Nghiên cứu lý luận

Tự đổi mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng để Đảng ta thật sự là “đạo đức, là văn minh”

19/09/2026 20:04

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5213
Tóm tắt: Tự đổi mới là quy luật phát triển nội tại của Đảng Cộng sản Việt Nam, bắt nguồn từ bản chất cách mạng, khoa học của Đảng. Đối với Đảng lãnh đạo, cầm quyền, tự đổi mới không chỉ là đổi mới tư duy, đường lối, phương thức lãnh đạo, mà còn là quá trình tự chỉnh đốn, nâng cao chất lượng tổ chức, tự thanh lọc, kiểm soát quyền lực, nâng cao đạo đức và văn minh cầm quyền. Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng “là đạo đức, là văn minh”, bài viết làm rõ nội hàm của tự đổi mới để Đảng là “đạo đức, là văn minh”, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh.

ThS PHẠM XUÂN THÀNH
PGS, TS LÂM QUỐC TUẤN
Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

bcp.cdnchinhphu.vn-334894974524682240-2026-1-23-_image-1769159722261779172915.jpg
Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ra mắt Đại hội_Ảnh: BCP

1. Mở đầu

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” (Hồ Chí Minh, 2011, tr. 403). Đảng “là đạo đức” bởi Đảng đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết; cán bộ, đảng viên thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; quyền lực được sử dụng để phụng sự chứ không bị biến thành đặc quyền. Đảng “là văn minh” khi Đảng lãnh đạo bằng trí tuệ, bằng dân chủ, bằng khoa học, bằng pháp quyền, bằng nêu gương và bằng hiệu quả thực tiễn. Tư tưởng của Người không chỉ biểu đạt niềm tự hào về bản chất cách mạng, trong sáng của Đảng, mà còn đặt ra một chuẩn mực rất cao đối với Đảng lãnh đạo, cầm quyền. Đảng phải không ngừng tự rèn luyện, tự chỉnh đốn, tự đổi mới để xứng đáng với vai trò lãnh đạo dân tộc và với niềm tin của nhân dân.

Trong điều kiện Đảng lãnh đạo đất nước, thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số mạnh mẽ, phát triển nhanh và bền vững ngày càng cao; cùng với thời cơ, những nguy cơ nội sinh cũng đặt ra gay gắt: suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tham nhũng, tiêu cực; lợi ích nhóm; chạy chức, chạy quyền; quan liêu, xa dân; tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm. Những biểu hiện ấy nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi sẽ làm suy giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và làm tổn hại niềm tin của nhân dân với Đảng. Đại hội XIV của Đảng đặt vấn đề “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh” (ĐCSVN, 2026, tr. 130); yêu cầu “nghiên cứu, hoàn thiện lý luận xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng Đảng thật sự “là đạo đức, là văn minh” trong tình hình mới” ” (ĐCSVN, 2026, tr. 392). Vì vậy, nghiên cứu vấn đề tự đổi mới của Đảng không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới không chỉ dừng ở việc khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; mà còn cần làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, có năng lực tự đổi mới, sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo và uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

2. Nội dung

2.1. Tự đổi mới là quy luật phát triển của Đảng

Tự đổi mới là quy luật phát triển nội tại của một đảng cách mạng chân chính. Bởi thực tiễn cách mạng luôn vận động; xã hội luôn biến đổi; yêu cầu, nhiệm vụ của đất nước ở mỗi giai đoạn lịch sử không giống nhau. Nếu Đảng không tự đổi mới, tư duy lãnh đạo sẽ tụt hậu trước thực tiễn; phương thức lãnh đạo sẽ không còn phù hợp; tổ chức có nguy cơ trì trệ; cán bộ, đảng viên có thể suy thoái; niềm tin của nhân dân có thể bị bào mòn. Do đó, tự đổi mới là điều kiện để Đảng giữ vững vai trò tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu.

Trong thời kỳ đầu công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, tự đổi mới trong Đảng thể hiện trước hết ở đổi mới tư duy về kinh tế, mô hình phát triển, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, giải phóng sức sản xuất. Đại hội XI, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định: để đảm đương vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; “thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn” (ĐCSVN, 2011, tr. 89), nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo; đồng thời yêu cầu thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Tiếp đó, nhất là từ Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII, khóa XIII, tự đổi mới gắn chặt hơn với chỉnh đốn Đảng, phòng, chống suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Đến Đại hội XIV, yêu cầu tự đổi mới của Đảng được đặt trực tiếp trong mục tiêu làm cho Đảng thật sự “là đạo đức, là văn minh”. Đại hội yêu cầu: “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh” (ĐCSVN, 2026, tr. 130). Đây là bước phát triển mới trong tư duy xây dựng Đảng cầm quyền.

Tự đổi mới không đối lập với kiên định. Phải đấu tranh với những quan điểm sai trái cố tình xuyên tạc, đánh đồng đổi mới với từ bỏ nền tảng tư tưởng, từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, phải nhận thức rõ, tự đổi mới của Đảng là đổi mới trên cơ sở kiên định; là làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng sáng tạo hơn vào thực tiễn Việt Nam; là làm cho mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được hiện thực hóa bằng phương thức phù hợp hơn. Kiên định mà không sáng tạo sẽ rơi vào giáo điều, bảo thủ; đổi mới mà không kiên định sẽ dẫn tới chệch hướng, mất phương hướng. Bản lĩnh của Đảng nằm ở khả năng giải quyết đúng mối quan hệ giữa kiên định và sáng tạo, giữa nguyên tắc và linh hoạt, giữa mục tiêu không đổi và phương thức luôn phải đổi mới.

Lịch sử cách mạng Việt Nam chứng minh rõ quy luật ấy. Sự ra đời của Đảng đã thể hiện sự sáng tạo là khi kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, xác lập con đường cách mạng giải phóng dân tộc gắn với giải phóng xã hội. Trong đấu tranh giành chính quyền, Đảng kịp thời nắm bắt thời cơ, điều chỉnh sách lược, mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Trong kháng chiến, Đảng phát triển đường lối chiến tranh nhân dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, đổi mới tư duy kinh tế, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, từng bước hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mỗi bước tiến ấy đều cho thấy: Đảng không giữ vai trò lãnh đạo bằng sự bất biến của phương thức cũ, mà bằng năng lực tự nhận thức, tự điều chỉnh và tự vượt lên chính mình.

Tự đổi mới càng là quy luật nghiêm ngặt đối với một Đảng cầm quyền. Khi chưa cầm quyền, nguy cơ lớn của Đảng là sự đàn áp, phá hoại từ bên ngoài. Nhưng khi đã cầm quyền, nguy cơ không chỉ đến từ bên ngoài mà còn nảy sinh từ bên trong. Quyền lực nếu không được kiểm soát có thể dẫn tới đặc quyền, đặc lợi; lợi ích vật chất nếu không được điều chỉnh bằng đạo đức cách mạng có thể làm nảy sinh chủ nghĩa cá nhân, thực dụng; tổ chức nếu thiếu kỷ luật và giám sát có thể rơi vào quan liêu, xa dân; công tác cán bộ nếu không trong sạch có thể bị chi phối bởi thân hữu, phe cánh, lợi ích nhóm. Vì vậy, Đảng cầm quyền càng phải tự đổi mới nghiêm khắc hơn, tự chỉnh đốn thường xuyên hơn.

Tự đổi mới là quy luật phát triển của Đảng bởi: Một là, thực tiễn luôn vận động nên Đảng phải tự đổi mới tư duy để không tụt hậu trước yêu cầu phát triển. Hai là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền nên phải tự đổi mới để kiểm soát quyền lực, phòng ngừa tha hóa, giữ vững bản chất cách mạng. Ba là, niềm tin của nhân dân không phải là tài sản bất biến; niềm tin ấy phải được tái tạo hằng ngày bằng đạo đức, năng lực, hiệu quả lãnh đạo và khả năng tự sửa chữa khuyết điểm của Đảng.

Nói cách khác, tự đổi mới là cơ chế tự bảo vệ Đảng từ bên trong. Một đảng chỉ thật sự mạnh khi có khả năng tự phát hiện khuyết điểm và tự sửa chữa khuyết điểm. Một Đảng lãnh đạo, cầm quyền chỉ thật sự có bản lĩnh khi dám kiểm soát quyền lực của chính mình. Một Đảng cách mạng chỉ thật sự xứng đáng với nhân dân khi không ngừng tự thanh lọc để loại bỏ những gì làm tổn hại đến danh dự, uy tín của Đảng. Vì vậy, tự đổi mới không làm Đảng yếu đi; trái lại, đó là phương thức làm cho Đảng mạnh hơn, trong sạch hơn, trí tuệ hơn và có sức thuyết phục hơn.

2.2. Tự đổi mới để Đảng ta thật sự “là đạo đức”

“Đảng ta là đạo đức” trước hết phải được hiểu là Đảng mang trong mình mục tiêu đạo đức cao cả: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đạo đức ấy không phải là đạo đức trừu tượng, mà là đạo đức cách mạng. Đạo đức cách mạng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; phải chống chủ nghĩa cá nhân, tham ô, lãng phí, quan liêu. Đạo đức cách mạng là hệ giá trị cốt lõi trong xây dựng Đảng, trong đó “tận trung với nước, tận hiếu với dân” và đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết là nội dung trung tâm.

Tuy nhiên, trong điều kiện Đảng lãnh đạo, cầm quyền hiện nay, đạo đức của Đảng không chỉ được đo bằng lý tưởng hay lời tuyên bố. Đạo đức của Đảng được kiểm nghiệm trước hết qua cách sử dụng quyền lực. Quyền lực của Đảng và Nhà nước là quyền lực do nhân dân ủy thác. Vì vậy, quyền lực ấy chỉ có đạo đức khi được sử dụng để phục vụ nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, thúc đẩy phát triển đất nước, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội. Ngược lại, khi quyền lực bị cá nhân hóa, nhóm lợi ích hóa, khi người có chức vụ sử dụng quyền lực công để mưu cầu lợi ích riêng, thì đó là sự tha hóa đạo đức cầm quyền.

Vì vậy, tự đổi mới để Đảng thật sự “là đạo đức” trước hết là tự chỉnh đốn về đạo đức lãnh đạo, cầm quyền. Một đảng lãnh đạo, cầm quyền có thể ban hành nhiều chủ trương đúng, nhưng nếu đội ngũ cán bộ thực thi chủ trương ấy suy thoái, vụ lợi, quan liêu, vô cảm, thì chủ trương đúng cũng có thể bị làm méo mó. Nhân dân không chỉ đánh giá Đảng qua văn kiện, nghị quyết, mà còn qua thái độ của cán bộ tiếp dân, qua sự công tâm trong giải quyết công việc, qua hiệu quả chính sách, qua sự liêm chính của người đứng đầu. Một cán bộ tận tụy, liêm khiết làm sáng thêm hình ảnh của Đảng; một cán bộ tham nhũng, hách dịch, xa dân sẽ làm tổn thương niềm tin vào Đảng. Tự đổi mới về đạo đức đòi hỏi Đảng phải nhìn thẳng vào những biểu hiện suy thoái trong chính mình. Đó là suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng, dao động trước khó khăn; suy thoái về đạo đức, lối sống, chạy theo danh lợi, thực dụng; tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; chạy chức, chạy quyền; lợi ích nhóm; cục bộ địa phương; né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; quan liêu, xa dân, vô cảm trước bức xúc của nhân dân. Những biểu hiện ấy không chỉ là sai phạm cá nhân, mà còn làm suy yếu năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Nếu không được ngăn chặn, chúng có thể tạo ra sự đứt gãy giữa lời nói và hành động, giữa lý tưởng và thực tiễn, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân.

Tự đổi mới về đạo đức không chỉ dừng ở giáo dục, vận động, nhắc nhở. Giáo dục đạo đức là rất cần thiết, nhưng nếu không có cơ chế kiểm soát quyền lực thì đạo đức dễ bị hình thức hóa. Đối với Đảng lãnh đạo, cầm quyền, đạo đức phải được bảo đảm bằng thể chế, kỷ luật và cơ chế vận hành quyền lực. Nói cách khác, phải biến yêu cầu đạo đức thành chuẩn mực hành động, thành quy định trách nhiệm, thành cơ chế kiểm tra, giám sát, chế tài xử lý. Đạo đức cầm quyền phải gắn với kiểm soát quyền lực; nêu gương phải gắn với trách nhiệm giải trình; tự phê bình và phê bình phải gắn với sửa chữa khuyết điểm; giám sát của nhân dân phải gắn với cơ chế tiếp thu, phản hồi, xử lý.

Một đảng thật sự “là đạo đức” không phải là Đảng tự nhận mình không có khuyết điểm. Ngược lại, đạo đức của Đảng thể hiện ở dũng khí nhìn thẳng vào khuyết điểm, quyết tâm sửa chữa khuyết điểm và sự nghiêm minh trong xử lý sai phạm. Nếu Đảng né tránh khuyết điểm, bao che sai phạm, xem nhẹ kỷ luật, thì Đảng khó có thể giữ được tính chính đáng đạo đức. Ngược lại, khi Đảng kiên quyết xử lý cán bộ sai phạm, kể cả cán bộ cấp cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, thì đó chính là biểu hiện của năng lực tự thanh lọc, tự chỉnh đốn, tự bảo vệ danh dự của Đảng.

Đại hội XIV đặt yêu cầu xây dựng Đảng thật sự “là đạo đức, là văn minh” trong tình hình mới, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV yêu cầu “Nâng cao hơn nữa nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên về vai trò đặc biệt quan trọng, vấn đề cấp bách của công tác xây dựng Đảng về đạo đức. Nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện lý luận xây dựng Đảng về đạo đức, xây dựng Đảng thật sự “là đạo đức, là văn minh” trong tình hình mới” (ĐCSVN, 2026, tr. 392). Điều này cho thấy xây dựng Đảng về đạo đức không chỉ là nội dung tuyên truyền, giáo dục mà phải trở thành một hướng nghiên cứu, hoàn thiện lý luận và tổ chức thực tiễn xây dựng Đảng.

Tự đổi mới để Đảng “là đạo đức” còn phải gắn với việc dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Nhân dân là chủ thể kiểm nghiệm chân thực nhất phẩm chất của Đảng. Đảng đạo đức khi biết lắng nghe dân, tôn trọng dân, giải quyết những vấn đề thiết thân của dân, chịu sự giám sát của dân. Ngược lại, xa dân là nguy cơ làm suy yếu Đảng từ gốc. Một khi cán bộ không còn biết đau nỗi đau của dân, không còn biết lo cái lo của dân, thì đạo đức cách mạng bị xói mòn. Vì vậy, tự đổi mới về đạo đức phải trở về với nguyên tắc căn bản: mọi quyền lực thuộc về nhân dân, mọi hoạt động của Đảng phải vì lợi ích của nhân dân, mọi cán bộ, đảng viên phải là công bộc của dân chứ không phải “quan cách mạng”.

Tự đổi mới để Đảng ta thật sự “là đạo đức” là quá trình Đảng tự làm trong sạch mình từ bên trong; kiểm soát quyền lực; chống chủ nghĩa cá nhân; kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng văn hóa liêm chính; phát huy trách nhiệm nêu gương; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đạo đức của Đảng không chỉ nằm ở mục tiêu cao đẹp, mà phải được chứng minh bằng hành động liêm chính, kỷ luật nghiêm minh, cơ chế kiểm soát quyền lực và niềm tin của nhân dân.

2.3. Tự đổi mới để Đảng ta thật sự “là văn minh”

“Văn minh” của Đảng thể hiện trình độ trí tuệ, phương thức lãnh đạo và văn hóa cầm quyền của Đảng. Một đảng văn minh không chỉ có lý tưởng đúng, mà còn phải có năng lực lãnh đạo khoa học; không chỉ có quyền lãnh đạo, mà còn phải lãnh đạo bằng thuyết phục; không chỉ có truyền thống vẻ vang, mà còn phải có khả năng thích ứng với thời đại mới. Tự đổi mới để Đảng thật sự “là văn minh” là yêu cầu trực tiếp đối với năng lực tư duy, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và năng lực quản trị phát triển của Đảng.

Tự đổi mới để Đảng “văn minh” trước hết là đổi mới tư duy lãnh đạo. Văn minh chính trị không cho phép tư duy giáo điều, khép kín, chủ quan, duy ý chí. Một Đảng lãnh đạo xã hội hiện đại phải có năng lực nhận thức quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, dự báo xu thế, hoạch định đường lối đúng đắn. Trong bối cảnh hiện nay, thế giới thay đổi nhanh chóng bởi cách mạng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, biến đổi khí hậu, dịch chuyển chuỗi cung ứng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, yêu cầu phát triển xanh, phát triển bền vững. Nếu không tự đổi mới tư duy, Đảng sẽ khó có thể đưa ra những quyết sách đủ tầm để dẫn dắt đất nước phát triển.

Tự đổi mới tư duy không có nghĩa là chạy theo cái mới một cách thiếu nguyên tắc. Đảng phải kiên định nền tảng tư tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa, nhưng sự kiên định ấy phải gắn với sáng tạo. Một Đảng văn minh là Đảng biết phân biệt giữa nguyên tắc phải giữ vững và phương thức cần đổi mới; giữa mục tiêu chiến lược và bước đi cụ thể; giữa giá trị cốt lõi và mô hình thực hiện. Đó là năng lực tư duy biện chứng, khoa học. Nếu nhân danh kiên định để bảo thủ thì Đảng có thể tụt hậu; nếu nhân danh đổi mới để buông lỏng nguyên tắc thì Đảng có thể chệch hướng. Vì vậy, văn minh của Đảng trước hết là văn minh trong tư duy: kiên định nhưng không giáo điều, đổi mới nhưng không mất phương hướng.

Tự đổi mới để Đảng văn minh là đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng không làm thay Nhà nước; không bao biện, không áp đặt chủ quan, không hành chính hóa vai trò lãnh đạo. Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương; bằng công tác tư tưởng; bằng công tác cán bộ; bằng kiểm tra, giám sát; bằng nêu gương; bằng phát huy vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân. Một đảng văn minh không lãnh đạo bằng mệnh lệnh hành chính đơn thuần, càng không lãnh đạo bằng áp đặt ý chí chủ quan. Sức mạnh lãnh đạo của Đảng phải được thể hiện ở chất lượng đường lối, ở khả năng tổ chức thực hiện, ở năng lực thuyết phục, quy tụ, tạo đồng thuận xã hội, ở hiệu quả phát triển đất nước và nâng cao đời sống nhân dân. Nói cách khác, vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ được khẳng định bằng vị trí chính trị - pháp lý, mà còn phải được củng cố bằng năng lực thực tiễn. Đó chính là văn minh cầm quyền.

Tự đổi mới để Đảng văn minh là xây dựng văn hóa chính trị và văn hóa nêu gương. Văn minh không chỉ nằm ở thể chế, đường lối, mà còn nằm ở phong cách lãnh đạo, cách ứng xử với nhân dân, cách sử dụng quyền lực, cách tiếp nhận phản biện, cách xử lý khuyết điểm. Một đảng văn minh phải biết tôn trọng sự thật, lắng nghe ý kiến khác biệt có tính xây dựng, khuyến khích phản biện khoa học, chống bệnh hình thức, bệnh thành tích, lối nói không đi đôi với làm. Văn hóa nêu gương của cán bộ, nhất là người đứng đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Người đứng đầu không gương mẫu thì nghị quyết đúng cũng khó đi vào cuộc sống; người đứng đầu thiếu liêm chính thì kỷ luật khó nghiêm; người đứng đầu quan liêu thì tổ chức dễ xa dân.

Tự đổi mới để Đảng văn minh là nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong điều kiện mới. Văn minh cầm quyền hiện nay không thể tách rời yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chuyển đổi số, cải cách hành chính, quản trị bằng dữ liệu, minh bạch hóa quá trình ra quyết định, trọng dụng nhân tài, phát huy đổi mới sáng tạo. Đại hội XIV thể hiện đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, tầm nhìn chiến lược, khát vọng đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Trong bối cảnh đó, Đảng văn minh phải là Đảng có đủ trí tuệ để kiến tạo phát triển, đủ bản lĩnh để tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, đủ năng lực để huy động nguồn lực xã hội và đủ văn hóa để đặt con người, nhân dân vào trung tâm của phát triển.

Tự đổi mới để Đảng văn minh là làm sâu sắc hơn quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Văn minh của Đảng không chỉ thể hiện ở tầm nhìn chiến lược hay năng lực quản trị, mà còn thể hiện ở cách Đảng đối xử với nhân dân. Đảng văn minh là Đảng biết lắng nghe dân, đối thoại với dân, tôn trọng quyền làm chủ của dân, chịu sự giám sát của dân và sửa mình trước những yêu cầu chính đáng của dân. Niềm tin của nhân dân không thể được duy trì chỉ bằng tuyên truyền một chiều; niềm tin ấy phải được củng cố bằng kết quả cụ thể: chính sách đúng, đời sống được cải thiện, công lý được bảo vệ, cán bộ liêm chính, thủ tục thuận lợi, chính quyền gần dân, thực hiện trách nhiệm được giải trình rõ ràng.

Tự đổi mới để Đảng “là văn minh” vì thế có nội hàm rộng nhưng không mơ hồ. Đó là đổi mới tư duy lãnh đạo để không tụt hậu; đổi mới phương thức cầm quyền để không quan liêu, bao biện; xây dựng văn hóa chính trị để không áp đặt, hình thức; nâng cao năng lực quản trị để đáp ứng yêu cầu phát triển; thắt chặt quan hệ với nhân dân để vai trò lãnh đạo của Đảng được củng cố bằng niềm tin xã hội. Một đảng văn minh không chỉ biết lãnh đạo để giành thắng lợi trong quá khứ, mà còn phải biết lãnh đạo để kiến tạo tương lai.

Cần thấy rõ mối quan hệ giữa “đạo đức” và “văn minh”. Đạo đức mà thiếu văn minh có thể rơi vào nhiệt tình nhưng thiếu phương pháp, có lý tưởng nhưng thiếu năng lực quản trị. Văn minh mà thiếu đạo đức có thể biến thành kỹ trị lạnh lùng, xa dân. Vì vậy, Đảng phải đồng thời là đạo đức và văn minh: đạo đức để bảo đảm mục tiêu vì nhân dân, văn minh để bảo đảm phương thức lãnh đạo khoa học, hiệu quả, tiến bộ. Tự đổi mới chính là con đường để thống nhất hai yêu cầu ấy trong xây dựng Đảng cầm quyền hiện nay.

3. Kết luận

Tự đổi mới là quy luật phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quy luật ấy bắt nguồn từ bản chất cách mạng của Đảng, từ yêu cầu vận động của thực tiễn, từ vị trí của Đảng cầm quyền và từ đòi hỏi giữ vững niềm tin của nhân dân. Đảng ta đã đặt vấn đề tự đổi mới từ sớm, đặc biệt trong Cương lĩnh năm 2011 với yêu cầu “thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn”. Qua các kỳ Đại hội, nhất là Đại hội XIII và Đại hội XIV, yêu cầu ấy ngày càng được phát triển toàn diện hơn, sâu sắc hơn, gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Điểm nổi bật trong tinh thần Đại hội XIV là đặt tự đổi mới trực tiếp trong mục tiêu làm cho Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”. Điều này phản ánh bước phát triển tư duy xây dựng Đảng lãnh đạo, cầm quyền trong bối cảnh mới. Đảng không chỉ phải đúng về đường lối, mạnh về tổ chức, nghiêm về kỷ luật, mà còn phải trong sạch về đạo đức, văn minh trong phương thức lãnh đạo, hiện đại trong năng lực quản trị, gần dân trong hành động và có khả năng tự thanh lọc từ bên trong.

Tự đổi mới để Đảng “là đạo đức” là làm cho Đảng liêm chính, trong sạch hơn, biết kiểm soát quyền lực, chống chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, tiêu cực, quan liêu, xa dân. Tự đổi mới để Đảng “là văn minh” là làm cho Đảng trí tuệ, dân chủ, khoa học, pháp quyền, hiện đại hơn trong phương thức lãnh đạo và cầm quyền. Hai yêu cầu này thống nhất hữu cơ: không thể có văn minh cầm quyền nếu thiếu đạo đức cầm quyền; cũng không thể bảo vệ đạo đức của Đảng nếu phương thức lãnh đạo lạc hậu, thiếu kiểm soát, thiếu dân chủ và xa rời nhân dân.

Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới không chỉ là bảo vệ bằng lý luận, mà còn bằng chính thực tiễn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện của Đảng. Một đảng dám nhìn thẳng vào sự thật, dám sửa chữa khuyết điểm, dám kiểm soát quyền lực, dám lắng nghe nhân dân, dám đổi mới để phát triển, đó là Đảng thật sự có đạo đức, có văn minh, có năng lực lãnh đạo, cầm quyền và có sức thuyết phục bền vững trước nhân dân, trước lịch sử và trước tương lai dân tộc.

_________________

Ngày nhận bài: 5/8/2026; Ngày bình duyệt: 11/9/2026; Ngày quyết định đăng: 17/9/2026.

Email tác giả: phamxuanthanhxddhcma@gmail.com

Tài liệu tham khảo

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

ĐCSVN (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Tự đổi mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng để Đảng ta thật sự là “đạo đức, là văn minh”