DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.7670
Tóm tắt: Trong quá trình công nghiệp hóa, nông thôn Việt Nam có sự chuyển dịch lớn về lao động và việc làm theo hướng giảm mạnh lao động nông nghiệp và gia tăng lao động phi nông nghiệp. Trên cơ sở phân tích quá trình biến đổi cơ cấu lao động và việc làm ở nông thôn giai đoạn 2016 - 2025, bài viết góp phần làm rõ đặc trưng chuyển dịch lao động trong bối cảnh công nghiệp hóa, từ đó đề xuất kiến nghị chính sách nâng cao chất lượng chuyển dịch lao động thông qua phát triển nguồn nhân lực, hoàn thiện thị trường lao động và tăng cường năng lực thể chế.
TS ĐỖ THỊ PHƯƠNG HOA
Trường Đại học Thương mại

1. Mở đầu
Giai đoạn 2016 - 2025 có bước chuyển quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa của Việt Nam, không chỉ ở cấp độ cơ cấu kinh tế mà còn ở cấp độ tổ chức lao động và sinh kế xã hội. Trong các giai đoạn trước, công nghiệp hóa chủ yếu gắn với mở rộng sản xuất công nghiệp dựa trên lợi thế lao động giá rẻ, thì trong giai đoạn này, quá trình đó diễn ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và mức độ ứng dụng công nghệ ngày càng cao. Đặc biệt, tác động của đại dịch Covid-19 cùng với sự phát triển nhanh của kinh tế nền tảng đã làm cho thị trường lao động trở nên linh hoạt hơn về hình thức nhưng cũng phân mảnh hơn về cấu trúc và khó đồng nhất hơn về chất lượng. Trong bối cảnh đó, công nghiệp hóa ở Việt Nam không chỉ là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo nghĩa truyền thống, mà ngày càng gắn với sự tái cấu trúc sâu sắc của thị trường lao động trong điều kiện số hóa và hội nhập quốc tế.
Những biến đổi này được thể hiện rõ ở khu vực nông thôn - không gian tập trung phần lớn dân cư, lực lượng lao động. Giai đoạn 2016-2025 ghi nhận sự chuyển dịch rõ rệt trong cơ cấu lao động nông thôn theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động nông nghiệp và gia tăng lao động phi nông nghiệp. Đồng thời, mức sống và thu nhập của cư dân nông thôn tiếp tục được cải thiện. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra không chỉ là lao động nông thôn đang dịch chuyển nhanh như thế nào, mà quan trọng hơn là quá trình dịch chuyển đó đang tạo ra kiểu việc làm và cấu trúc thu nhập nào và mức độ bền vững sinh kế ra sao. Nói cách khác, biến đổi ở nông thôn hiện nay không chỉ là sự thay đổi về phân bổ lao động giữa các khu vực kinh tế, mà còn là sự thay đổi trong cách thức tạo việc làm, tổ chức sinh kế và hình thành thu nhập ở hộ gia đình và cộng đồng địa phương.
Một biểu hiện của quá trình này là sự phổ biến ngày càng rõ của mô hình đa sinh kế. Lao động và hộ gia đình nông thôn ngày càng ít phụ thuộc vào một nguồn sinh kế duy nhất, thay vào đó kết hợp đồng thời nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, như sản xuất nông nghiệp, làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ, dịch vụ và một phần các hoạt động gắn với nền tảng số. Điều này cho thấy chuyển dịch lao động ở nông thôn không diễn ra theo mô hình tuyến tính đơn giản từ nông nghiệp sang công nghiệp, mà mang tính đan xen, linh hoạt và gắn chặt với sự tái tổ chức sinh kế ở hộ gia đình. Đồng thời, cách tiếp cận này cho phép vượt ra khỏi cách nhìn tuyến tính truyền thống, nhấn mạnh tính phi tuyến tính, đa chiều và phụ thuộc bối cảnh của quá trình chuyển dịch lao động.
2. Nội dung
2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề lao động và việc làm ở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa
Trong giai đoạn 2016 - 2025, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về lao động và việc làm ở nông thôn được thể hiện tập trung trong các Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. So với giai đoạn trước, các văn kiện này cho thấy sự phát triển trong tư duy của Đảng: từ cách tiếp cận thiên về chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, sang cách tiếp cận toàn diện hơn, tích hợp các yếu tố về chất lượng nguồn nhân lực, thể chế thị trường lao động và yêu cầu bảo đảm tính bao trùm xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Trước hết, về lao động nông thôn, Đảng xác định chuyển dịch cơ cấu lao động là xu hướng tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đại hội XII nêu rõ yêu cầu “đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng nhanh lao động công nghiệp và dịch vụ, gắn với nâng cao năng suất lao động” (ĐCSVN, 2016, tr. 87). Đến Đại hội XIII, định hướng này đã được nhấn mạnh theo chiều sâu: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong những đột phá chiến lược” (ĐCSVN, 2021, tr.203). Điều này cho thấy chuyển dịch lao động không còn được hiểu đơn thuần là sự dịch chuyển về mặt cơ cấu ngành, mà gắn chặt với quá trình nâng cao kỹ năng, năng lực thích ứng và khả năng tham gia vào các khu vực có năng suất cao hơn. Sự thay đổi này cho thấy chuyển dịch lao động không còn chỉ là vấn đề cơ cấu, mà trở thành một quá trình tái cấu trúc chất lượng lao động, bao gồm kỹ năng, năng lực thích ứng và khả năng tham gia vào các chuỗi giá trị có năng suất cao hơn.
Sự phát triển trong tư duy này tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 19-NQ/TW khi Đảng nhấn mạnh yêu cầu chuyển dịch lao động nông thôn theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng lao động phi nông nghiệp, đồng thời chú trọng phát triển việc làm tại chỗ và đa dạng hóa sinh kế. Sự kết hợp giữa chuyển dịch lao động liên ngành và ổn định xã hội nông thôn phản ánh cách tiếp cận mang tính hệ thống, không tách rời yếu tố kinh tế với yếu tố xã hội trong quá trình công nghiệp hóa.
Thứ hai, về việc làm ở nông thôn, quan điểm của Đảng chuyển mạnh từ mục tiêu gia tăng số lượng việc làm sang nhấn mạnh chất lượng việc làm trong khuôn khổ phát triển thị trường lao động hiện đại. Đại hội XIII xác định: “Phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, linh hoạt, hội nhập; nâng cao chất lượng việc làm, bảo đảm an sinh xã hội” (ĐCSVN, 2021, tr.148). Theo cách tiếp cận này, việc làm chất lượng không chỉ được đo bằng số lượng việc làm tạo ra, mà còn gắn với các tiêu chí như thu nhập ổn định, năng suất lao động, khả năng tiếp cận bảo hiểm xã hội và điều kiện làm việc an toàn. Trong bối cảnh nông thôn, điều này được cụ thể hóa thông qua định hướng: phát triển kinh tế nông thôn đa ngành; mở rộng việc làm phi nông nghiệp; thúc đẩy liên kết sản xuất - chế biến - dịch vụ.
Nghị quyết số 19-NQ/TW đã đưa ra một cách tiếp cận thực tiễn hơn khi nhấn mạnh: “Đa dạng hóa sinh kế, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn” (Ban Chấp hành Trung ương, 2022, tr.3-4). Điều này cho thấy sự thừa nhận rõ ràng rằng trong điều kiện thị trường lao động còn phân mảnh, đa sinh kế không phải là dấu hiệu của lạc hậu, mà là một cơ chế thích ứng phổ biến của người lao động nông thôn. Đồng thời, trong bối cảnh chuyển đổi số, quan điểm của Đảng cũng mở rộng sang các hình thức việc làm mới, đặt ra yêu cầu phát triển kỹ năng số và giảm thiểu khoảng cách số giữa các nhóm lao động. Điều này phản ánh sự chuyển dịch từ thị trường lao động truyền thống sang thị trường lao động linh hoạt và đa dạng hơn.
Như vậy, trong giai đoạn 2016 - 2025, quan điểm của Đảng về lao động và việc làm ở nông thôn đã có bước chuyển quan trọng từ tiếp cận đơn chiều sang tiếp cận đa chiều và tích hợp hơn, đặt lao động trong mối quan hệ với chất lượng nguồn nhân lực, thể chế thị trường lao động và yêu cầu phát triển bao trùm. Tuy nhiên, để các định hướng này phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế thị trường lao động nông thôn, nâng cao chất lượng đào tạo kỹ năng phi nông nghiệp, đồng thời mở rộng bao phủ an sinh xã hội nhằm giảm thiểu tính dễ tổn thương và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nhóm lao động.
2.2. Thực trạng biến đổi cơ cấu lao động và việc làm ở nông thôn Việt Nam giai đoạn 2016 - 2025
a) Biến đổi cơ cấu lao động nông thôn giai đoạn 2016 - 2025
Cơ cấu lao động nông thôn giai đoạn 2016 - 2025 chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản, đồng thời gia tăng lao động phi nông nghiệp. Tại thời điểm 01/7/2025, lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 51,94% tổng số lao động nông thôn, giảm 4,36 điểm phần trăm so với năm 2016; trong khi lao động phi nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng từ 43,70% lên 48,06% (Ban chỉ đạo tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 Trung ương, 2025, tr. 25-27). Xu hướng này phản ánh quá trình phi nông nghiệp hóa ngày càng rõ trong cấu trúc lao động nông thôn, gắn với công nghiệp hóa, đô thị hóa, tái cơ cấu kinh tế và sự mở rộng của các hoạt động sản xuất, thương mại và dịch vụ ngoài nông nghiệp.
Tuy nhiên, sự chuyển dịch này không diễn ra đồng đều giữa các vùng. Ở các vùng có mức độ công nghiệp hóa và kết nối thị trường cao như Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng, lao động phi nông nghiệp đã chiếm tỷ trọng chủ đạo, lần lượt đạt 68,10% và 65,27%; trong khi lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ còn 31,90% và 34,73%. Ngược lại, tại các vùng như trung du và miền núi phía Bắc hay Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng cao, lần lượt khoảng 69,80% và 65,43% (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, 2025, tr. 25-27). Sự khác biệt này không chỉ phản ánh chênh lệch về cơ cấu kinh tế, mà còn phản ánh sự khác biệt về năng lực hấp thụ lao động phi nông nghiệp, mức độ phát triển hạ tầng, khả năng kết nối chuỗi giá trị và mức độ lan tỏa của công nghiệp hóa tới khu vực nông thôn. Nói cách khác, chuyển dịch lao động ở nông thôn Việt Nam không chỉ là một quá trình kinh tế thuần túy, mà còn là một quá trình phụ thuộc mạnh vào điều kiện không gian và thể chế phát triển vùng.
Sự chuyển dịch này phần lớn không diễn ra theo mô hình “thoát ly hoàn toàn khỏi nông nghiệp”, mà chủ yếu diễn ra dưới hình thức phi nông nghiệp hóa nội tại. Tức là, một bộ phận lớn lao động vẫn cư trú ở nông thôn, vẫn duy trì mối liên hệ nhất định với sản xuất nông nghiệp, nhưng ngày càng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động phi nông nghiệp như công nghiệp chế biến, xây dựng, thương mại, dịch vụ hoặc lao động làm công ăn lương tại chỗ. Cơ chế của quá trình này gắn với ít nhất ba yếu tố: thứ nhất, khả năng mở rộng việc làm phi nông nghiệp ngay trong không gian nông thôn và vùng ven đô; thứ hai, vai trò của hộ gia đình như một đơn vị tổ chức lao động linh hoạt, có thể phân bổ lao động giữa nhiều hoạt động khác nhau; thứ ba, những hạn chế về kỹ năng, chi phí di cư và tính bất định của thị trường lao động khiến nhiều lao động lựa chọn chiến lược “dịch chuyển từng phần” thay vì rời bỏ hoàn toàn khu vực nông nghiệp.
Sự biến đổi cơ cấu lao động cũng gắn chặt với sự thay đổi trong tổ chức sinh kế ở hộ gia đình. Năm 2025, cả nước có khoảng 15,84 triệu hộ nông thôn, trong đó khoảng 50,61% hộ hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm so với mức 53,66% năm 2016; trong khi tỷ trọng hộ phi nông nghiệp tăng từ 40,03% lên 43,92% (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025, 2025, tr. 25-27). Mặc dù đây không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp cơ cấu lao động cá nhân, nhưng nó cho thấy một xu hướng quan trọng: chuyển dịch lao động ở nông thôn đang diễn ra song song với sự suy giảm tương đối của mô hình hộ thuần nông và sự gia tăng của mô hình hộ đa hoạt động, trong đó hộ gia đình ngày càng đóng vai trò như một “đơn vị phối hợp lao động” giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp. Điều này cũng là tiền đề trực tiếp cho sự phổ biến của các hình thức việc làm đa dạng và đa sinh kế ở nông thôn.
Một khía cạnh quan trọng khác là sự chuyển dịch lao động theo không gian lao động. Nếu giai đoạn 1999-2009, luồng di cư nông thôn - thành thị có sự tăng trưởng mạnh, từ 27,1% lên 31,4% thì đến giai đoạn 2009-2019, tỷ trọng của luồng di cư này giảm xuống còn 27,5% (Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở, 2019), tr 56-58). Sự thay đổi này phản ánh quá trình chuyển dịch lao động diễn ra theo hai hướng song song: một bộ phận lao động tiếp tục di cư từ nông thôn ra thành thị, trong khi bộ phận khác ở lại nông thôn nhưng tham gia các hoạt động phi nông nghiệp tại chỗ. Điều này cho thấy quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam đang chuyển từ mô hình di cư - tập trung sang mô hình phi nông nghiệp hóa phân tán và linh hoạt hơn.
Bên cạnh chuyển dịch theo ngành và không gian, một xu hướng của thị trường lao động nông thôn giai đoạn 2016–2025 là sự thay đổi về trình độ và kỹ năng lao động. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2023 khu vực nông thôn chỉ đạt khoảng 18,4%, thấp hơn đáng kể so với 42,0% ở thành thị (Tổng cục Thống kê, 2024, tr.45-46). Điều này cho thấy chất lượng nguồn nhân lực nông thôn chưa theo kịp yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu lao động. Quy mô đào tạo nghề cho lao động nông thôn được mở rộng trong những năm gần đây, đặc biệt thông qua các chương trình quốc gia, tuy nhiên hiệu quả chuyển hóa thành kỹ năng thực tế còn hạn chế (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2023, tr.28-29). Phần lớn lao động vẫn làm các công việc giản đơn, kỹ năng thấp, đặc biệt trong khu vực phi chính thức.
Sự phân hóa kỹ năng giữa các nhóm lao động ngày càng rõ. Lao động trẻ, có trình độ và khả năng tiếp cận công nghệ tốt hơn, có xu hướng tham gia vào khu vực phi nông nghiệp và các việc làm mới trong kinh tế số; trong khi lao động lớn tuổi hoặc ít được đào tạo vẫn chủ yếu làm nông nghiệp hoặc công việc giá trị gia tăng thấp. Sự phân hóa này phản ánh chênh lệch về vốn nhân lực và làm gia tăng bất bình đẳng trong tiếp cận việc làm và thu nhập. Bên cạnh đó, cơ cấu kỹ năng cũng có sự chuyển dịch, từ kỹ năng kinh nghiệm sang kỹ năng nghề, kỹ thuật và kỹ năng số. Tuy nhiên, việc phổ cập các kỹ năng này vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở khu vực nông thôn khó khăn.
Tổng thể, chuyển dịch về trình độ và kỹ năng của lao động nông thôn diễn ra theo hướng tích cực nhưng chưa đủ mạnh để tạo đột phá. Khoảng cách kỹ năng giữa nông thôn và thành thị vẫn lớn, trong khi phân hóa nội bộ gia tăng, cho thấy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả chuyển dịch lao động và phát triển việc làm bền vững.
b) Biến đổi cơ cấu việc làm ở nông thôn giai đoạn 2016-2025
Nếu như biến đổi cơ cấu lao động phản ánh sự dịch chuyển của lực lượng lao động giữa các khu vực kinh tế, thì biến đổi cơ cấu việc làm phản ánh sự thay đổi trong đặc điểm, hình thức và chất lượng của các công việc mà lao động nông thôn tham gia. Trong giai đoạn 2016 - 2025, cơ cấu việc làm ở nông thôn Việt Nam đã biến đổi theo hướng đa dạng hóa về loại hình, linh hoạt hơn về hình thức tham gia, nhưng đồng thời cũng phân hóa rõ hơn về mức độ ổn định và chất lượng việc làm.
Xu hướng nổi bật nhất là sự gia tăng của các việc làm phi nông nghiệp trong khu vực nông thôn. Nếu như trước đây, việc làm ở nông thôn chủ yếu gắn với sản xuất nông nghiệp hộ gia đình, thì trong giai đoạn 2016-2025, ngày càng nhiều lao động tham gia các hoạt động công nghiệp chế biến, xây dựng, thương mại, dịch vụ, vận tải, logistics quy mô nhỏ và các hoạt động hỗ trợ chuỗi cung ứng. Sự mở rộng của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, khu vực ven đô và mạng lưới kết nối thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm phi nông nghiệp ngay trong hoặc gần không gian cư trú của lao động nông thôn. Dữ liệu từ khảo sát mức sống dân cư cho thấy cơ cấu thu nhập của hộ nông thôn đã chuyển dịch rõ theo hướng đa dạng hóa nguồn thu và giảm phụ thuộc vào nông nghiệp. Cụ thể, trong cơ cấu thu nhập của hộ, thu từ tiền lương, tiền công chiếm khoảng 55-56%, thu từ nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm xuống còn khoảng 10-11%, trong khi thu từ hoạt động phi nông nghiệp (sản xuất, kinh doanh, dịch vụ) chiếm khoảng 22–23% (Tổng cục Thống kê, 2023, tr. 124-125).
Xu hướng này phản ánh sự dịch chuyển liên tục của lực lượng lao động sang các khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, đồng thời cho thấy quá trình phi nông nghiệp hóa lao động ở Việt Nam diễn ra theo quỹ đạo chuyển dịch dài hạn và tương đối ổn định. Về mặt cơ chế, điều này gắn với việc chi phí tham gia các công việc phi nông nghiệp tại chỗ thường thấp hơn so với di cư dài hạn, trong khi hộ gia đình vẫn có thể duy trì một phần sản xuất nông nghiệp như “lớp đệm an toàn”. Do đó, cơ cấu việc làm ở nông thôn chuyển dần từ mô hình việc làm nông nghiệp tương đối đơn nhất sang mô hình việc làm hỗn hợp, trong đó các công việc phi nông nghiệp giữ vai trò ngày càng lớn hơn trong bảo đảm sinh kế.
Một đặc điểm nổi bật của thị trường lao động Việt Nam trong giai đoạn này là việc làm phi chính thức vẫn chiếm tỷ trọng lớn, đặc biệt trong khu vực nông thôn và ở các nhóm lao động tự tạo việc làm, lao động hộ gia đình hoặc lao động ngoài khu vực doanh nghiệp chính thức. Nhiều lao động nông thôn tham gia các công việc phi nông nghiệp như xây dựng, bán hàng, sửa chữa, dịch vụ cá thể, vận tải hoặc gia công quy mô nhỏ nhưng không có hợp đồng lao động chính thức, không được bảo đảm đầy đủ về bảo hiểm xã hội và thường có mức thu nhập thiếu ổn định. Về bản chất, điều này phản ánh một giới hạn mang tính thể chế của quá trình công nghiệp hóa ở nông thôn: khu vực phi nông nghiệp mở rộng nhanh hơn khả năng chính thức hóa việc làm và mở rộng các thiết chế bảo vệ lao động. Vì vậy, công nghiệp hóa ở nông thôn đã mở rộng đáng kể cơ hội có việc làm, nhưng chưa đồng thời tạo ra một cấu trúc việc làm có chất lượng cao và bền vững tương ứng.
Một biểu hiện quan trọng của biến đổi cơ cấu việc làm ở nông thôn Việt Nam giai đoạn 2016 - 2025 là sự gia tăng rõ rệt của mô hình đa sinh kế. Mô hình này được hiểu là việc hộ gia đình kết hợp nhiều nguồn lực, nhiều hoạt động kinh tế và có nhiều nguồn thu nhập nhằm duy trì cuộc sống, giảm thiểu rủi ro và tận dụng cơ hội thị trường. Trong khuôn khổ bài viết này, đa sinh kế được xem là cơ chế trung gian, thông qua đó chuyển dịch lao động không chỉ làm thay đổi cơ cấu việc làm mà còn tái cấu trúc nguồn thu nhập của hộ gia đình nông thôn. Theo đó, đa dạng hóa việc làm là một biểu hiện của đa sinh kế, nhưng không đồng nhất với sinh kế, bởi sinh kế bao hàm cả cách thức tổ chức và phân bổ nguồn lực ở cấp hộ gia đình. Cơ cấu thu nhập của hộ nông thôn đã chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa nguồn thu và giảm phụ thuộc vào nông nghiệp. Cụ thể, thu từ tiền lương và tiền công chiếm khoảng 55–56%, trong khi thu từ nông nghiệp giảm xuống còn khoảng 10-11% (Tổng cục Thống kê, 2023, tr. 124-125). Điều này cho thấy đa sinh kế đã trở thành một đặc trưng phổ biến của khu vực nông thôn, phản ánh sự chuyển dịch từ sinh kế đơn nhất sang cấu trúc sinh kế đa dạng và linh hoạt hơn.
Thực tiễn đa sinh kế thể hiện qua việc nhiều hộ gia đình không còn phụ thuộc vào một loại hình việc làm duy nhất, mà kết hợp đồng thời sản xuất nông nghiệp với các hoạt động phi nông nghiệp như làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ, xây dựng, vận tải hoặc cung cấp dịch vụ. Xu hướng này gắn với sự mở rộng của khu vực phi nông nghiệp tại nông thôn và vùng ven đô, đồng thời phản ánh sự thích ứng của hộ gia đình trước những biến động của thị trường lao động. Ở cấp độ chính sách, trong giai đoạn 2021-2025, hàng chục nghìn mô hình sinh kế đã được triển khai với sự tham gia của hàng trăm nghìn hộ dân, góp phần thúc đẩy đa dạng hóa hoạt động kinh tế và cải thiện thu nhập cho cư dân nông thôn. Điều này cho thấy đa sinh kế không chỉ là hiện tượng tự phát mà còn trở thành một định hướng chính sách trong phát triển nông thôn và giảm nghèo bền vững.
Tuy nhiên, đa sinh kế ở nông thôn Việt Nam mang tính hai mặt. Một mặt, nó phản ánh sự mở rộng cơ hội sinh kế và khả năng thích ứng linh hoạt của hộ gia đình; mặt khác, nó cũng cho thấy tính phân mảnh và thiếu ổn định của thị trường lao động, khi các nguồn thu nhập riêng lẻ thường có quy mô nhỏ, mang tính thời vụ và dễ bị tổn thương trước biến động kinh tế. Do đó, đa sinh kế không thể được nhìn nhận đơn thuần như một chỉ báo tích cực của đa dạng hóa kinh tế, mà cần được đánh giá đồng thời từ góc độ chất lượng việc làm và độ bền vững của sinh kế trong khu vực nông thôn.
Giai đoạn 2016 - 2025 cũng chứng kiến tác động ngày càng rõ của chuyển đổi số đối với cơ cấu việc làm ở nông thôn. Sự phát triển của thương mại điện tử, mạng xã hội và các nền tảng số đã tạo ra các dạng việc làm mới như bán hàng trực tuyến, giao nhận và lao động trên nền tảng số. Trước đây các hình thức này gần như không đáng kể, thì từ sau năm 2018, đặc biệt sau Covid-19, mức độ tham gia đã tăng nhanh. Điều này được thúc đẩy bởi sự cải thiện đáng kể về hạ tầng số ở nông thôn. Tuy nhiên, cơ hội việc làm số không phân bổ đồng đều. Các công việc này chủ yếu tập trung ở nhóm lao động trẻ (dưới 35 tuổi); lao động nữ tham gia nhiều hơn trong bán hàng trực tuyến, trong khi lao động nam chiếm ưu thế ở giao nhận và vận tải nền tảng. Ngược lại, lao động trung niên và lớn tuổi ít tham gia hơn do hạn chế về kỹ năng số. Bên cạnh đó, các việc làm trên nền tảng số thường linh hoạt nhưng thiếu ổn định và ít được bảo vệ bởi hệ thống an sinh xã hội, khi phần lớn lao động không có hợp đồng chính thức. Do đó, chuyển đổi số không tự động nâng cao chất lượng việc làm, mà chủ yếu tái cấu trúc cơ hội theo hướng có lợi hơn cho những nhóm lao động có kỹ năng và khả năng thích ứng cao hơn. Kết quả là, cấu trúc việc làm ở nông thôn không chỉ đa dạng hơn mà còn phân tầng rõ rệt hơn theo năng lực số.
c) Xu hướng biến đổi cơ cấu lao động và việc làm ở nông thôn giai đoạn 2016-2025
Từ các phân tích thực trạng, có thể khái quát rằng biến đổi cơ cấu lao động và việc làm ở nông thôn Việt Nam giai đoạn 2016 - 2025 phản ánh một xu hướng tái cấu trúc thị trường lao động theo hướng phi nông nghiệp hóa, linh hoạt hóa và phân tầng hóa, trong đó không chỉ thay đổi về phân bổ lao động giữa các ngành, mà còn thay đổi về cách thức tổ chức việc làm và sinh kế ở hộ gia đình.
Trên cơ sở đó, có thể nhận diện ba xu hướng mang tính quy luật:
Trước hết, chuyển dịch lao động diễn ra theo hướng “phi nông nghiệp hóa nội tại”, khi lao động không rời bỏ hoàn toàn nông nghiệp mà chuyển sang kết hợp nhiều hoạt động ngay tại nơi cư trú. Xu hướng này cho thấy cơ chế chuyển dịch đang thay đổi từ dựa trên di cư sang dựa trên mở rộng cơ hội việc làm tại chỗ, qua đó làm cho quá trình công nghiệp hóa gắn chặt hơn với không gian nông thôn.
Thứ hai, thị trường lao động nông thôn vận hành ngày càng theo logic đa sinh kế, trong đó hộ gia đình trở thành đơn vị trung tâm trong việc phân bổ lao động giữa các hoạt động khác nhau. Điều này cho thấy chuyển dịch lao động không diễn ra theo mô hình tuyến tính mà mang tính linh hoạt và thích ứng với rủi ro thị trường.
Thứ ba, cấu trúc việc làm và thu nhập có xu hướng phân tầng theo kỹ năng và khả năng tiếp cận cơ hội, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số. Các hình thức việc làm mới mở rộng cơ hội nhưng đồng thời làm gia tăng khoảng cách giữa các nhóm lao động, phản ánh sự vận động không đồng đều của thị trường lao động trong quá trình công nghiệp hóa.
Những xu hướng trên tạo ra tác động hai mặt đối với thị trường lao động và phát triển nông thôn.
Đối với thị trường lao động, quá trình này góp phần mở rộng không gian tạo việc làm và nâng cao tính linh hoạt trong phân bổ lao động. Sự gia tăng của khu vực phi chính thức và các hình thức việc làm linh hoạt cũng làm cho thị trường lao động trở nên phân mảnh hơn, với mức độ ổn định và khả năng bảo vệ lao động còn hạn chế.
Đối với sinh kế và thu nhập, đa dạng hóa hoạt động kinh tế giúp nâng cao khả năng chống chịu của hộ gia đình, nhưng đồng thời làm gia tăng phân hóa thu nhập do sự khác biệt về vốn nhân lực và khả năng tiếp cận cơ hội.
Đối với cấu trúc kinh tế nông thôn, các xu hướng này thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang kinh tế đa ngành, góp phần nâng cao năng suất lao động, nhưng cũng làm gia tăng chênh lệch phát triển giữa các vùng.
Tổng thể, có thể thấy rằng quá trình chuyển dịch lao động ở nông thôn Việt Nam không chỉ là sự thay đổi về cơ cấu ngành, mà là một quá trình tái cấu trúc cách thức tổ chức lao động và sinh kế, trong đó yếu tố kỹ năng, thể chế và khả năng tiếp cận thị trường đóng vai trò quyết định đối với chất lượng và tính bền vững của phát triển.
2.3. Hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy chuyển dịch lao động và việc làm ở nông thôn Việt Nam theo hướng chất lượng và bền vững
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến đổi lao động và việc làm ở nông thôn Việt Nam giai đoạn 2016 - 2025 không diễn ra theo một chiều đơn giản, mà mang tính đan xen, đa sinh kế và phân hóa rõ rệt. Điều đó đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm chính sách từ thúc đẩy dịch chuyển lao động về số lượng sang nâng cao chất lượng của quá trình chuyển dịch, trong đó nhấn mạnh khả năng tiếp cận việc làm có năng suất cao hơn, thu nhập ổn định hơn và cơ hội phát triển công bằng hơn.
Trước hết, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn cần được xem là điều kiện có tính nền tảng. Trong bối cảnh khu vực công nghiệp và dịch vụ ngày càng đòi hỏi kỹ năng cao hơn, đào tạo nghề cần được tổ chức lại theo hướng gắn với nhu cầu thị trường và đặc điểm phát triển của từng vùng, đồng thời chú trọng phát triển kỹ năng số và năng lực thích ứng. Đây là yếu tố then chốt giúp lao động nông thôn tham gia thực chất vào các khu vực việc làm có năng suất và thu nhập cao hơn.
Thứ hai, phát triển thị trường lao động nông thôn theo hướng đồng bộ và hiệu quả hơn là yêu cầu quan trọng nhằm giảm tính phân mảnh và nâng cao hiệu quả phân bổ lao động. Việc hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, tăng cường vai trò của các thiết chế trung gian như trung tâm dịch vụ việc làm, đồng thời mở rộng độ bao phủ của chính sách an sinh xã hội đối với lao động phi chính thức sẽ góp phần giảm chi phí tìm việc, nâng cao tính ổn định của việc làm và hạn chế rủi ro trong quá trình chuyển dịch.
Thứ ba, cần nhìn nhận đa sinh kế như một đặc trưng thích ứng phổ biến của nông thôn Việt Nam hiện nay. Do đó, chính sách không nên hướng tới thu hẹp đa sinh kế, mà cần tập trung nâng cao chất lượng các hoạt động sinh kế, thông qua thúc đẩy liên kết giữa nông nghiệp với công nghiệp chế biến và dịch vụ, hỗ trợ kinh tế hộ phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khi các hoạt động sinh kế được nâng cấp về giá trị, đa sinh kế không chỉ giúp giảm rủi ro mà còn trở thành động lực tăng thu nhập.
Thứ tư, thúc đẩy chuyển đổi số theo hướng bao trùm là một yêu cầu ngày càng cấp thiết. Bên cạnh việc đầu tư hạ tầng số, cần chú trọng nâng cao kỹ năng số cho lao động nông thôn và hoàn thiện các cơ chế bảo vệ lao động trong các hình thức việc làm mới. Điều này nhằm bảo đảm rằng chuyển đổi số không làm gia tăng bất bình đẳng, mà thực sự mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường và việc làm.
Thứ năm, điều tiết phân hóa thu nhập và củng cố hệ thống an sinh xã hội cần được đặt ở vị trí trung tâm của chính sách phát triển nông thôn. Khi chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra mạnh mẽ, chênh lệch về kỹ năng và khả năng tiếp cận cơ hội sẽ kéo theo phân hóa thu nhập ngày càng rõ. Vì vậy, cần mở rộng tiếp cận giáo dục, đào tạo nghề và tăng cường hỗ trợ đối với các nhóm yếu thế nhằm bảo đảm công bằng cơ hội và ổn định thu nhập.
Các định hướng trên chỉ có thể phát huy hiệu quả trong một khuôn khổ thể chế đồng bộ và có năng lực thực thi cao. Điều đó đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện chính sách phát triển thị trường lao động, tăng cường phối hợp liên ngành và nâng cao năng lực quản trị ở cấp địa phương, đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước theo hướng kiến tạo và điều tiết thị trường. Công nghiệp hóa không tự động tạo ra chuyển dịch lao động hiệu quả, mà chỉ mở ra các điều kiện phát triển. Việc các điều kiện đó có được chuyển hóa thành việc làm bền vững và thu nhập ổn định hay không phụ thuộc quyết định vào chất lượng nguồn nhân lực, mức độ phát triển của thị trường lao động và năng lực điều tiết của thể chế.
3. Kết luận
Vấn đề lao động và việc làm ở nông thôn Việt Nam giai đoạn 2016 - 2025 không diễn ra theo một chiều đơn giản, mà phản ánh một quá trình chuyển dịch mang tính đan xen, đa sinh kế và phân hóa rõ rệt. Điều này cho thấy thực tiễn nông thôn Việt Nam chỉ phù hợp một phần với các mô hình chuyển dịch cổ điển, đồng thời làm nổi bật vai trò của đa sinh kế như một hình thức thích ứng phổ biến trong bối cảnh thị trường lao động phân mảnh và chuyển đổi số diễn ra ngày càng sâu rộng.
Nghiên cứu góp phần làm rõ tính không đồng đều và phi tuyến của chuyển dịch lao động trong quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam. Trên phương diện chính sách, kết quả nghiên cứu cho thấy trọng tâm không nên chỉ đặt vào tốc độ dịch chuyển lao động, mà cần hướng nhiều hơn vào chất lượng việc làm, năng lực kỹ năng, khả năng tiếp cận thị trường và kiểm soát phân hóa thu nhập.
Công nghiệp hóa không tự động tạo ra chuyển dịch lao động hiệu quả, mà chỉ mở ra các điều kiện phát triển. Việc các điều kiện đó có được chuyển hóa thành việc làm bền vững, thu nhập ổn định và cơ hội phát triển công bằng hay không phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng nguồn nhân lực, mức độ phát triển của thị trường lao động và năng lực điều tiết của thể chế.
_________________
Ngày nhận bài: 02/4/2026; Ngày bình duyệt: 16/4/2026; Ngày quyết định đăng: 9/5/2026.
Email tác giả: phuonghoa@tmu.edu.vn
Ban Chấp hành Trung ương (2022). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp (2025). Báo cáo sơ bộ kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025.
Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở (2019). Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, Nxb Thống kê.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2023). Báo cáo tổng kết đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2023). Báo cáo tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025.
ĐCSVN (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Tổng cục Thống kê (2023). Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam năm 2022. Nxb Thống kê.
Tổng cục Thống kê (2024). Báo cáo lao động - việc làm năm 2023. Nxb Thống kê.
Tổng cục Thống kê (2024). Báo cáo điều tra lao động - việc làm năm 2023. Nxb Thống kê.