Quốc tế

Tăng cường hợp tác kinh tế và hạ tầng Việt Nam - Campuchia

10/08/2026 14:53

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.3793
Tóm tắt: Hợp tác kinh tế, hạ tầng Việt Nam - Campuchia những năm gần đây tiếp tục xu hướng mở rộng. Bài viết làm rõ các cơ chế hợp tác kinh tế và hạ tầng chủ yếu giữa Việt Nam và Campuchia; đánh giá những thành công và hạn chế trong hợp tác; từ đó, đề xuất giải pháp thúc đẩy hợp tác kinh tế và hạ tầng cơ sở Việt Nam - Campuchia trong thời gian tới. Bài viết là sản phẩm của nhiệm vụ khoa học: “Xu hướng quan hệ của Thái Lan với Lào và Campuchia đến năm 2030, tầm nhìn 2045: Những vấn đề đặt ra và thích ứng chính sách của Việt Nam”.

TS TRƯƠNG QUANG HOÀN
Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương,
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

cdn.tienphong.vn-images-e1a235bd5f5c3e01eeaf2af6896f34495d5d8f7909e272211abcceca162367cbfe6041eb3c19037995f5d527e5b6ace0-_tp-br_img-1810.jpg.avif
Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Campuchia Hun Manet chứng kiến lễ trao kế hoạch hợp tác trong lĩnh vực thông tin giữa Việt Nam và Campuchia, tháng 6/2026_Ảnh: Báo Tiền phong

Strengthening Vietnam - Cambodia economic and infrastructure cooperation

Abstract: Economic and infrastructure cooperation between Vietnam and Cambodia in recent years has continued its expanding trend. The article clarifies the primary economic and infrastructure cooperation mechanisms between Vietnam and Cambodia; assesses the successes and limitations of this cooperation; and on that basis, proposes solutions to promote Vietnam - Cambodia economic and infrastructure cooperation in the coming time. The article is a product of the scientific mission: “Trends in Thailand's relations with Laos and Cambodia toward 2030, with a vision to 2045: Issues posed and policy adaptations for Vietnam”.

Keywords: Vietnam; Cambodia; economic and infrastructure cooperation.

1. Mở đầu

Hợp tác Việt Nam - Campuchia diễn ra trong nhiều khuôn khổ song phương và đa phương khu vực, tiểu vùng, trong đó, cơ quan điều phối hợp tác cao nhất giữa hai nước là Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - Campuchia về Hợp tác Kinh tế, Văn hóa, Khoa học và Kỹ thuật được thành lập từ năm 1994. Đây là những nền tảng quan trọng cho sự mở rộng hợp tác kinh tế và hạ tầng Việt Nam - Campuchia. Đến nay, Việt Nam là một trong những đối tác thương mại và đầu tư lớn hàng đầu của Campuchia, đồng thời Campuchia cũng là một trong những thị trường đầu tư ra nước ngoài lớn của Việt Nam (Tùng Linh, 2023). Đây là những kết quả tích cực trong bối cảnh kinh tế thế giới suy giảm, xung đột chính trị, vũ trang diễn ra tại nhiều quốc gia, khu vực. Tuy nhiên, hợp tác kinh tế, hạ tầng Việt Nam - Campuchia còn không ít hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước.

2. Nội dung

2.1. Các cơ chế hợp tác kinh tế và hạ tầng chủ yếu giữa Việt Nam và Campuchia

Trải qua hơn 70 năm phát triển, mối quan hệ Việt Nam và Campuchia đã vượt qua giai đoạn lịch sử đầy biến động để trở thành quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài, được thể chế hóa trên nhiều cấp độ khác nhau. Hai nước đã xây dựng một cơ chế điều phối hợp tác song phương đa tầng, đồng thời ký kết hàng loạt hiệp định và chương trình hành động chiến lược, tạo nền tảng pháp lý cho việc mở rộng liên kết kinh tế - chính trị trong khu vực (VCCI, 2023).

Cơ quan điều phối chính:

Cơ quan điều phối hợp tác cao nhất giữa hai nước là Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam - Campuchia về Hợp tác Kinh tế, Văn hóa, Khoa học và Kỹ thuật, được thành lập năm 1994. Cơ quan này do Bộ trưởng Ngoại giao hai nước đồng chủ trì, họp định kỳ thường niên để rà soát việc thực hiện các thỏa thuận, xây dựng kế hoạch hợp tác mới và giải quyết những vấn đề phát sinh. Tại các kỳ họp, hai bên thường ký kết biên bản ghi nhớ (MoU) và chương trình hợp tác giai đoạn 5 năm, nhằm định hướng chiến lược trung hạn trong các lĩnh vực ưu tiên như thương mại, đầu tư, giáo dục - đào tạo, y tế, quốc phòng, an ninh, biên giới và giao thông vận tải.

Cơ chế hoạt động của Ủy ban dựa trên sự phối hợp liên ngành giữa các bộ, ngành của hai Chính phủ, mà không phải thông qua các cơ quan/tiểu ban riêng biệt trực thuộc Ủy ban. Theo đó, Bộ Công Thương (Việt Nam) và Bộ Thương mại (Campuchia) chịu trách nhiệm điều phối việc thực hiện Hiệp định Thương mại Biên giới; tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ và kết nối cung cầu. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Việt Nam) và Hội đồng Phát triển Campuchia (CDC) là cơ quan cấp phép và quản lý các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam tại Campuchia và ngược lại, bảo đảm tuân thủ Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư. Tổng cục Hải quan (Việt Nam) và Tổng cục Hải quan và Thuế Campuchia phối hợp để đơn giản hóa thủ tục hải quan tại cửa khẩu, áp dụng cơ chế “một cửa, một lần dừng” tại các cặp cửa khẩu quốc tế. Bộ Giao thông vận tải của hai nước điều phối việc thực hiện các hiệp định về vận tải đường bộ và đường thủy, thúc đẩy các dự án kết nối hạ tầng giao thông quan trọng.

Các hiệp định và thỏa thuận hợp tác:

Trong lĩnh vực thương mại, Hiệp định Thương mại giữa Việt Nam và Campuchia (năm 1998) là một trong những văn kiện nền tảng, đặt cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư song phương giữa hai nước. Được ký kết trong bối cảnh quan hệ Việt Nam - Campuchia từng bước được khôi phục và mở rộng trong những năm 1990, hiệp định này hướng tới tạo lập khung pháp lý chung cho các hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ và đầu tư, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp hai nước mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực có tiềm năng như nông nghiệp, năng lượng và công nghiệp nhẹ (Hiệp định Thương mại, 1998). Trên cơ sở đó, kim ngạch thương mại song phương đã tăng trưởng liên tục trong những năm tiếp theo, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế biên giới và gắn kết lợi ích giữa hai quốc gia. Hiệp định năm 1998 cũng đặt nền tảng cho việc ký kết các hiệp định tiếp theo như Hiệp định Thương mại biên giới (năm 2001, 2022) và các thỏa thuận hợp tác đầu tư song phương, góp phần thể chế hóa quan hệ hợp tác kinh tế toàn diện Việt Nam - Campuchia.

Hiệp định Thương mại biên giới Việt Nam - Campuchia được ký kết ngày 08/11/2022 tại Phnôm Pênh, thay thế cho Hiệp định năm 2001, đánh dấu bước tiến mới trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thương mại biên giới giữa hai nước. Hiệp định này được xây dựng trong bối cảnh quan hệ kinh tế song phương ngày càng mở rộng và nhu cầu điều chỉnh các quy định cũ cho phù hợp với thực tiễn hội nhập khu vực. Nội dung của Hiệp định năm 2022 tập trung vào việc tạo thuận lợi cho thương nhân và cư dân biên giới, đơn giản hóa thủ tục hành chính và quy định cụ thể danh mục hàng hóa, cửa khẩu, chợ biên giới nhằm bảo đảm quản lý thống nhất, minh bạch. Ngoài ra, Hiệp định cũng khuyến khích phát triển hạ tầng thương mại biên giới và thúc đẩy hợp tác kinh tế - xã hội vùng biên, qua đó góp phần nâng cao đời sống cư dân biên giới và củng cố quan hệ hữu nghị Việt Nam - Campuchia. Việc ký kết hiệp định này thể hiện cam kết của hai Chính phủ trong việc thúc đẩy thương mại song phương theo hướng bền vững, hài hòa và cùng có lợi (Bộ Ngoại giao, 2023).

Tiếp theo đó, Thỏa thuận Thúc đẩy thương mại song phương Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2023-2024 và các giai đoạn tiếp theo là một bước triển khai cụ thể nhằm hiện thực hóa các cam kết trong Hiệp định Thương mại biên giới (năm 2022) và Chiến lược Hợp tác kinh tế song phương. Nội dung của thỏa thuận bao gồm các biện pháp tăng cường kết nối hạ tầng thương mại - logistics, mở rộng quy mô và chủng loại hàng hóa trao đổi, đơn giản hóa thủ tục hải quan và tăng cường xúc tiến thương mại, hội chợ biên giới. Bên cạnh đó, hai bên cũng thống nhất thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực chế biến, nông sản, năng lượng và du lịch biên giới (Việt Nam News, 2023).

Trong lĩnh vực đầu tư, Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư năm 2001 đặt nền tảng pháp lý cho hoạt động đầu tư song phương, bảo đảm nguyên tắc đối xử công bằng, bảo hộ tài sản hợp pháp và quyền chuyển lợi nhuận, qua đó củng cố niềm tin của doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp và hạ tầng tại Campuchia (Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 2001).

Ngoài ra, quan hệ đầu tư song phương còn được thúc đẩy bởi các thỏa thuận và cơ chế hợp tác chung như Hiệp định Thương mại biên giới (và các thỏa thuận về thương mại khác), dù tập trung vào thương mại hàng hóa nhưng cũng gián tiếp hỗ trợ các hoạt động đầu tư liên quan đến sản xuất và phân phối tại khu vực biên giới.

Trên lĩnh vực giao thông vận tải, Hiệp định về Vận tải thủy giữa Việt Nam và Campuchia (năm 2009) là một văn kiện quan trọng trong khuôn khổ hợp tác kinh tế - giao thông song phương được ký kết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hóa và hành khách bằng đường thủy nội địa giữa hai nước, bao gồm cả vận tải quá cảnh qua lãnh thổ của nhau. Theo đó, các phương tiện thủy nội địa của mỗi nước được phép qua lại tự do trên các tuyến sông quốc tế đã được thỏa thuận, bao gồm các cửa khẩu chính như Thường Phước - Kaom Samnor và Châu Đốc - Phnôm Pênh, đồng thời được hưởng cơ chế đơn giản hóa thủ tục kiểm tra hải quan, biên phòng và thuế phí. Việc thực thi Hiệp định này không chỉ giúp rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa giữa Việt Nam và Campuchia, mà còn tạo thuận lợi cho giao thương khu vực tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), qua đó góp phần thúc đẩy liên kết kinh tế và hội nhập khu vực.

Nhìn chung, các hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Campuchia trong hơn 20 năm qua đã hình thành một khuôn khổ pháp lý toàn diện. Đây là điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác và kết nối kinh tế, hạ tầng giữa hai nước.

Ngoài ra, hợp tác kinh tế nói riêng và hợp tác tổng thể Việt Nam - Campuchia nói chung còn diễn ra trong các khuôn khổ đa phương tiểu vùng như Hợp tác tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam (CLV-DTA), dù Campuchia tuyên bố rút khỏi CLV-DTA vào năm 2024. Bên cạnh đó, hợp tác kinh tế Việt Nam và Campuchia cũng diễn ra trong nhiều cơ chế đa phương tiểu vùng như Chương trình Hợp tác Kinh tế Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), Khung Chiến lược Hợp tác Kinh tế Campuchia - Lào - Myanma - Việt Nam (CLVM) và Chiến lược Hợp tác Kinh tế Ayeyawady - Chao Phraya - Mê Công (ACMECS) (cơ chế liên kết 5 nước gồm Campuchia, Lào, Myanma, Thái Lan và Việt Nam).

2.2. Thực trạng hợp tác kinh tế và hạ tầng cơ sở Việt Nam - Campuchia

Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1967 và đặc biệt là sau Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Campuchia được ký năm 1979, hợp tác kinh tế giữa hai nước đã được nâng lên tầm chiến lược, trở thành trụ cột quan trọng trong quan hệ song phương. Hai bên coi phát triển kinh tế là nền tảng cho hợp tác toàn diện, hướng tới mục tiêu ổn định chính trị, thịnh vượng chung và kết nối khu vực. Theo đó, Việt Nam và Campuchia hướng tới mục tiêu xây dựng cộng đồng kinh tế biên giới năng động, thông qua việc phát triển các khu kinh tế cửa khẩu (như Mộc Bài - Bavet, Hoa Lư - Trapeang Sre) và khu hợp tác nông nghiệp - công nghiệp - thương mại. Định hướng hợp tác mới tập trung vào ba trụ cột (Vietnam.vn, 2025): (1) Liên kết hạ tầng và logistics xuyên biên giới, nhằm giảm chi phí giao thương; (2) Tăng cường hợp tác doanh nghiệp và đầu tư tư nhân, khuyến khích các tập đoàn lớn tham gia phát triển hạ tầng và năng lượng; (3) Hội nhập vào chuỗi cung ứng khu vực ASEAN, đặc biệt trong bối cảnh Campuchia tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Về đầu tư, hai nước xác định đây là trụ cột quan trọng trong quan hệ hợp tác toàn diện, được cụ thể hóa thông qua hàng loạt hiệp định, thỏa thuận và chương trình hợp tác. Campuchia là địa bàn lớn thứ 2 trong số 85 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam (Đoàn Ca, 2026). Đồng thời, Việt Nam luôn duy trì vị trí hàng đầu trong ASEAN và trong nhóm 5 nhà đầu tư trực tiếp lớn nhất vào Campuchia. Cụ thể, tính đến hết năm 2025, Việt Nam có 229 dự án đầu tư tại Campuchia còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký đạt 2,94 tỷ USD (Đoàn Ca, 2026).

Các dự án đầu tư của Việt Nam có mặt ở hầu hết các ngành kinh tế của Campuchia, trong đó tập trung vào các lĩnh vực nông - lâm nghiệp, năng lượng, viễn thông, tài chính - ngân hàng, bất động sản và thương mại - dịch vụ (Tùng Linh, 2023). Trong đó, Tập đoàn Viettel (qua Metfone) không chỉ đóng góp lớn cho hạ tầng viễn thông Campuchia mà còn là một trong những doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất nước này (Vietnamplus, 2025). Bên cạnh đó, hợp tác đầu tư song phương hai bên ngày càng gắn kết với các mục tiêu phát triển bền vững và kết nối hạ tầng khu vực.

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam tham gia đầu tư vào dự án năng lượng tái tạo, chế biến nông sản và phát triển khu công nghiệp - thương mại biên giới, góp phần thúc đẩy phát triển vùng nông thôn và tạo việc làm cho hàng vạn lao động Campuchia. Trong giai đoạn mới, các nhà đầu tư Việt Nam tiếp tục quan tâm đến những lĩnh vực có tiềm năng lớn như nông nghiệp quy mô lớn, chế biến nông sản, viễn thông, công nghệ thông tin (bao gồm 5G, chính phủ điện tử và chuyển đổi số), năng lượng tái tạo, khai khoáng và xây dựng. Ngoài ra, bất động sản, sản xuất vật liệu xây dựng và phát triển hạ tầng cũng là những lĩnh vực đang được chú trọng (VCCI, 2025).

Về thương mại, năm 2024, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với Campuchia đạt 10,1 tỷ USD, tăng mạnh so với 8,6 tỷ USD năm 2023 và 5,3 tỷ USD năm 2020 (xem Biểu đồ 1). Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam đến Campuchia đạt 5,3 tỷ USD, tăng 7,9% và chiếm 1,3% tổng xuất khẩu của cả nước. Nhập khẩu của Việt Nam từ Campuchia đạt 4,8 tỷ USD, tăng 30,3% và chiếm 1,3% tổng nhập khẩu của cả nước. Năm 2025, thương mại hai chiều Việt Nam - Campuchia đạt 11,3 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2024, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 5,67 tỷ USD và nhập khẩu là 5,66 tỷ USD, cho thấy mức tăng trưởng đáng kể trong bối cảnh kinh tế khu vực và toàn cầu nhiều biến động. Thêm vào đó, cán cân thương mại Việt Nam - Campuchia có xu hướng cân bằng những năm gần đây (Uyên Hương, 2026). Cơ cấu hàng hóa thương mại song phương mang tính bổ trợ cao. Việt Nam xuất khẩu sang Campuchia các mặt hàng như xăng dầu, sắt thép, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, phân bón và máy móc thiết bị, trong khi nhập khẩu chủ yếu nông sản, cao su, hạt điều, gỗ, khoáng sản và một số sản phẩm dệt may từ Campuchia.

Biểu đồ 1: Thương mại hàng hóa Việt Nam - Campuchia giai đoạn 2010-2024

Đơn vị tính: triệu USD

bieu do cpc
Nguồn: tổng hợp và tính toán của tác giả từ dữ liệu của Cục Thống kê Việt Nam.

Như vậy, các thỏa thuận thương mại như Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Campuchia (năm 2019) và Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư (năm 2001) đã tạo khung pháp lý thuận lợi cho hoạt động thương mại, giảm hàng rào thuế quan và thúc đẩy kết nối chuỗi cung ứng xuyên biên giới. Đặc biệt, Quyết định số 1536/QĐ-TTg ngày 09-12-2024 của Thủ tướng Chính phủ về chủ trương đàm phán Bản Thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương giữa Việt Nam và Campuchia giai đoạn 2025-2026, nhằm đẩy nhanh việc ký kết Bản Thỏa thuận cho giai đoạn mới, giúp hai nước tiếp tục khai thác tính bổ sung của hai nền kinh tế, thắt chặt kết nỗi chuỗi cung ứng, phát triển thương mại biên giới và khẳng định quyết tâm thúc đẩy kim ngạch thương mại song phương sớm đạt mục tiêu 20 tỷ USD, tương xứng với mối quan hệ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” giữa hai nước (Bộ Công thương, 2025). Bên cạnh đó, các khu kinh tế cửa khẩu như Mộc Bài - Bavet, Hoa Lư - Trapeang Sre và các tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, Nam - Bắc đóng vai trò hạ tầng quan trọng trong việc mở rộng luồng hàng hóa và dịch vụ, đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế vùng biên.

Trong lĩnh vực năng lượng, Việt Nam hiện là một trong ba đối tác cung cấp điện chủ yếu cho Campuchia, cùng với Lào và Thái Lan. Theo số liệu của Bộ Công nghiệp, Mỏ và Năng lượng Campuchia, nước này nhập khẩu từ Việt Nam lượng điện trị giá khoảng 53,3 triệu USD năm 2023, chiếm gần 15% tổng điện năng nhập khẩu (WITS, 2023). Các dự án truyền tải điện xuyên biên giới do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) triển khai đã giúp cung cấp điện ổn định cho các tỉnh Đông Bắc Campuchia như Ratanakiri, Stung Treng và Kratie, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Đặc biệt, Campuchia đang có kế hoạch tăng nhập khẩu điện thêm hơn 50% trong hai năm tới, tương đương với việc mở rộng khoảng 600 MW, trong đó hợp tác với Việt Nam được xem là một trong những hướng ưu tiên (Varadhan, 2024)

Trong lĩnh vực giao thông vận tải, hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia tập trung vào nâng cấp kết nối đường bộ, đường thủy và hàng không. Hai bên đã phối hợp nâng cấp nhiều tuyến đường huyết mạch nối hai nước, như Quốc lộ 91 - Quốc lộ 2 (Việt Nam) - Quốc lộ 1 (Campuchia) trong khuôn khổ Hành lang kinh tế Bắc Nam (SEC). Tuyến Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài - Phnom Penh (Báo Điện tử Chính phủ, 2024) và cầu Long Bình - Chrey Thom (Cửu Long, 2017) góp phần rút ngắn thời gian vận chuyển và tăng lưu lượng thương mại song phương. Hai nước cùng tham gia Hành lang kinh tế phía Nam với mục tiêu phát triển chuỗi logistics xuyên biên giới và tăng cường giao thông nội khối. Về vận tải thủy, hai bên triển khai Hiệp định vận tải đường thủy từ năm 2009 (Bộ Ngoại giao, 2016), cho phép tàu thuyền hai nước tự do đi lại trên các tuyến sông Mê Công và Bassac, giúp giảm chi phí logistics và tăng khả năng kết nối khu vực đồng bằng sông Cửu Long với Phnôm Pênh.

2.3. Một số vấn đề đặt ra và khuyến nghị giải pháp

Nhìn chung, hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Campuchia trong khuôn khổ song phương cũng như đa phương tiểu vùng không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai quốc gia mà còn đóng góp vào mục tiêu phát triển cân bằng, bền vững của khu vực, hướng tới xây dựng một khu vực kinh tế năng động, ổn định và hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị khu vực ASEAN và tiểu vùng Mê Công.

Bên cạnh các thành tựu đạt được, quan hệ kinh tế Việt Nam - Campuchia thời gian qua đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Trong lĩnh vực thương mại, dù đạt nhiều kết quả đáng khích lệ, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Campuchia chưa có sự phát triển ổn định cần thiết. Đồng thời, những kết quả này chưa tương xứng với tiềm năng hợp tác, với mối quan hệ chính trị gần gũi giữa hai nước. Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam và Campuchia sang thị trường của nhau gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của hàng hóa sản xuất tại các nước khác, trong đó có Thái Lan và Trung Quốc. Cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Campuchia chưa bao gồm nhiều nhóm hàng công nghiệp có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Tình trạng vận chuyển hàng lậu từ biên giới vào thị trường nội địa Campuchia và Việt Nam còn diễn ra phức tạp, tác động tiêu cực đến sự ổn định về kinh tế, chính trị và an ninh của mỗi nước và đến quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai bên.

Trong lĩnh vực đầu tư, dù quy mô bình quân mỗi dự án của doanh nghiệp Việt Nam tại Campuchia có xu hướng tăng lên, nhưng vẫn là tương đối nhỏ so với các quốc gia khác như Thái Lan, Xinhgapo hay Trung Quốc. Doanh nghiệp Việt Nam còn gặp những khó khăn về vốn và thiếu nguồn nhân lực trầm trọng. Các doanh nghiệp con thuộc tập đoàn, tổng công ty đa số chuyển vốn từ Việt Nam sang với số lượng hạn chế; các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì luôn thiếu hụt vốn. Mặt khác, do không có tài sản bảo đảm, các doanh nghiệp Việt Nam rất khó hoặc không thể tiếp cận các nguồn vốn vay tại Campuchia. Đối với nguồn nhân lực tại Campuchia, doanh nghiệp Việt Nam cần thời gian để đào tạo, trong khi nhân lực có tay nghề từ Việt Nam sang vẫn còn ít và khó thu hút. Ngoài ra, việc giải ngân nguồn vốn diễn ra tương đối chậm, đã và đang làm mất đi cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Campuchia.

Trong khi đó, hợp tác hạ tầng, nhất là lĩnh vực giao thông vận tải, dù có những kết quả không thể phủ nhận, nhưng quá trình hợp tác vẫn gặp khó khăn do khác biệt về tiêu chuẩn kỹ thuật, thủ tục hải quan và kiểm dịch còn phức tạp, cũng như hạn chế trong kết nối đường sắt và cảng biển. Mạng lưới hạ tầng giao thông của Campuchia và Việt Nam vẫn chưa đồng bộ, thiếu tuyến đường sắt và cao tốc kết nối trực tiếp giữa hai nước. Các tuyến hành lang hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào đường bộ, với năng lực tải còn hạn chế và chi phí logistics cao. Sự tham gia của khu vực tư nhân và cơ chế tài chính cho các dự án liên quốc gia còn yếu cũng là một khó khăn. Dù Việt Nam đã chủ động hỗ trợ về kỹ thuật và vốn vay cho một số dự án ở Campuchia, song quy mô đầu tư còn khiêm tốn so với tiềm năng của khu vực. Bên cạnh đó, hợp tác trong vận tải số hóa và logistics thông minh còn ở giai đoạn sơ khai, chưa có nền tảng dữ liệu chung hoặc hệ thống quản lý vận tải điện tử liên thông giữa hai nước.

Nhu cầu, tiềm năng hợp tác và kết nối kinh tế, hạ tầng giữa Việt Nam và Campuchia thời gian tới là rất lớn. Tuy nhiên, môi trường kinh tế, chính trị khu vực và toàn cầu được dự báo sẽ tiếp tục diễn biến khó lường. Trong đó, xu hướng bảo hộ, cạnh tranh địa chính trị, kinh tế giữa các cường quốc tại khu vực Đông Nam Á ngày càng gia tăng; các vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng phức tạp, tác động không thuận lợi đến hợp tác, kết nối Việt Nam - Campuchia. Bản thân nội tại Campuchia và Việt Nam dù có mong muốn hợp tác và kết nối, nhưng những hạn chế về nguồn lực tài chính đang là một trong những rào cản, thách thức lớn nhất cho tăng cường hợp tác, kết nối kinh tế, hạ tầng Việt Nam - Campuchia, thời gian tới.

Để thúc đẩy hợp tác kinh tế, hạ tầng Việt Nam - Campuchia thời gian tới, cần tập trung vào một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, Việt Nam và Campuchia cần tăng cường hợp tác đầu tư vào những lĩnh vực tạo ra hiệu quả bền vững, thích ứng với xu hướng phát triển của nền kinh tế xanh như sản xuất, chế biến các sản phẩm nông, lâm nghiệp sạch, nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của hai nước, khu vực và quốc tế. Trong đó, các chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Campuchia nên tập trung vào xây dựng các chuỗi sản xuất và cung ứng sản phẩm nông nghiệp để khai thác tốt hơn thế mạnh của nhau.

Thứ hai, hai nước cần tăng cường kết nối, tập trung vào các ngành, lĩnh vực như giao thông - vận tải, bưu chính, viễn thông, thương mại, đầu tư, tài chính và ngân hàng, du lịch, mỏ và năng lượng; tăng cường hợp tác khu vực biên giới. Trong đó, các chương trình hợp tác đầu tư cần chú trọng vào phát triển hệ thống giao thông đường bộ, gắn với các hành lang phát triển kinh tế của khu vực, cũng như vào đơn giản hóa thủ tục hải quan cửa khẩu biên giới để giúp hàng hóa lưu thông và người dân đi lại dễ dàng hơn. Đặc biệt, Việt Nam cần ưu tiên nghiên cứu, đầu tư tuyến Campuchia - Việt Nam (Phnôm Pênh - Thành phố Hồ Chí Minh) nhằm hình thành mạng lưới vận tải đa phương thức khu vực. Việt Nam cần tích cực phối hợp với Campuchia để thực hiện đầy đủ Hiệp định vận tải đường bộ và quá cảnh hàng hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải xuyên biên giới. Bên cạnh đó, Việt Nam nên đề xuất chuẩn hóa quy trình cấp phép phương tiện, lái xe và bảo hiểm quốc tế, nhằm đơn giản hóa thủ tục vận tải với Campuchia, vận tải liên khu vực tiểu vùng Mê Công.

Thứ ba, thúc đẩy kết nối lưới điện khu vực và thương mại điện năng xuyên biên giới, thông qua hỗ trợ Campuchia, Lào xây dựng hạ tầng kỹ thuật để đồng bộ hóa hệ thống lưới điện khu vực. Chính phủ Việt Nam nên thúc đẩy việc ký kết Hiệp định khung về thương mại điện năng giữa ba nước Campuchia - Lào - Việt Nam, tạo hành lang pháp lý minh bạch cho trao đổi năng lượng xanh.

Thứ tư, Việt Nam cần đóng vai trò trung tâm trong chuyển giao công nghệ điện mặt trời, điện gió và lưu trữ năng lượng cho Campuchia thông qua các chương trình hợp tác song phương và đa phương tiểu vùng; chủ động kêu gọi Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á và Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) cho các dự án năng lượng tái tạo khu vực, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm về cơ chế đấu thầu điện sạch và thị trường cácbon đối với Campuchia.

Thứ năm, Việt Nam cần tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia phát triển thương mại, đầu tư với Campuchia, tập trung vào hỗ trợ cơ chế chính sách, vốn, kỹ thuật và nguồn nhân lực, bảo đảm thực hiện hiệu quả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với cộng đồng người dân địa phương và tăng cường, phát huy tốt hơn vai trò cầu nối của Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam tại Campuchia với các cơ quan, bộ, ngành của mỗi nước.

3. Kết luận

Việt Nam và Campuchia đã xây dựng cơ chế điều phối hợp tác song phương đa tầng, đồng thời ký kết hàng loạt hiệp định và chương trình hành động chiến lược trong lĩnh vực kinh tế, hạ tầng, tạo điều kiện cho sự mở rộng hợp tác giữa hai quốc gia. Tiềm năng và triển vọng hợp tác kinh tế Việt Nam - Campuchia thời gian tới là tích cực. Để hiện thực hóa những tiềm năng trên, Việt Nam và Campuchia cần xây dựng và thực hiện chính sách hợp tác kinh tế, hạ tầng phù hợp trong bối cảnh môi trường địa chính trị, địa kinh tế khu vực và quốc tế dự báo tiếp tục biến đổi mạnh mẽ, khó lường, cũng như bản thân nguồn lực nội tại của hai nước, như: tăng cường hợp tác vào lĩnh vực nông nghiệp xanh; giao thông - vận tải, đầu tư, thương mại, năng lượng sạch…

_________________

Email tác giả: quanghoan2310@gmail.com

Ngày nhận: 21/3/2026; Ngày bình duyệt: 16/5/2026; Ngày duyệt đăng: 6/7/2026.

Bộ Công Thương (2025). Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2024. Nxb Công thương.

Bộ Ngoại giao (01/06/2016). Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia Campuchia về vận tải đường thủy. https://mofa.gov.vn.

Bộ Ngoại giao (13/7/2023). Thông báo về việc điều ước quốc tế có hiệu lực: Hiệp định Thương mại biên giới giữa Chính phủ Việt Nam và Campuchia. https://thuvienphapluat.vn.

Cửu Long. (24/4/2017). Khánh thành cầu nối Việt Nam và Campuchia. https://vnexpress.net.

Đoàn Ca. (04/02/2026). Tạo động lực đưa quan hệ Việt Nam - Campuchia phát triển lên tầm cao mới. https://www.qdnd.vn.

Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư giữa Việt Nam và Campuchia (26/11/2001). https://wtocenter.vn.

Hiệp định thương mại giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Campuchia (24/3/1998). https://trungtamwto.vn.

Phương Nhi (21/6/2026). Kết nối cao tốc TPHCM - Mộc Bài với cao tốc Phnôm Pênh - Bà Vẹt. https://baochinhphu.vn.

Sudarshan, V. (22/11/2024). Cambodia to boost power import capacity to improve flexibility. https://www.reuters.com.

Tùng Linh (12/12/2023). Quan hệ hợp tác đầu tư Việt Nam - Campuchia ngày càng phát triển mạnh mẽ. https://www.mpi.gov.vn.

Uyên Hương. (05/2/2026). Việt Nam - Campuchia: Mở ra giai đoạn hợp tác sâu rộng, gắn kết chặt chẽ. https://www.vietnamplus.vn.

VCCI. (27/11/2023). Vietnam - Cambodia comprehensive, long-term sustainable cooperation. https://vccinews.com.

VCCI. (20/6/2025). Việt Nam – Campuchia: Không gian hợp tác kinh tế chung và mục tiêu thương mại 20 tỷ USD. https://vcci.com.vn.

Vietnam News. (26/4/2023). Vietnam and Cambodia agree to promote land border gate cooperation. https://vietnamnews.vn.

VietnamPlus. (20/6/2025). Vietnam, Cambodia strengthen trade cooperation. https://en.vietnamplus.vn.

Vietnam.vn. (13/9/2025). Connecting Vietnam-Cambodia manufacturing, distribution and logistics businesses. https://www.vietnam.vn.

World Integrated Trade Solution (WITS) (2023). Cambodia electrical energy imports by country in 2023. https://wits.worldbank.org.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Tăng cường hợp tác kinh tế và hạ tầng Việt Nam - Campuchia
    POWERED BY