Thực tiễn

Thị trường lao động Việt Nam: thực trạng, những yếu tố tác động và giải pháp phát triển

• 02/11/2026 11:15

Tóm tắt: Bài viết phân tích thị trường lao động Việt Nam trước ảnh hưởng của xu thế phát triển trí tuệ nhân tạo, già hóa dân số, biến đổi khí hậu. Tăng trưởng về quy mô nhưng thị trường lao động vẫn đối mặt với đứt gãy cấu trúc, tỷ lệ lao động phi chính thức cao và chất lượng việc làm thấp. Những rào cản về thể chế, khoảng trống trong hệ thống thông tin dự báo, cùng sự thiếu tương thích giữa cung và cầu lao động đang đặt thị trường trước những rủi ro bất ổn trong dài hạn. Bài viết chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu và đề xuất bốn nhóm giải pháp về quản trị dữ liệu, chính thức hóa việc làm và an sinh xã hội, đánh giá chính sách theo kết quả, phát triển kỹ năng phục vụ chuyển dịch việc làm.

TS TRẦN THỊ HUYỀN TRANG
Học viện Chính sách và Phát triển
ThS TRƯƠNG ĐỖ QUYÊN
Viện Thông tin khoa học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

media.vneconomy.vn-images-upload-2025-07-28-_anh-t54-55-1.png
Định hướng mô hình phát triển mới đặt thị trường lao động trước yêu cầu chuyển từ lợi thế dựa nhiều vào lao động chi phí thấp sang nguồn nhân lực có trình độ, năng suất cao, thích ứng với đổi mới công nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế_Ảnh minh họa: NA&ĐS

1. Mở đầu

Đại hội XIV của Đảng định hướng đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực, qua đó tạo động lực cho tăng trưởng, phát triển bền vững ở giai đoạn mới (ĐCSVN, 2026, tr.24). Định hướng mô hình phát triển mới đặt thị trường lao động trước yêu cầu chuyển từ lợi thế dựa nhiều vào lao động chi phí thấp sang nguồn nhân lực có trình độ, năng suất cao, thích ứng với đổi mới công nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Các biến đổi đang tác động trực tiếp đến việc làm ở Việt Nam gồm sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa, già hóa dân số, biến đổi khí hậu, tiến trình giảm phát thải. Tác động của các yếu tố trên diễn ra đồng thời với những vấn đề hiện hữu của thị trường lao động, như chất lượng việc làm chưa cao, chênh lệch cung và cầu kỹ năng, tỷ lệ việc làm phi chính thức lớn, độ bao phủ an sinh xã hội còn hạn chế, thông tin dự báo chưa đáp ứng kịp thay đổi của nhu cầu sử dụng lao động. Vì vậy, nếu chỉ đánh giá sự phát triển của thị trường lao động từ tỷ lệ thất nghiệp hoặc số lượng việc làm sẽ chưa phản ánh đầy đủ chất lượng phân bổ nguồn nhân lực.

Bài viết sử dụng các chỉ báo về lực lượng lao động, việc làm, thất nghiệp, thu nhập, lao động phi chính thức, bảo hiểm xã hội, đào tạo, năng suất và tác động công nghệ. Việc đối chiếu, so sánh số liệu theo thời gian, nhóm lao động và với một số quốc gia được sử dụng để nhận diện mức độ thiếu tương thích về kỹ năng, sức ép chuyển dịch việc làm và những điểm nghẽn trong quản trị thị trường lao động. Từ đó, khái quát thành tựu và nhận diện các hạn chế chủ yếu của thị trường lao động Việt Nam; phân tích nguyên nhân của các hạn chế và đề xuất các giải pháp phát triển thị trường lao động Việt Nam.

2. Nội dung

2.1. Thực trạng thị trường lao động Việt Nam

Năm 2025, thị trường lao động Việt Nam duy trì mức ổn định tương đối ở nhiều chỉ báo cơ bản. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 53,5 triệu người, tăng 589,5 nghìn người so với năm 2024. Số người có việc làm đạt 52,4 triệu người. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,22% (Cục Thống kê, 2026, tr.2). Cơ cấu lao động tiếp tục dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng nông, lâm, thủy sản, tăng tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp, xây dựng. Khu vực dịch vụ chiếm 40,8% lao động có việc làm; công nghiệp và xây dựng chiếm 33,5%; nông, lâm, thủy sản chiếm 25,7%. Thu nhập bình quân tháng của người lao động đạt 8,4 triệu đồng, tăng 8,9% so với năm 2024 (Cục Thống kê, 2026, tr.8). Các chỉ báo phản ánh sự phục hồi về quy mô việc làm và thu nhập, tạo điều kiện cho thị trường lao động tiếp tục chuyển dịch theo cơ cấu kinh tế.

Công nghệ mới đã tạo thêm việc làm và nâng thu nhập tại một số khu vực sản xuất. Đối với Việt Nam, nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy, tại các địa bàn chịu tác động, mỗi robot tăng thêm/1.000 lao động, ước tính làm tổng việc làm tăng khoảng 6 - 9% và tiền lương lao động bình quân tăng khoảng 2 - 4% (Ngân hàng Thế giới, 2025a). Kết quả cho thấy, công nghệ có thể thúc đẩy năng suất, mở rộng quy mô sản xuất và tạo việc làm khi doanh nghiệp có khả năng hấp thụ công nghệ. Tuy nhiên, lợi ích phân bổ khác nhau giữa các nhóm lao động, do đó thành tựu về quy mô chưa đồng nghĩa với sự cải thiện đồng đều về chất lượng việc làm.

Mặc dù thị trường lao động đã có những bước tiến tích cực, song vẫn còn hạn chế:

Thứ nhất, chất lượng việc làm, năng suất lao động và mức phù hợp giữa kỹ năng với vị trí việc làm còn hạn chế. Chỉ 42% lao động có trình độ phù hợp với công việc đang đảm nhiệm (Ngân hàng Thế giới, 2025b, tr.72). Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ năm 2025 đạt 29,5% (Cục Thống kê, 2026, tr.3). Đối với thanh niên từ 15 đến 24 tuổi, tỷ lệ thất nghiệp quý IV năm 2025 là 9,04%. Khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập hoặc đào tạo (Cục Thống kê, 2026, tr.11). Khoảng cách giữa trình độ được đào tạo với yêu cầu tuyển dụng đã làm suy giảm hiệu quả phân bổ nhân lực, gia tăng nguy cơ thất nghiệp cơ cấu ở nhóm bước vào thị trường lao động. Việt Nam có kết quả tích cực ở kỹ năng số cơ bản, nhưng kỹ năng số trung cấp và cao cấp còn thấp so với yêu cầu chuyển đổi công nghệ (Ngân hàng Thế giới, 2025b, tr.73). Đối với mục tiêu tiến tới nhóm quốc gia có thu nhập cao, sức ép tăng năng suất trở nên rõ hơn. Ngân hàng Thế giới ước tính Việt Nam phải duy trì tốc độ tăng năng suất bình quân 2% mỗi năm đến năm 2030 nếu tăng trưởng chủ yếu dựa vào cải thiện năng suất (Ngân hàng Thế giới, 2025b, tr.46).

Thứ hai, thông tin và dự báo thị trường lao động còn phân tán, trong khi tiêu chí đánh giá chính sách chưa phản ánh đầy đủ chất lượng việc làm. Dữ liệu về kỹ năng, nghề nghiệp, biến động việc làm được quản lý tại nhiều cơ quan và địa phương, mức tích hợp còn thấp. Năm 2009, 5% doanh nghiệp xuất khẩu coi việc tìm lao động đủ trình độ là rào cản; đến năm 2023 tỷ lệ này tăng lên 20% (Ngân hàng Thế giới, 2025b, tr.21). Khoảng trống thông tin làm chậm quá trình nhận diện ngành thiếu lao động, ngành dư lao động và nhu cầu kỹ năng theo địa bàn. Mặt khác, đánh giá chính sách lao động dựa chủ yếu về số liệu các lớp đào tạo, phiên giao dịch việc làm, số người thụ hưởng hoặc tỷ lệ thất nghiệp. Các chỉ báo phản ánh việc làm bền vững, thu nhập sau đào tạo, năng suất, mức phù hợp nghề nghiệp, đào tạo lại và chất lượng phân bổ nguồn lực chưa được sử dụng đầy đủ. Vì vậy, cơ quan quản lý khó theo dõi hiệu quả dài hạn của từng chương trình và khó điều chỉnh chính sách kịp nhịp biến động của thị trường.

Thứ ba, tỷ lệ việc làm phi chính thức cao, độ bao phủ bảo hiểm xã hội còn hạn chế. Năm 2025, lao động phi chính thức ước khoảng 33,1 triệu người, tương đương 63,1% tổng số người có việc làm (Cục Thống kê, 2026, tr. 6). Số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt 20,11 triệu người, tương đương 42,7% lực lượng lao động ở độ tuổi lao động, trong đó 2,2 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện (Chính phủ, 2024). Lao động tự do và lao động thực hiện nhiệm vụ trên các ứng dụng số thường thiếu hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội và sự bảo vệ pháp lý tương ứng. Một bộ phận lao động có thu nhập biến động theo ngày hoặc theo đơn hàng gặp trở ngại khi tham gia cơ chế đóng định kỳ. Sức ép tăng khi dân số già hóa làm quy mô nhóm đóng góp tăng chậm, trong khi nhu cầu chi trả lương hưu, chăm sóc y tế và trợ cấp xã hội ngày càng mở rộng (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2026).

Thứ tư, mức thích ứng của lực lượng lao động trước chuyển đổi công nghệ và chuyển đổi xanh chưa đáp ứng yêu cầu mới. 20,8% tổng số việc làm, tương đương 11,5 triệu lao động, chịu ảnh hưởng của trí tuệ nhân tạo tạo sinh, trong đó 1,8% thuộc nhóm chịu ảnh hưởng cao nhất (Tổ chức Lao động Quốc tế, 2026, tr.5). Chỉ 13% việc làm ở các nền kinh tế Đông Nam Á thuộc nhóm công việc nhận thức phi lặp lại có thể được trí tuệ nhân tạo bổ trợ rõ hơn (Ngân hàng Thế giới, 2025a). Điều đó cho thấy, lợi ích từ công nghệ phụ thuộc phần lớn vào trình độ kỹ năng. Lao động làm nhiệm vụ giản đơn đối mặt với sức ép thay thế, trong khi lao động có trình độ cao thuận lợi trong sử dụng công nghệ để nâng năng suất.

Biến đổi khí hậu và giảm phát thải tạo thêm sức ép chuyển dịch việc làm. Khoảng 70% dân số Việt Nam sinh sống ở khu vực ven biển hoặc đồng bằng thấp, mức nguy cơ với rủi ro khí hậu ở mức cao (Ngân hàng Thế giới, 2025b). Quá trình giảm phát thải được dự báo tạo mức tăng ròng khoảng 726.000 việc làm vào năm 2030, đồng thời làm giảm việc làm ở một số ngành phát thải cao như nhiệt điện than, xi măng, hóa chất (Ngân hàng Thế giới, 2025b). Việc làm xanh đòi hỏi kiến thức chuyên môn mới, kỹ năng số, kỹ năng xanh và năng lực xử lý vấn đề phức hợp. Chênh lệch giữa yêu cầu của công việc đòi hỏi kỹ năng mới với trình độ hiện có làm tăng nhu cầu đào tạo lại, đặc biệt đối với lao động kỹ năng thấp, lao động trung niên và lao động ở các ngành phải thu hẹp việc làm.

2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trên thị trường lao động

Nguyên nhân trong nước

Thứ nhất, cơ chế quản trị thị trường lao động chưa chuyển đầy đủ sang quản trị dựa trên dữ liệu và kết quả. Theo North, chất lượng thể chế chi phối cách các chủ thể phân bổ nguồn lực, ra quyết định đầu tư và hình thành động lực phát triển (North, 1990, tr. 3). Đối với thị trường lao động, vai trò thể chế thể hiện ở quy tắc chia sẻ dữ liệu, dự báo cung và cầu, phân định trách nhiệm giữa các cơ quan, cơ chế phối hợp với doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, tiêu chí đánh giá chính sách. Dữ liệu lao động hình thành từ nhiều nguồn, song tiêu chuẩn tích hợp, chia sẻ và sử dụng cho dự báo còn hạn chế. Cơ chế đánh giá tập trung nhiều vào kết quả hoạt động ngắn hạn làm giảm động lực theo dõi chất lượng việc làm sau can thiệp. Nguyên nhân quản trị giải thích trực tiếp tình trạng dự báo phân tán, phản ứng chính sách chậm và sự thiếu liên kết giữa dữ liệu lao động với quyết định đào tạo, phân bổ nguồn lực.

Thứ hai, năng suất và nguồn lực đầu tư cho công nghệ, đào tạo của một bộ phận doanh nghiệp trong nước còn thấp. Trong ngành chế biến, chế tạo, năng suất của doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động chỉ tương đương 27% so với doanh nghiệp quy mô lớn có từ 250 lao động trở lên (Ngân hàng Thế giới, 2025b, tr.93). Điểm đáng chú ý không phải là số lượng doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, bởi cơ cấu doanh nghiệp theo quy mô nhỏ phổ biến ở nhiều nền kinh tế, mà là chênh lệch về năng suất, vốn, mức đầu tư công nghệ, đào tạo lao động và chất lượng quản trị. Hạn chế nguồn lực làm doanh nghiệp khó tổ chức đào tạo lại trước đổi mới công nghệ, khó duy trì việc làm ổn định và dễ sử dụng hợp đồng ngắn hạn nhằm giảm chi phí. Những yếu tố đó góp phần duy trì việc làm phi chính thức, hạn chế tiếp cận bảo hiểm xã hội và làm chậm quá trình nâng cấp kỹ năng.

Thứ ba, liên kết giữa giáo dục, đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động chưa chặt chẽ. Doanh nghiệp chưa tham gia đầy đủ vào xây dựng chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo, đánh giá kỹ năng nghề. Vì vậy, cơ sở đào tạo vì vậy thiếu phản hồi trực tiếp, liên tục từ thị trường lao động. Tâm lý coi trọng bằng cấp, lựa chọn giáo dục đại học nhiều hơn giáo dục nghề nghiệp góp phần làm mất cân đối cơ cấu đào tạo. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học ở Việt Nam đạt 27% - 29%, trong khi số sinh viên các ngành này đạt khoảng 55 người trên 10.000 dân, thấp hơn đáng kể so với Hàn Quốc và Phần Lan (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2023). Cơ cấu tuyển sinh tập trung nhiều vào kinh tế, quản trị, khoa học xã hội, trong khi kỹ thuật, công nghệ, bán dẫn, tự động hóa, sản xuất thông minh thiếu nhân lực có chuyên môn. Khoảng cách giữa đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động làm kéo dài tình trạng thiếu kỹ năng ở cả lao động mới gia nhập thị trường và lao động phải chuyển nghề.

Tác động từ bối cảnh mới

Thứ nhất, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa làm thay đổi nhanh cơ cấu trong nhiều nghề. Công nghệ thay thế một phần nhiệm vụ giản đơn, lặp lại, đồng thời tạo thêm nhiệm vụ mới đòi hỏi kỹ năng số và trình độ chuyên môn cao. Tại Việt Nam, tăng mức sử dụng robot có tác động tích cực tới tổng việc làm và tiền lương ở địa bàn sản xuất, song phần lớn lợi ích phân bổ về lao động có trình độ cao (Ngân hàng Thế giới, 2025a). Sự phân hóa làm cho nhóm lao động thiếu kỹ năng dễ lựa chọn chuyển sang việc làm thu nhập thấp hoặc khu vực phi chính thức. Tốc độ đổi mới công nghệ nhanh hơn chu kỳ điều chỉnh chương trình đào tạo, từ đó làm khoảng cách kỹ năng có xu hướng mở rộng.

Thứ hai, già hóa dân số làm giảm dần nguồn bổ sung lao động trẻ và gia tăng sức ép lên an sinh xã hội. Tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên dự kiến đạt 20% vào năm 2049 (Ngân hàng Thế giới, 2025b). Sự thay đổi cơ cấu tuổi làm giảm tốc độ tăng lực lượng lao động, trong khi nhu cầu chi lương hưu, y tế, trợ cấp xã hội gia tăng. Đối với nhóm công việc hành chính, tỷ lệ lao động chịu ảnh hưởng mạnh từ trí tuệ nhân tạo tạo sinh tăng theo độ tuổi, từ 55,2% ở nhóm 15 đến 24 tuổi lên 63,8% ở nhóm 25 đến 59 tuổi và 89,9% ở nhóm từ 60 tuổi trở lên (Tổ chức Lao động Quốc tế, 2026). Sự đồng thời của già hóa dân số với đổi mới công nghệ làm tăng yêu cầu đào tạo lại lao động lớn tuổi, tổ chức việc làm linh hoạt và duy trì nguồn thu an sinh.

Thứ ba, biến đổi khí hậu và tiến trình giảm phát thải làm dịch chuyển nhu cầu lao động giữa ngành, nghề, địa bàn. Lao động ở khu vực ven biển, đồng bằng thấp và các ngành làm việc ngoài trời chịu mức ảnh hưởng lớn hơn trước nhiệt độ cao, thiên tai và gián đoạn sản xuất. Quá trình chuyển dịch từ ngành phát thải cao sang năng lượng tái tạo, sản xuất sạch và dịch vụ xanh tạo việc làm mới, đồng thời thu hẹp một số công việc truyền thống. Việc làm được tạo ra không tự động thuộc về nhóm lao động mất việc, bởi yêu cầu kỹ năng giữa nghề cũ và nghề mới khác nhau. Nếu đào tạo lại, tư vấn nghề nghiệp, hỗ trợ di chuyển lao động và an sinh chuyển tiếp chưa theo kịp, lợi ích từ tăng trưởng xanh có thể phân bổ không đều giữa các nhóm lao động.

2.3. Giải pháp phát triển thị trường lao động Việt Nam

Thứ nhất, hoàn thiện quản trị thị trường lao động dựa trên dữ liệu, phân định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương

Chính phủ tổ chức xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thị trường lao động, tích hợp dữ liệu dân cư, bảo hiểm xã hội, thuế, đăng ký doanh nghiệp, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và dịch vụ việc làm. Các cơ quan quản lý dữ liệu thống nhất tiêu chuẩn kỹ thuật, danh mục chỉ tiêu, chu kỳ cập nhật và cơ chế chia sẻ. Dữ liệu về nghề nghiệp, kỹ năng, thu nhập, tình trạng bảo hiểm xã hội và nhu cầu tuyển dụng được chuẩn hóa để phục vụ so sánh giữa các địa phương. Cơ quan quản lý sử dụng công cụ phân tích dữ liệu, dự báo kinh tế lượng và trí tuệ nhân tạo để nhận diện ngành thiếu lao động, ngành dư lao động, nhu cầu kỹ năng theo địa bàn, xu hướng dịch chuyển nghề nghiệp. Kết quả dự báo được sử dụng trực tiếp cho quy hoạch nhân lực, điều chỉnh đào tạo nghề, chính sách việc làm và phân bổ nguồn lực.

Chính quyền cấp tỉnh khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia để xây dựng bản đồ kỹ năng, bản đồ việc làm, cập nhật biến động lao động, dự báo nhu cầu nhân lực của địa phương. Doanh nghiệp định kỳ phản ánh nhu cầu tuyển dụng, tiêu chuẩn kỹ năng, kế hoạch chuyển đổi công nghệ. Cơ sở giáo dục sử dụng dữ liệu tuyển dụng để điều chỉnh chương trình, quy mô ngành nghề đào tạo. Tổ chức đại diện người lao động tham gia giám sát tác động của chính sách tới việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội. Phân công rõ trách nhiệm giúp giảm tình trạng dữ liệu phân tán, rút ngắn độ trễ dự báo và tăng hiệu quả kết nối cung với cầu lao động.

Thứ hai, chính thức hóa việc làm, mở rộng độ bao phủ an sinh xã hội

Tiếp tục đơn giản hóa thủ tục thuế, bảo hiểm xã hội, đăng ký kinh doanh đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ, đồng thời giảm chi phí tuân thủ để tạo động lực chuyển sang khu vực chính thức. Chính quyền cấp tỉnh tổ chức tư vấn pháp lý, hỗ trợ chuyển đổi số, tiếp cận tín dụng và kết nối thị trường cho hộ kinh doanh có nhu cầu chuyển đổi thành doanh nghiệp. Kết quả chính sách tại địa phương được đánh giá bằng tỷ lệ lao động chuyển từ việc làm phi chính thức sang chính thức, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội và mức duy trì việc làm sau chuyển đổi.

Đối với lao động phi chính thức có thu nhập không ổn định, Nhà nước mở rộng phương thức đóng bảo hiểm xã hội linh hoạt theo chu kỳ thu nhập, tăng mức hỗ trợ phù hợp cho nhóm thu nhập thấp. Đối với lao động làm việc trên ứng dụng số, cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ của người lao động, doanh nghiệp cung ứng ứng dụng và trách nhiệm đóng góp vào an sinh. Đối với lao động cao tuổi, cơ quan quản lý và doanh nghiệp phát triển các hình thức làm việc bán thời gian, tư vấn chuyên môn, làm việc từ xa, đào tạo số phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp. Các biện pháp hướng tới giảm khoảng trống bảo vệ giữa lao động chính thức với lao động phi chính thức, đồng thời giảm sức ép an sinh khi dân số già hóa.

Thứ ba, đổi mới đánh giá và thực thi chính sách lao động theo kết quả, tăng trách nhiệm giải trình

Chính phủ ban hành bộ chỉ số quốc gia đánh giá hiệu quả phát triển thị trường lao động. Các chỉ số trọng tâm gồm tỷ lệ có việc làm sau đào tạo, tỷ lệ chuyển từ việc làm phi chính thức sang chính thức, tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội, tỷ lệ lao động được đào tạo lại, năng suất lao động, thu nhập sau chương trình hỗ trợ, mức hài lòng của doanh nghiệp đối với chất lượng nhân lực, tỷ lệ lao động làm đúng chuyên môn đào tạo. Bộ chỉ số thống nhất tiêu chí cốt lõi trên phạm vi cả nước, cho phép địa phương bổ sung chỉ tiêu phản ánh đặc điểm kinh tế và cơ cấu việc làm của địa bàn.

Các bộ, ngành trung ương xây dựng phương pháp đo lường, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dữ liệu. Chính quyền địa phương thu thập, cập nhật, công khai kết quả và giải trình về hiệu quả sử dụng ngân sách. Kết quả đánh giá được sử dụng để điều chỉnh chương trình, phân bổ nguồn lực, lựa chọn ngành nghề ưu tiên đào tạo. Chuyển trọng tâm từ số lượng hoạt động sang kết quả việc làm và thu nhập tạo cơ sở cho cơ quan thực thi theo dõi tác động dài hạn của chính sách, khắc phục tình trạng đánh giá thiên về đầu vào hoặc số lượt thụ hưởng.

Thứ tư, phát triển kỹ năng và quản trị chuyển dịch việc làm trước trí tuệ nhân tạo, già hóa dân số, chuyển đổi xanh

Chính phủ xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển kỹ năng và học tập suốt đời theo nhu cầu việc làm mới. Chương trình đào tạo lại ưu tiên lao động ở ngành có nguy cơ thu hẹp việc làm, lao động kỹ năng thấp, lao động trung niên, lao động lớn tuổi chịu sức ép chuyển đổi. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ năng số, kỹ năng xanh, xử lý vấn đề, làm việc liên ngành và kỹ năng nghề chuyên sâu. Cơ sở giáo dục phối hợp với doanh nghiệp xây dựng chuẩn đầu ra, cập nhật chương trình, tổ chức đánh giá kỹ năng nghề dựa trên yêu cầu của vị trí việc làm, giảm khoảng cách giữa văn bằng với kỹ năng thực hành. Đối với lao động lớn tuổi, chương trình ưu tiên kỹ năng số phục vụ công việc, kỹ năng chuyển nghề và các hình thức học linh hoạt.

Nhà nước áp dụng chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo lại và nâng cao kỹ năng người lao động, trong đó ưu đãi phù hợp đối với chi phí đào tạo đủ điều kiện. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quy mô lớn tham gia đào tạo nghề, chuyển giao kỹ năng và lan tỏa công nghệ cho doanh nghiệp trong nước. Đối với lao động ở ngành phát thải cao, chính quyền địa phương phối hợp với doanh nghiệp và cơ sở đào tạo triển khai chương trình tư vấn nghề, đào tạo kỹ năng xanh, hỗ trợ chuyển sang ngành có nhu cầu tuyển dụng. Xây dựng cơ chế công nhận kỹ năng theo chuẩn quốc gia, tạo điều kiện để kết quả đào tạo được sử dụng trong tuyển dụng và chuyển nghề, giảm chênh lệch giữa cung kỹ năng với nhu cầu thị trường.

3. Kết luận

Thị trường lao động Việt Nam duy trì được quy mô việc làm lớn, tỷ lệ thất nghiệp thấp và thu nhập có xu hướng cải thiện, nhưng chất lượng phát triển chưa tương xứng với yêu cầu của giai đoạn chuyển đổi. Hạn chế nổi bật gồm chất lượng việc làm và mức phù hợp kỹ năng còn thấp; thông tin dự báo phân tán và đánh giá chính sách thiên về chỉ tiêu hoạt động; việc làm phi chính thức chiếm tỷ lệ lớn; độ bao phủ an sinh còn hạn chế; mức thích ứng của lao động trước công nghệ và chuyển đổi xanh còn chậm. Các hạn chế xuất phát từ cơ chế quản trị dữ liệu, nguồn lực đổi mới và đào tạo của một bộ phận doanh nghiệp, liên kết giữa giáo dục với nhu cầu sử dụng lao động, đồng thời chịu sức ép từ trí tuệ nhân tạo, già hóa dân số, biến đổi khí hậu.

Giải pháp đặt trọng tâm vào quản trị dựa trên dữ liệu, chính thức hóa việc làm, mở rộng an sinh xã hội, đánh giá chính sách theo kết quả và phát triển kỹ năng phục vụ chuyển dịch việc làm. Hiệu quả của các giải pháp phụ thuộc vào phân định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ, bộ, ngành, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục và tổ chức đại diện người lao động. Sự phối hợp theo chức năng cụ thể sẽ tạo điều kiện cải thiện chất lượng việc làm, nâng năng suất, giảm chênh lệch kỹ năng và tăng sức chống chịu của thị trường lao động trước biến đổi công nghệ, nhân khẩu học, môi trường.

_________________

Ngày nhận bài: 27/8/2026; Ngày bình duyệt: 30/10/2026; Ngày duyệt đăng:

Email tác giả: huyenanhtrang89@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2026). Báo cáo Hội nghị giao ban về tình hình và các giải pháp cụ thể trong tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (2023). Báo cáo góp ý dự thảo quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Chính phủ (2024). Báo cáo tình hình thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội.

Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/01/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-dan-so-lao-dong-viec-lam-quy-iv-va-nam-2025/.

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Ngân hàng Thế giới (2025a). Future jobs: Robots, artificial intelligence, and digital platforms in East Asia and Pacific. World Bank. https://doi.org/10.1596/978-1-4648-2199-8.

Ngân hàng Thế giới (2025b). Việt Nam trỗi dậy: Con đường hướng tới tương lai thu nhập cao. World Bank Group.

North, D. C. (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press.

Tổ chức Lao động Quốc tế (2026). Báo cáo tóm tắt trí tuệ nhân tạo tạo sinh và việc làm tại Việt Nam - Mức độ ảnh hưởng tới thị trường lao động và các khuyến nghị chính sách.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Thị trường lao động Việt Nam: thực trạng, những yếu tố tác động và giải pháp phát triển