĐCSVN, 2026, tr.47-48), là điều kiện và động lực để nước ta sớm trở thành nước phát triển nhanh và bền vững; đáp ứng yêu cầu thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
_________________
Ngày nhận bài: 8/4/2026; Ngày bình duyệt: 5/5/20226; Ngày quyết định đăng: 8/5/2026.
Email tác giả: e7057300028@hoeit.edu.vn
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
ĐCSVN (1995). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Nxb Chính trị quốc gia.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập 1). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Tổng cục Thống kê (2012-2021). Niên giám thống kê dân số và lao động.