DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.2590
Tóm tắt: Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh xác định đổi mới căn bản và toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng là nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách trong bối cảnh mới. Bài viết phân tích thực trạng đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng giai đoạn 2021 - 2025, nhận diện những hạn chế, bất cập và đề xuất giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh đạt chuẩn mức 2 vào năm 2030.
ThS NGUYỄN THỊ KIM DUNG
ThS NGUYỄN THỊ HƯƠNG
Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh

1. Mở đầu
Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (ĐCSVN, 2026, tr. 81); “không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, uy tín. Gắn kết chặt chẽ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” (ĐCSVN, 2026, tr. 83). Theo đó, Đảng đã định hướng: “Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, liên thông giữa các phương thức, trình độ và cấp học. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, thể lực và phẩm chất người học, chuẩn hoá chất lượng và kiểm soát chặt chẽ đầu ra” (ĐCSVN, 2026, tr. 101); “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng; duy trì nền nếp và nâng cao chất lượng bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới” (ĐCSVN, 2026, tr. 131); “đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, trọng dụng các chuyên gia đầu ngành” (ĐCSVN, 2026, tr. 132).
Trên tinh thần Đại hội XIV, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được xác định giữ vai trò then chốt, quyết định đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ chất lượng cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ và tư duy chiến lược. Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh xác định đổi mới tư duy giáo dục lý luận, chuyển đổi từ mô hình truyền thụ tri thức một chiều sang mô hình kiến tạo năng lực, lấy người học làm trung tâm và lấy thực tiễn làm thước đo đánh giá hiệu quả, chất lượng công tác này; góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của địa phương đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới.
2. Nội dung
2.1. Kết quả đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng của Trường
Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh (trên cơ sở sáp nhập Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang và Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh cũ) có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị về lý luận chính trị; chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; quản lý nhà nước; kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý; kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội; tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương. Trong giai đoạn 2021 - 2025, Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang và Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh (cũ) (gọi tắt là 2 Trường), đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng 204 lớp với 18.924 lượt cán bộ tham dự; trong đó, đào tạo: 77 lớp với 4.330 học viên; bồi dưỡng: 127 lớp với 14.594 lượt học viên (Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ, 2026, tr.1). Cả 2 Trường đã chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng toàn diện trên các mặt công tác. Cụ thể:
Một là, công tác quản lý và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng: Quan tâm đổi mới mô hình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng theo hướng linh hoạt, vừa bảo đảm chỉ tiêu đào tạo tập trung, vừa đáp ứng nhu cầu “vừa học vừa làm” của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, địa phương trong tỉnh. Các khâu trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng, như: tuyển sinh, giảng dạy, quản lý học viên, nghiên cứu thực tế, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học viên có nhiều đổi mới theo hướng gắn với thực tiễn, từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Thực hiện đủ và vượt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng được giao đảm bảo tiến độ, chất lượng; phối hợp tổ chức tốt các lớp đào tạo, bồi dưỡng theo các chương trình, đề án, kế hoạch của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Ngoài tổ chức thực hiện các lớp đào tạo, bồi dưỡng theo nhiệm vụ được giao, 2 Trường chủ động liên kết, phối hợp với một số trường đại học, học viện mở rộng quy mô đào tạo, bồi dưỡng; đã tổ chức ngoài kế hoạch được 04 lớp đào tạo, với 162 học viên; tổ chức 15 lớp bồi dưỡng, 846 học viên (Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ, 2026, tr.2).
Hai là, thực hiện nghiêm túc việc đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng theo quy định. Công tác quản lý, đánh giá chất lượng dạy và học được tiến hành nghiêm túc và khoa học, đánh giá toàn diện kết quả học tập và ý thức rèn luyện, chấp hành nội quy, quy chế; định kỳ báo cáo kết quả học tập và rèn luyện của học viên khi kết thúc môn học (đối với đào tạo) hoặc khi kết thúc khóa học (đối với bồi dưỡng) với các cơ quan, đơn vị để theo dõi và làm căn cứ nhận xét, đánh giá cán bộ; lấy ý kiến đánh giá của địa phương về đặt lớp và học viên về chương trình, phương pháp, tinh thần trách nhiệm của giảng viên, về cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ giảng dạy và học tập... Đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của giảng viên và chủ nhiệm lớp, đồng chủ nhiệm lớp trong công tác quản lý học viên. Việc đánh giá kết quả học tập được tổ chức thực hiện chặt chẽ, tác động tích cực đến thái độ và ý thức học tập của học viên; công tác kiểm định đánh giá kết quả học tập của học viên được thực hiện khách quan theo đúng nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng.
Ba là, đẩy mạnh các hoạt động nâng cao chất lượng chuyên môn của giảng viên. Đảng ủy, Ban Giám hiệu của 2 Trường đã chỉ đạo các khoa chuyên môn tăng cường công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát việc soạn bài, giảng dạy của giảng viên, nhất là định hướng chính trị, nội dung đảm bảo tính khoa học gắn liền với đổi mới phương pháp giảng dạy. Các khoa và từng giảng viên giữ vững định hướng chính trị, quán triệt nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp và những chủ trương, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của tỉnh trong giảng dạy; duy trì nghiêm túc sinh hoạt chuyên môn; tổ chức thao giảng, dự giờ, hội thảo khoa học cấp khoa theo kế hoạch, Hội thi Giảng viên dạy giỏi cấp Trường và Hội thi Học viên học giỏi lý luận chính trị. Công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên được quan tâm thường xuyên. Hằng năm, lãnh đạo trường cử hơn 20 lượt giảng viên tham gia các lớp bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và các cơ sở đào tạo có thẩm quyền tổ chức. Trong giai đoạn 2021 - 2025, cả 2 Trường đã cử 05 giảng viên đi học nghiên cứu sinh; trong số 55 giảng viên hiện có của Trường, có 04 tiến sĩ (chiếm 7,27%); 55 thạc sĩ (chiếm 100%); 39 giảng viên chính và tương đương (chiếm 70,9%); có 52 giảng viên có trình độ cao cấp lý luận chính trị (đạt 94,5%). (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh, 2025, tr.6).
Bốn là, tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, gắn với nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên. Trong giai đoạn 2021 - 2025, cả 2 Trường đã tổ chức nghiên cứu 07 đề tài khoa học cấp tỉnh; thực hiện 49 đề tài khoa học cấp cơ sở. Biên tập, xuất bản 18 sách chuyên khảo/kỷ yếu hội thảo cấp tỉnh và 02 tập bài giảng. Phát hành 33 số bản tin “Thông tin Lý luận và Thực tiễn”. Tổ chức 02 hội thảo cấp bộ; 12 hội thảo khoa học cấp tỉnh, 34 hội thảo khoa học cấp cơ sở (Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ, 2026). Cùng với các hoạt động khác như: tổ chức giảng viên đi nghiên cứu thực tế, hoạt động sáng kiến, nghiên cứu viết bài đăng trên báo, tạp chí khoa học uy tín; tham gia Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đạt 02 giải B và 01 giải Khuyến khích. Từ các hoạt động này, đã góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, giảng viên, góp phần nâng cao được chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Nhà trường.
Bốn là, thực hiện gắn lý luận với thực tiễn trong đào tạo, bồi dưỡng. Nhà trường tăng cường đổi mới nội dung chương trình, biên soạn giáo án; Ban Giám hiệu nhà trường thường xuyên chỉ đạo cập nhật, bổ sung đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào nội dung đào tạo, bồi dưỡng, bảo đảm gắn lý luận với thực tiễn địa phương và phù hợp với từng đối tượng học viên. Đồng thời, tích hợp những nội dung mới vào nội dung chương trình đào tạo trung cấp lý luận chính trị như nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; những điểm mới của Văn kiện Đại hội Đảng bộ các cấp; thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương… Nhà trường luôn chú trọng tổ chức cho giảng viên và học viên đi nghiên cứu thực tế hằng năm ở các địa phương trong và ngoài tỉnh nhằm củng cố, bổ sung kiến thức lý luận; nắm bắt, cập nhật kiến thức thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn.
2.2. Một số hạn chế, bất cập và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đạt được trong đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, còn một số hạn chế, bất cập cần quan tâm khắc phục như:
Một là, trình độ, năng lực của bộ phận giảng viên chưa đồng đều, thiếu giảng viên có trình độ tiến sĩ; đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên chuyển biến chưa thực sự rõ nét; một số giảng viên chưa vận dụng phương pháp giảng dạy tích cực vào công tác giảng dạy; phương pháp giảng dạy ở một số chuyên đề vẫn còn nặng về truyền thụ lý thuyết, chưa phát huy hết tính chủ động của người học và chưa vận dụng thực tiễn với đặc thù của địa phương.
Hai là, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của một bộ phận học viên sau đào tạo còn lúng túng, thiếu linh hoạt trong xử lý các tình huống thực tế phát sinh tại cơ sở.
Ba là, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn đạt yêu cầu về số lượng nhưng chất lượng có thời điểm, có nội dung, có việc chưa cao. Việc thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn còn thiếu định hướng nghiên cứu dài hạn, chưa phát huy hết năng lực của đội ngũ cán bộ, giảng viên. Chưa tổ chức biên soạn được nhiều sách chuyên khảo, sách tham khảo phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm huy động, nâng cao năng lực nghiên cứu của cán bộ, giảng viên. Còn ít giảng viên có bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành, tạp chí có uy tín trong nước.
Bốn là, chưa xây dựng được mô hình, điển hình trong đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và các mặt công tác khác được cấp trên công nhận hoặc được nhân rộng trong cụm, khu vực hoặc trên cả nước.
Năm là, việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giảng dạy, quản lý chưa mạnh; đầu tư hiện đại hóa các trang thiết bị phục vụ giảng dạy, đào tạo, bồi dưỡng chưa đồng bộ và đáp ứng được yêu cầu.
Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trên là do nguồn nhân lực, kinh phí đầu tư cho nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số, đầu tư cho cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa xứng tầm với vai trò là trung tâm đào tạo cán bộ cấp tỉnh; nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn có điểm bất cập, chưa thường xuyên được cập nhật, chưa sát với tình hình thực tiễn xã hội; một bộ phận học viên chưa xác định đúng mục đích, động cơ học tập, thiếu tự giác trong rèn luyện, nghiên cứu; một số giảng viên chưa thật sự nỗ lực phấn đấu và thiếu chủ động nâng cao trình độ chuyên môn, thụ động, ngại đổi mới, chưa thích ứng với việc mới, việc khó trong đào tạo, bồi dưỡng; hoạt động khoa học và công nghệ của nhà trường chưa được đầu tư thỏa đáng, nhận thức về vị trí, vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn của một số giảng viên chưa thật sự đầy đủ và toàn diện; thiếu tích cực, tâm huyết.
2.3. Giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng
Đại hội XIV của Đảng mở ra một tầm nhìn mới, đòi hỏi công tác giáo dục lý luận chính trị phải có những bước chuyển mình tương xứng. Đối với Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh, đổi mới công tác đào tạo bồi dưỡng được xác định là mục tiêu phát triển trong giai đoạn tới. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh đã ban hành Đề án số 02-ĐA/TU ngày 10/12/2025 về xây dựng Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh đạt chuẩn mức 2 trong giai đoạn 2025 - 2030. Đây là khung tiêu chuẩn và định hướng quan trọng để Trường đổi mới, nâng cao năng lực hoạt động và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, đồng thời đáp ứng mô hình chính quyền địa phương hai cấp; do đó, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, tăng cường đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng sát thực tiễn và từng đối tượng học viên theo hướng “chuẩn hóa - hiện đại hóa - thực tiễn hóa”
Ban Giám hiệu chỉ đạo, kiến tạo, phân cấp mạnh các đơn vị chức năng trong trường chủ động biên soạn tài liệu, giáo trình phục vụ giảng dạy dựa trên khung chương trình đào tạo của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ban hành về đào tạo trung cấp lý luận cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở; biên soạn tài liệu bồi dưỡng các chức danh cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm khoa học, cơ bản, hệ thống về lý luận, sát với đối tượng và phù hợp với thực tiễn địa phương; tích hợp đường lối, chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và địa phương, nhất là những điểm mới của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng vào nội dung đào tạo, bồi dưỡng. Quan tâm hoạt động liên kết đào tạo để mở rộng quy mô đào tạo của Nhà trường, đáp ứng nhu cầu nâng cao trình độ lý luận chính trị và chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh. Chú trọng tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu theo chức danh, nhất là dành cho đối tượng chủ chốt cấp xã trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, viên chức của Trường đủ tiêu chuẩn và năng lực
Nhà trường tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên về chuyên môn, nghiệp vụ, hoàn thiện các chứng chỉ theo quy định; tạo điều kiện cho cán bộ, giảng viên tham gia các chương trình nghiên cứu, bồi dưỡng ở nước ngoài, các hội thảo khoa học cấp tỉnh, cấp trung ương; tham gia hội thi giảng viên dạy giỏi lý luận chính trị; đề xuất chính sách hỗ trợ, khuyến khích cán bộ, giảng viên của Trường tham gia các chương trình đào tạo tiến sĩ. Đổi mới công tác nghiên cứu thực tế có kỳ hạn và hằng năm cho đội ngũ giảng viên, góp phần bổ sung kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn của giảng viên, nhất là giảng viên trẻ, giảng viên chưa qua các vị trí lãnh đạo, quản lý.
Thứ ba, đổi mới phương pháp giảng dạy từ truyền đạt tri thức sang kiến tạo năng lực và phẩm chất
Ban Giám hiệu chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người học làm trung tâm, phát huy tính chủ động và năng lực tự học của học viên. Triển khai các phương pháp dạy học tích cực như: xử lý tình huống để rèn luyện tư duy thực tiễn, kỹ năng ra quyết định; mô phỏng và đóng vai các chức danh lãnh đạo để phát triển kỹ năng điều hành và bản lĩnh lãnh đạo; đề xuất dự án, đề tài gắn với nhiệm vụ tại đơn vị công tác, để hình thành năng lực hợp tác và trách nhiệm xã hội; đối thoại học thuật, tăng cường tranh luận giữa giảng viên - học viên và giữa học viên - học viên để củng cố lập trường và khả năng phản biện, hướng tới phát triển 5 trụ cột năng lực cho học viên như năng lực tư duy lý luận và phản biện; năng lực sáng tạo và giải quyết vấn đề; năng lực truyền đạt và thuyết phục; năng lực hợp tác và giao tiếp học thuật; năng lực tự nghiên cứu, học tập suốt đời.
Thứ tư, đầu tư trang thiết bị giảng dạy hiện đại, tiên tiến, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy theo công nghệ mới, dựa trên dữ liệu số
Đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, nâng cấp trang thiết bị, xây dựng phòng học thông minh, lớp học số, phần mềm công nghệ quản lý nhằm tăng cường chuyển đối số mạnh mẽ trong các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, công tác quản lý của Nhà trường. Thực hiện số hóa kết quả hoạt động trên các lĩnh vực; số hóa các tư liệu, tài liệu phục vụ giảng dạy và học tập của học viên; đầu tư trang thiết bị giảng dạy tiên tiến, mời chuyên gia về công nghệ để tập huấn cho đội ngũ giảng viên nhà trường về sử dụng thiết bị và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý, giảng dạy và nghiên cứu.
Thứ năm, đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng
Kết hợp giữa đào tạo, bồi dưỡng trực tiếp và trực tuyến trong bối cảnh địa bàn rộng sau sáp nhập tỉnh; nghiên cứu mở các lớp bồi dưỡng và cấp chứng chỉ theo hình thức trực tuyến. Kết hợp mở các lớp trung cấp lý luận chính trị hệ tập trung tại trường, các lớp hệ không tập trung tại các địa phương; chú trọng mở các lớp bồi dưỡng cập nhật kiến thức, bồi dưỡng theo chức danh, kỹ năng lãnh đạo, quản lý... đáp ứng nhu cầu thực tế.
Kết hợp đào tạo, bồi dưỡng giữa lý luận và thực tiễn, tăng cường tổ chức các đợt nghiên cứu thực tế tại các mô hình nông thôn mới hiện đại, các khu công nghiệp công nghệ cao, mô hình điển hình, sáng tạo của tỉnh cho giảng viên và học viên hoặc tham dự các hội thảo, tọa đàm khoa học, dự thính kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh và các hội nghị quan trọng cấp tỉnh, để nâng cao kiến thức cho giảng viên và học viên.
Thứ sáu, đổi mới công tác quản lý, đánh giá chất lượng dạy và học theo hướng đồng bộ, khoa học, hiệu quả
Duy trì thực hiện tốt việc đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng về nội dung, chương trình, giảng viên, học viên, cơ sở vật chất; thực hiện tốt việc kết hợp đánh giá điểm so với đánh giá quá trình rèn luyện của học viên. Tổ chức thi, kiểm tra, đánh giá theo định hướng mở, tài liệu mở, tư duy mở gắn với việc dạy - học thực chất, đánh giá thực chất. Tăng cường phối hợp với các cơ quan, địa phương đánh giá hiệu quả sau đào tạo, bồi dưỡng làm cơ sở đề ra những giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng.
Thứ bảy, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn
Ban Giám hiệu chỉ đạo và phối hợp các đơn vị chức năng tập trung xây dựng Trường Chính trị trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn chất lượng cao của địa phương; chú trọng hơn về tính ứng dụng và kết quả nghiên cứu, nhất là nghiên cứu phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng của Trường và những vấn đề lớn mang tính chiến lược phục vụ công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Sau tổng kết thực tiễn, đề xuất được chủ trương, cơ chế, chính sách thực hiện đối với Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân tỉnh nhằm nâng cao vai trò, vị thế của Nhà trường. Phát huy vai trò của các khoa, phòng của Trường trong việc thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học, lấy kết quả nghiên cứu khoa học của từng giảng viên và các khoa, phòng làm tiêu chí bình xét danh hiệu thi đua. Thực hiện chế độ khen thưởng, nêu gương, động viên kịp thời cán bộ, giảng viên có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu khoa học.
3. Kết luận
Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh theo tinh thần Đại hội XIV là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh mới. Nhà trường phải thực sự trở thành một “trung tâm sáng tạo trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị” của địa phương, nơi hội tụ tri thức hiện đại và vai trò nòng cốt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ địa phương “vừa hồng, vừa chuyên”, đủ tầm dẫn dắt địa phương tiến bước mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn phát triển mới.
_________________
Ngày nhận bài:10/3/2026; Ngày bình duyệt: 3/4/2026
Ngày duyệt đăng:10/5/2026.
Email tác giả: huongtctbg@gmail.com
Tài liệu tham khảo:
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh (2025). Đề án số 02-ĐA/TU ngày 10/12/ 2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh về xây dựng Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh đạt chuẩn mức 2, giai đoạn 2025 - 2030.
ĐCSVN (2025). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ (2026). Báo cáo số 13-BC/TCT ngày 30/ 01/2026 của Trường Chính trị Nguyễn Văn Cừ tỉnh Bắc Ninh về kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giai đoạn 2021-2025.