Tóm tắt: Kiểm soát quyền lực là một trong những yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát quyền lực gắn kết đồng bộ với kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực trong tình hình mới. Bài viết tập trung làm rõ sự phát triển lý luận của Đảng về kiểm soát quyền lực, thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
TS LÊ THỊ HÀ
Viện Xây dựng Đảng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Kiểm soát quyền lực là một trong những yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta ngày càng nhận thức rõ, quyền lực nếu không được kiểm soát chặt chẽ có thể dẫn đến lạm quyền, tha hóa quyền lực, tham nhũng, tiêu cực và làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Vì vậy, kiểm soát quyền lực không chỉ là yêu cầu về mặt thể chế mà còn là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Trong định hướng phát triển đất nước thời kỳ mới, quan điểm của Đại hội XIV tiếp tục đặt yêu cầu kiểm soát quyền lực trong mối quan hệ chặt chẽ với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Kiểm soát quyền lực để phòng ngừa vi phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương và bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích, đúng thẩm quyền, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Việc nghiên cứu, làm rõ quan điểm của Đại hội XIV về kiểm soát quyền lực vì thế có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần nhận diện những yêu cầu mới trong công tác xây dựng hệ thống chính trị và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
2. Nội dung
2.1. Thực trạng kiểm soát quyền lực
a) Những kết quả đạt được
Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, công tác kiểm soát quyền lực và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã đạt được những bước tiến mang tính bước ngoặt, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn hệ thống chính trị. Sự quyết liệt này không chỉ dừng lại ở mặt chủ trương, mà đã được cụ thể hóa thành hệ thống quy chế, quy định rõ ràng, siết chặt kỷ luật từ khâu tổ chức, quản lý cán bộ cho đến hoạt động vận hành bộ máy.
Kết quả đó đã được Đảng ta khẳng định: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kiểm soát quyền lực được đặc biệt coi trọng, triển khai toàn diện, đồng bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu, sự đoàn kết, thống nhất, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng” (ĐCSVN, 2026a, tr.377).
Thực tiễn, Đảng đã chọn đúng các khâu yếu, việc khó để tập trung kiểm soát. Điển hình là việc siết chặt kỷ cương trong kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, một công cụ hữu hiệu nhằm công khai, minh bạch hóa việc vận hành quyền lực, triệt tiêu cơ hội tẩu tán tài sản tham nhũng hoặc trục lợi từ quyền lực công. Đại hội XIV đã chỉ rõ: “Các cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc kê khai, công khai và kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập nhằm phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (...) Từ năm 2023, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập đối với 131 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập 216 trường hợp; số đảng viên được ủy ban kiểm tra các cấp tiến hành xác minh tài sản, thu nhập là 16.642 trường hợp. Qua kiểm tra đã phát hiện 182 trường hợp vi phạm, số vi phạm đến mức phải kỷ luật là 6 trường hợp, đã thi hành kỷ luật 5 trường hợp (có 1 trường hợp cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý)” (ĐCSVN, 2026a, tr.366-367).
Điều này thể hiện quyết tâm chính trị và năng lực tự chỉnh đốn, siết chặt kỷ luật của Đảng. Việc xử lý kiên quyết, công khai cả đối với cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý đã đập tan luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch hoài nghi về không có “vùng cấm” hay “ngoại lệ”, tạo hiệu ứng răn đe, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với quyết tâm chính trị của Đảng.
b) Hạn chế, bất cập trong kiểm soát quyền lực
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, khách quan và khoa học, Đảng ta đánh giá, công tác kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh mới.
Thứ nhất, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước vận hành chưa thực sự hiệu lực, hiệu quả
Việc phân định chức năng, thẩm quyền và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở một số khâu vẫn còn chồng chéo, dẫn đến tình trạng vừa lạm quyền, vừa đùn đẩy trách nhiệm. Đại hội XIV chỉ rõ: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn còn có mặt hạn chế. Sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp có mặt chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ; hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước chưa cao” (ĐCSVN, 2026a, tr.68). Bên cạnh đó, “Quyền lực nhà nước chưa được kiểm soát hiệu quả, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện; cơ chế bảo đảm vai trò chủ thể, chủ quyền Nhân dân trong mối quan hệ với Nhà nước chưa đầy đủ, quyền làm chủ của Nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm” (ĐCSVN, 2026b, tr.226).
Thứ hai, điểm nghẽn trong thực thi công vụ đang gây thất thoát, lãng phí nguồn lực quốc gia.
Căn bệnh nói nhiều, làm ít, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm không chỉ làm chậm nhịp độ phát triển mà còn trực tiếp gây lãng phí tài nguyên, tài sản của Nhà nước và nhân dân. Đại hội XIV đã chỉ rõ: “Song song với cải cách, phải xây dựng kỷ luật pháp quyền và kỷ luật thực thi. Kiên quyết khắc phục bằng được tình trạng: “Luật thì đúng mà làm thì khó”, “trên nghị trường thì thông, dưới cơ sở thì vướng”, “trên nóng, dưới lạnh”, “nói nhiều, làm ít”, “quyết sách đúng nhưng thực thi chậm”, gây lãng phí nguồn lực, làm giảm niềm tin của Nhân dân. Đồng thời thiết kế cơ chế kiểm soát quyền lực để quyền lực luôn trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc và niềm tin của Nhân dân” (ĐCSVN, 2026a, tr.29).
Thứ ba, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ chưa thực sự chặt chẽ.
Công tác đánh giá cán bộ ở một số nơi vẫn mang tính hình thức, chưa chuyển từ đánh giá quá trình sang đánh giá trên cơ sở sản phẩm, hiệu quả công việc thực tế làm thước đo. Tình trạng chạy chức, chạy quyền hay lúng túng trong vận hành bộ máy sau khi sắp xếp, tinh gọn vẫn diễn ra, nhất là ở cấp cơ sở và cấp chiến lược. Đánh giá về bất cập này, Đại hội XIV chỉ rõ: “Công tác cán bộ còn một số bất cập, nhất là đánh giá cán bộ; kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ có mặt còn hạn chế. Một số tổ chức, cơ quan, đơn vị ở cấp xã sau sắp xếp, hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền mới trong thời gian đầu còn gặp khó khăn, lúng túng, nhất là cơ quan hành chính và các đoàn thể” (ĐCSVN, 2026a, tr.67-68). Đồng thời, Đảng ta chỉ rõ: “Công tác cán bộ vẫn còn những tồn tại, yếu kém nhất định; công tác đánh giá cán bộ còn chưa toàn diện, chính xác, đầy đủ; kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, quản lý cán bộ cấp chiến lược có mặt còn hạn chế” (ĐCSVN, 2026a, tr.380).
Có thể thấy, trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo toàn diện hệ thống chính trị, việc thiết lập một cơ chế kiểm soát quyền lực vừa bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, vừa phát huy tối đa hiệu lực quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân là một vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách. Đại hội XIV đã thẳng thắn chỉ ra: “Nhận thức lý luận về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực có lúc, có nơi chưa thực sự sâu sắc, đầy đủ, thống nhất. Nhận thức lý luận về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng chưa đầy đủ, sâu sắc...” (ĐCSVN, 2026b, tr.217). Cùng với đó: “Trong xây dựng Đảng còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ như: Phương thức lãnh đạo, cầm quyền, cơ chế kiểm soát quyền lực, phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền; phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng còn nhiều hạn chế” (ĐCSVN, 2026b, tr.234). Điều này dẫn đến, việc thể chế hóa thành các quy định pháp luật vẫn còn nhiều điểm bất cập và thiếu sự đồng bộ. Đại hội XIV chỉ rõ: “Một số vấn đề lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa được luận giải thấu đáo như: Quyền lực nhà nước thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; vị trí, vai trò của Chủ tịch nước. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước chưa hoàn thiện; cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, quyền con người, quyền công dân có mặt chưa được phát huy đầy đủ” (ĐCSVN, 2026b, tr.235).
2.2. Sự phát triển lý luận về kiểm soát quyền lực trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
a) Hoàn thiện lý luận về chủ thể, đối tượng, cơ chế kiểm soát quyền lực
Chủ thể kiểm soát quyền lực trong Văn kiện Đại hội XIV được mở rộng. Quyền lực xuất phát từ đâu thì kiểm soát phải bao phủ đến đó; mọi chủ thể nắm giữ và vận hành quyền lực trong toàn bộ hệ thống chính trị đều phải đặt dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt. Đại hội XIV khẳng định: “Qua thực tiễn, đối tượng của kiểm soát quyền lực được mở rộng từ kiểm soát quyền lực nhà nước tới kiểm soát quyền lực của các cơ quan đảng, các cá nhân trong bộ máy đảng và hệ thống chính trị. Chủ thể kiểm soát quyền lực đã được nhận thức rộng hơn, không chỉ là các cơ quan có trách nhiệm trong bộ máy của Đảng, Nhà nước mà còn từ các chủ thể khác trong hệ thống chính trị. Kiểm soát quyền lực bao gồm kiểm soát từ bên trong và kiểm soát từ bên ngoài Nhà nước và hệ thống chính trị” (ĐCSVN, 2026b, tr.98).
Sự mở rộng này chính là sự nhận thức đúng với bản chất cốt lõi của nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa - tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, do nhân dân ủy quyền cho Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý. Việc kiểm soát quyền lực không thể chỉ giới hạn trong nội bộ bộ máy, tức là phương thức kiểm soát từ bên trong thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước, mà phải tăng cường kiểm soát từ bên ngoài thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và sự giám sát trực tiếp của nhân dân. Việc phối hợp chặt chẽ giữa phương thức kiểm soát từ bên trong và bên ngoài sẽ xóa bỏ triệt để tư duy “độc quyền kiểm soát” và các kẽ hở thể chế, bảo đảm cho quyền lực công luôn được thực thi đúng đắn, phục vụ lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc và nhân dân.
b) Thể chế hóa nguyên tắc quyền lực gắn liền với trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm chính trị
Nhận diện rõ nguy cơ lạm quyền, lộng quyền, Đảng ta đã tập trung hoàn thiện các nguyên tắc kiểm soát quyền lực, gắn liền với thượng tôn pháp luật và siết chặt kỷ luật, kỷ cương nhằm bảo đảm quyền lực nhân dân được giao phải được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và có trách nhiệm. Đại hội XIV nêu rõ: “Nguyên tắc bao trùm là: “Mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; bất kể ai lạm dụng, lợi dụng quyền lực để trục lợi đều phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm” (ĐCSVN, 2026b, tr.98). Luận điểm quan trọng này đã khẳng định, quyền lực luôn đi đôi với trách nhiệm và phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật để ngăn chặn tình trạng lạm quyền, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Khi quyền lực gắn chặt với trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm chính trị, không một cá nhân hay tổ chức nào có thể đứng ngoài hoặc đứng trên kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Kiểm soát quyền lực không phải là sự kìm hãm hay triệt tiêu tính chủ động của bộ máy, mà chính là thước đo giúp Nhà nước tự điều chỉnh, hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIV yêu cầu: “Nhận thức rõ hơn về vai trò của kiểm soát quyền lực nhà nước là phương tiện để Nhà nước tự mình giữ vững và phát huy bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là nhiệm vụ quan trọng, kiên trì, lâu dài trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (ĐCSVN, 2026b, tr.102).
c) Nhận diện lãng phí là căn bệnh nguy hại, đặt ngang hàng với tham nhũng và tiêu cực
Trước Đại hội XIV, công tác phòng, chống lãng phí chưa thực sự được chú trọng đúng mức và chưa song hành tương xứng với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng diễn ra rất quyết liệt, mạnh mẽ, nhưng công tác phòng, chống lãng phí đôi khi còn chưa tạo được chuyển biến mạnh mẽ và đồng bộ trong thực tiễn. Đến Đại hội XIV, Đảng ta đã có bước tiến mới về mặt lý luận khi đặt lãng phí ngang hàng với tham nhũng và tiêu cực trong chỉnh thể công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lãng phí là “giặc nội xâm”, gây hậu quả nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Xét về bản chất kinh tế và chính trị, tham nhũng là hành vi biến của công thành của tư, trong khi lãng phí là hành vi làm tổn hại, suy giảm hoặc triệt tiêu nguồn lực công mà không mang lại giá trị cho xã hội. Thiệt hại do lãng phí gây ra, từ tài nguyên đất đai, ngân sách cho đến việc làm thất thoát thời gian cùng cơ hội phát triển của đất nước, xét trên nhiều khía cạnh còn rộng lớn và tàn phá nghiêm trọng sức mạnh quốc gia hơn cả tham nhũng. Nhận thức này thể hiện tư duy quản trị quốc gia hiện đại của Đảng cầm quyền.
Mối quan hệ giữa công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã được cụ thể hóa trong Văn kiện Đại hội XIV thành chuẩn mực hành động mang tính nguyên tắc: “Không chỉ phòng, chống tham nhũng, lãng phí mà còn phải gắn phòng, chống tham nhũng, lãng phí với phòng, chống tiêu cực và phải được thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Gắn kiểm soát quyền lực với phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để bảo đảm quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, không bị tha hóa. Nhất quán phương châm “phòng ngừa từ sớm, từ xa, cả ngọn lẫn gốc”; kết hợp giữa “xây” và “chống”, trong đó phòng là chính, cơ bản, lâu dài, chống là quan trọng, đột phá; đấu tranh “không ngừng, không nghỉ”, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”” (ĐCSVN, 2026b, tr.98-99).
Luận điểm trên đã chỉ ra mối quan hệ giữa tham nhũng, lãng phí và tiêu cực và là hệ quả trực tiếp từ việc lạm dụng quyền lực và quản lý yếu kém. Việc đặt ba “căn bệnh” này trong một nhóm đối tượng đấu tranh giúp Đảng xây dựng một thế trận phòng, chống, đồng thời nâng cao năng lực tự bảo vệ của hệ thống chính trị.
Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XIV khẳng định yêu cầu xuyên suốt là: “tăng cường kiểm soát quyền lực; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (ĐCSVN, 2026a, tr.28). Quan điểm của Đại hội XIV thể hiện sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính và đấu tranh phòng, chống lãng phí như chống “giặc nội xâm”, đồng thời đáp ứng yêu cầu của thời mới. Đây là nền tảng lý luận định hướng việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
2.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu giải phóng mạnh mẽ các nguồn lực, tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Trong bối cảnh đó, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực không chỉ là yêu cầu của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn là điều kiện bảo đảm hiệu lực cầm quyền, hiệu quả quản trị quốc gia và phát triển bền vững. Để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng và cán bộ, đảng viên về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong tình hình mới
Nhận thức là tiền đề của hành động. Nâng cao nhận thức không dừng lại ở việc học tập nghị quyết thuần túy, mà phải đạt đến sự chuyển biến sâu sắc về tư duy, nhận diện lãng phí là căn bệnh nguy hại ngang hàng với tham nhũng, coi việc kiểm soát quyền lực là phương thức để Đảng và Nhà nước tự làm trong sạch, nâng cao hiệu năng quản trị. Hướng tới mục tiêu “Tăng cường kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước; tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; củng cố niềm tin, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa” (ĐCSVN, 2026a, tr.144).
Để triển khai hiệu quả, toàn hệ thống cần quán triệt và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới gắn với các chuẩn mực đạo đức cách mạng, đưa các chuẩn mực cần, kiệm, liêm, chính thành quy tắc ứng xử bắt buộc trong vận hành quyền lực công. Các cấp ủy chủ động “Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tăng cường kiểm soát quyền lực. Đổi mới mạnh mẽ phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở bảo đảm dân chủ, kỷ cương, trách nhiệm, sâu sát, khoa học, chuyên nghiệp, hiệu quả” (ĐCSVN, 2026a, tr.418-419), đồng thời tập trung “Nâng cao tính chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng; chủ động phòng ngừa, tự phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực trong nội bộ” (ĐCSVN, 2026a, tr.141).
Hai là, hoàn thiện thể chế nhằm triệt tiêu nguy cơ trục lợi chính sách và lợi ích nhóm
Thể chế là bệ đỡ pháp lý và cơ chế vận hành quyết định hiệu quả kiểm soát quyền lực. Yêu cầu quan trọng của việc hoàn thiện thể chế là xây dựng hệ thống quy phạm đồng bộ, khép kín, minh bạch, để quyền lực không thể bị thao túng. Định hướng chiến lược của Đảng trong giai đoạn hiện nay là “Hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực trong Đảng gắn đồng bộ với thể chế kiểm soát quyền lực trong toàn hệ thống chính trị” (ĐCSVN, 2026b, tr.265). Theo đó, các cơ quan chức năng cần luật hóa và vận hành hiệu quả cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực ngay trong quy trình xây dựng pháp luật, thực hiện nghiêm chỉ đạo “Kiểm soát chặt chẽ, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong việc xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật” (ĐCSVN, 2026a, tr.414) và “Tổ chức thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và phòng, chống lãng phí” (ĐCSVN, 2026a, tr.141). Quy trình thẩm định độc lập và việc công khai quá trình tiếp thu, giải trình đối với các dự thảo luật cần được áp dụng triệt để nhằm loại bỏ các quy định mang tính cài cắm lợi ích. Cùng với đó, việc thể chế hóa cơ chế phân cấp, phân quyền phải đi đôi với siết chặt kỷ cương: “Tăng cường siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đẩy mạnh phân cấp, kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả” (ĐCSVN, 2026a, tr.421), xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cấp để triệt tiêu tình trạng chồng chéo hoặc khoảng trống quản lý.
Ba là, siết chặt kỷ cương, kiểm soát quyền lực thực chất trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.309). Do vậy, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ không chỉ là yêu cầu của công tác tổ chức cán bộ mà còn là cơ chế để phòng ngừa lạm quyền, ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực từ gốc, bảo đảm năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Để khắc phục triệt để các hạn chế, bất cập trong khâu đánh giá, quy hoạch hay bổ nhiệm, Đảng yêu cầu “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ” (ĐCSVN, 2026a, tr.405).
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt và thực hiện nghiêm Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ, đồng thời tiếp tục đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng lấy kết quả, sản phẩm và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu, bảo đảm khách quan, thực chất và minh bạch trong công tác cán bộ. Quá trình này đòi hỏi “Phải có tầm nhìn xa trong chuẩn bị đội ngũ cán bộ, bảo đảm sự kế thừa, tiếp bước vững vàng giữa các thế hệ. Xây dựng cơ chế lựa chọn, bố trí đúng cán bộ tốt, hội tụ đủ đức, đủ tài, đủ tâm, đủ tầm, đủ sức, đủ nhiệt huyết cách mạng vào các vị trí lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị để gánh vác trọng trách lịch sử của đất nước” (ĐCSVN, 2026a, tr.405).
Bên cạnh đó, việc bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm phải đi đôi với thực hiện đồng bộ chủ trương “về bảo vệ, khuyến khích người tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (ĐCSVN, 2026a, tr.414). Đối với cấp cơ sở sau sắp xếp tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị cần tập trung “ưu tiên đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cơ sở, nhất là cán bộ cấp xã sau sắp xếp đơn vị hành chính. Tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ một cách thực chất và hiệu quả” (ĐCSVN, 2026a, tr.138).
Bốn là, đổi mới, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị
Kiểm tra, giám sát là phương thức lãnh đạo quan trọng hàng đầu để giữ vững kỷ cương của Đảng. Công tác này cần tiếp tục đổi mới theo hướng kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp chặt chẽ giữa kiểm tra của Đảng với thanh tra, kiểm toán của Nhà nước và điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Quá trình triển khai cần “Đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, gắn kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực khác; kiểm tra, giám sát là phương thức lãnh đạo chủ yếu, rất quan trọng để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng” (ĐCSVN, 2026a, tr.139). Đồng thời, các cơ quan chuyên trách phải “Thực hiện nghiêm việc kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán” (ĐCSVN, 2026a, tr.411). Theo đó, ngành Kiểm tra cần “Thực hiện nghiêm việc bố trí chức danh chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp ủy cấp tỉnh, cấp xã không phải là người địa phương (…) Thực hiện nghiêm quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng” (ĐCSVN, 2026a, tr.413). Công tác tự kiểm tra phải được tăng cường thông qua việc “Chú trọng nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát ngay từ chi bộ” (ĐCSVN, 2026a, tr.411), xử lý sớm các dấu hiệu vi phạm từ khi mới phát sinh, kết hợp với việc “Tăng cường triển khai các hoạt động phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, đi đôi với nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực từ bên trong và bên ngoài hệ thống chính trị” (ĐCSVN, 2026a, tr.181).
Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, công khai, minh bạch và phát huy vai trò giám sát trực tiếp từ nhân dân
Công khai, minh bạch là giải pháp hữu hiệu nhất để kiểm soát quyền lực, còn chuyển đổi số là công cụ kỹ thuật hiện đại để tự động hóa quá trình giám sát, loại bỏ sự can thiệp chủ quan của con người. Ngành Kiểm tra cần “Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, triển khai quyết liệt, đồng bộ các nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu “kiểm tra, giám sát trên dữ liệu” trong toàn ngành Kiểm tra” (ĐCSVN, 2026a, tr.413), kết nối liên thông hệ thống dữ liệu quốc gia để theo dõi biến động tài sản của người có chức vụ, quyền hạn. Bên cạnh kiểm soát nội bộ, Đại hội XIV nhấn mạnh: “Chủ thể kiểm soát quyền lực đã được nhận thức rộng hơn, không chỉ là các cơ quan có trách nhiệm trong bộ máy của Đảng, Nhà nước mà còn từ các chủ thể khác trong hệ thống chính trị. Kiểm soát quyền lực bao gồm kiểm soát từ bên trong và kiểm soát từ bên ngoài Nhà nước và hệ thống chính trị” (ĐCSVN, 2026b, tr.98). Đây là bước phát triển lý luận quan trọng, đòi hỏi phải hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời bảo đảm môi trường thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí cùng người dân tham gia tố giác, phản biện, giám sát, từ đó củng cố mối quan hệ máu thịt giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
3. Kết luận
Kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực là yêu cầu thường xuyên của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời là điều kiện bảo đảm năng lực cầm quyền của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Thực hiện đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát huy vai trò giám sát của nhân dân là yêu cầu để nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại. Đây cũng là hiện thực hóa mục tiêu mà Đại hội XIV xác định: “tiếp tục kiên trì xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tăng cường kỷ luật của Đảng, kỷ cương phép nước; hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực” (ĐCSVN, 2026b, tr.392), qua đó, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
_________________
Ngày nhận bài: 24/7/2026; Ngày bình duyệt: 25/8/2011; Ngày quyết định đăng: 19/9/2026.
Email tác giả: leha518@gmail.com
Tài liệu tham khảo
ĐCSVN (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVI (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVI (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.