DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.1840
Tóm tắt: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đấu tranh phản bác thông tin sai trái, xuyên tạc, mà trong điều kiện Đảng cầm quyền, sự vững chắc của nền tảng tư tưởng còn phụ thuộc rất lớn vào niềm tin xã hội, được hình thành trực tiếp từ kết quả thực thi đường lối, chính sách và từ trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, bài viết đề xuất giải pháp nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.
ThS NGUYỄN THỊ KIM THANH
Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, thành phố Hà Nội

1. Mở đầu
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, có ý nghĩa sống còn đối với sự vững mạnh của Đảng, sự ổn định của chế độ và định hướng phát triển của đất nước. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định yêu cầu kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới; đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đảng khẳng định, đây không phải là nhiệm vụ mang tính thời điểm, mà là một yêu cầu chiến lược gắn với toàn bộ quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh hiện nay, nếu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ được xác định là một hoạt động đấu tranh, phản bác trên bình diện ngôn luận thì vẫn chưa chạm tới chiều sâu của vấn đề. Sức bền của nền tảng tư tưởng không chỉ là hệ thống lý luận đúng đắn, mà còn là niềm tin xã hội đối với sự đúng đắn ấy. Và niềm tin đó không tồn tại một cách trừu tượng, nó được nuôi dưỡng mỗi ngày từ chất lượng lãnh đạo, quản lý, phục vụ nhân dân và từ sự nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Do đó, bài viết tiếp cận công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ việc củng cố niềm tin xã hội, bằng chất lượng thực thi chính sách và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đây là một hướng tiếp cận thực tiễn, bởi trong điều kiện truyền thông số, người dân không chỉ nghe Đảng qua văn kiện, nghị quyết, mà còn qua quan sát, qua trải nghiệm giải quyết công việc của cơ quan nhà nước, qua tốc độ và thái độ giải quyết công việc của công chức, qua hiệu quả cải cách hành chính, qua mức độ công bằng, minh bạch và qua tấm gương cụ thể của những người thực thi công vụ. Nếu lời nói chính trị không đi cùng hiệu quả thực tiễn, thì sức thuyết phục của công tác tư tưởng sẽ bị suy giảm. Ngược lại, nếu chính sách đi vào cuộc sống, bộ máy phục vụ tốt hơn, cán bộ nêu gương tốt hơn, thì đó chính là cách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ gốc, từ bên trong và bằng sức mạnh thuyết phục của hiện thực.
2. Nội dung
2.1. Cơ sở lý luận của cách tiếp cận: nền tảng tư tưởng của Đảng phải được bảo vệ bằng cả lý luận và thực tiễn
Về bản chất, nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, được thể hiện cụ thể trong Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết và trong toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nhưng nền tảng ấy không chỉ tồn tại trong các văn kiện chính trị, nó còn tồn tại trong niềm tin của nhân dân vào mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vào bản chất tốt đẹp của chế độ, vào vai trò lãnh đạo của Đảng và vào năng lực tổ chức thực hiện của bộ máy dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bởi vậy, khi nói bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cần hiểu đó không chỉ là bảo vệ một hệ thống quan điểm lý luận, mà còn là bảo vệ các điều kiện xã hội để hệ thống quan điểm ấy được nhân dân tin, hiểu, đồng thuận và tự giác ủng hộ.
Đảng ta đặt nhân dân ở vị trí trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đảng luôn yêu cầu thắt chặt mối quan hệ mật thiết Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, Đảng đã xác định rất rõ rằng niềm tin của nhân dân không phải là yếu tố nằm bên ngoài công tác xây dựng Đảng, càng không nằm ngoài công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, mà chính là một trong những thước đo cốt lõi của hiệu quả lãnh đạo.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã cung cấp một cơ sở phương pháp luận rất sâu sắc cho cách tiếp cận này. Người chỉ rõ, muốn được dân yêu, muốn được lòng dân thì việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh; phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có tinh thần chí công vô tư. Cách diễn đạt ấy tuy giản dị nhưng chứa đựng một chân lý chính trị rất lớn: niềm tin không thể được tạo ra bằng khẩu hiệu đơn thuần, mà phải được gây dựng bằng hành động, bằng kết quả và bằng đạo đức của những người đại diện cho bộ máy. Khi đặt tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay, có thể thấy bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng muốn có hiệu quả bền vững thì phải gắn với chăm lo lợi ích thiết thực của nhân dân, với hiệu quả thực hiện chính sách và với sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên.
Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định rõ nhiệm vụ làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội. Cách đặt mục tiêu này cho thấy bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là giữ gìn, bảo vệ một nền tảng đã có, mà còn là làm cho nền tảng đó thấm sâu vào đời sống xã hội. Muốn vậy, cần tạo ra một đời sống chính trị và hành chính công đủ trong sạch, hiệu quả và gần dân để cái đúng trở nên có sức thuyết phục tự thân. Qua quá trình triển khai Nghị quyết 35, các tổng kết của Ban Chỉ đạo 35 Trung ương cho thấy, công tác này đã được triển khai ngày càng bài bản, đồng bộ, đi vào chiều sâu và tạo nên “thế trận lòng dân” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chính khái niệm “thế trận lòng dân” đã gợi mở rất rõ mối quan hệ giữa công tác tư tưởng với niềm tin xã hội.
Triển khai Kết luận số 89-KL/TW ngày 25/7/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; gắn chặt công tác tư tưởng với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng ngành, từng lĩnh vực. Điều đó cho thấy một chuyển động tư duy: công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang được đặt ngày càng rõ hơn trong mối liên hệ trực tiếp với hiệu quả quản trị nhà nước và chất lượng công vụ. Đây chính là nền tảng lý luận và thực tiễn để tiếp cận chủ đề theo hướng “củng cố niềm tin xã hội bằng chất lượng thực thi chính sách và trách nhiệm nêu gương”.
2.2. Chất lượng thực thi chính sách là “luận cứ sống” của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, điều làm nên sức thuyết phục lâu dài của Đảng không chỉ là năng lực hoạch định đường lối, mà còn là năng lực hiện thực hóa đường lối thành kết quả cụ thể trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Vai trò và uy tín của Đảng, của Nhà nước được thể hiện rõ qua thành tựu phát triển và vị thế đất nước. Thực tiễn phát triển và vị thế của đất nước, vì vậy, không chỉ là kết quả kinh tế - xã hội, mà còn là một thành tố trực tiếp của sức mạnh tư tưởng và sức mạnh chính trị. Nó bác bỏ bằng thực tiễn các luận điệu phủ nhận con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Ở chiều sâu đời sống xã hội, điều người dân cảm nhận trực tiếp nhất lại không phải các con số lớn, mà là chất lượng thực thi chính sách ở nơi gần dân nhất. Kết quả SIPAS 2024 được Bộ Nội vụ công bố vào tháng 4/2025 cho thấy mức độ hài lòng trung bình của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt 83,94%, tăng 1,28% so với năm 2023. Mức độ hài lòng của người dân đối với việc xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách nói chung đạt 83,84%, tăng 1,35%; các nội dung về tiếp cận dịch vụ, thủ tục hành chính, thái độ công chức, kết quả cung ứng dịch vụ và xử lý phản ánh, kiến nghị đều ở mức trên 83%. Mức độ hài lòng chung của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025 đạt 83,09%, giảm 0,78% so với năm 2024 (cao hơn năm 2023 là 0,43%). Đây là những số liệu có giá trị chính trị thể hiện rõ khi bộ máy chính quyền cải thiện chất lượng phục vụ, thì niềm tin của người dân đối với Nhà nước, với chế độ được củng cố.
Cùng với SIPAS, kết quả PAR Index 2024 được Bộ Nội vụ công bố cho thấy chỉ số cải cách hành chính của các tỉnh, thành phố tiếp tục duy trì và tăng lên, phản ánh một chuyển động không chỉ ở kỹ thuật quản trị mà còn ở phương diện xây dựng một nền hành chính gần dân, minh bạch và hiệu quả hơn.
Khi người dân, doanh nghiệp cảm nhận được thủ tục bớt rườm rà, tiếp cận dịch vụ công thuận lợi hơn, cơ quan nhà nước phản hồi nhanh hơn, thì niềm tin được củng cố một cách tự nhiên.
Từ góc độ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, điều này có ý nghĩa rất lớn: nó làm cho những giá trị về Nhà nước của dân, do dân, vì dân và về mục tiêu phục vụ nhân dân không chỉ còn là nội dung tuyên truyền, mà trở thành trải nghiệm có thể kiểm chứng.
Những đổi mới trong chỉ đạo, điều hành của Chính phủ cho thấy sự chuyển đổi tư duy quản trị. Chính phủ đã yêu cầu chuyển từ quản lý hành chính sang phục vụ nhân dân và kiến tạo phát triển; chuyển từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và kết quả phục vụ. Đây không chỉ là thông điệp cải cách hành chính. Ở bình diện chính trị, nó thể hiện rất rõ nỗ lực hiện thực hóa quan điểm lấy người dân làm trung tâm, làm chủ thể, lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo chất lượng bộ máy. Khi những định hướng ấy được thực hiện nghiêm túc, chúng tạo ra một “ngôn ngữ hành động” rất mạnh trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: thay vì chỉ khẳng định bộ máy là của dân, do dân, vì dân, bộ máy phải chứng minh điều đó bằng kết quả công vụ cụ thể.
Như vậy, chất lượng thực thi chính sách chính là “luận cứ sống” của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Một bài viết phản bác có thể rất sắc bén, nhưng khó thuyết phục bằng một chính sách được triển khai hiệu quả, một nền hành chính được cải cách thực chất, một cơ quan nhà nước đối thoại có trách nhiệm với người dân, hay một địa phương xử lý kịp thời những vướng mắc của dân và doanh nghiệp. Chính những điều đó làm cho nhân dân cảm nhận được bản chất phục vụ của bộ máy dưới sự lãnh đạo của Đảng. Và khi niềm tin được bồi đắp bằng những trải nghiệm như thế, các luận điệu xuyên tạc sẽ khó có đất sống, bởi người dân có “bằng chứng đời thực” để so sánh và tự đánh giá.
2.3. Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên: phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ bên trong
Chất lượng thực thi chính sách là biểu hiện tập thể của năng lực lãnh đạo và quản trị, thì trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên là biểu hiện cá nhân, trực tiếp và gần gũi nhất của uy tín chính trị. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn xây dựng Đảng, nêu gương luôn là một phương thức giáo dục, thuyết phục có hiệu lực đặc biệt. Tinh thần của Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, nói đi đôi với làm; đồng thời nhắc lại luận điểm rất quen thuộc nhưng luôn giữ nguyên giá trị: “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, luận điểm này mang ý nghĩa đặc biệt sâu sắc.
Quy định số 144-QĐ/TW đã hệ thống hóa các yêu cầu đạo đức và chính trị đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh mới. Việc ban hành Quy định 144 cho thấy Đảng nhìn rất rõ rằng, sức mạnh chính trị của tổ chức không chỉ nằm ở nghị quyết, mà còn ở phẩm chất, danh dự, liêm chính, tinh thần phục vụ và thái độ công tác của từng cán bộ, đảng viên. Một đội ngũ cán bộ nêu gương tốt sẽ tạo ra sức lan tỏa tích cực, làm tăng niềm tin của nhân dân và qua đó góp phần trực tiếp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Ngược lại, chỉ một số biểu hiện thiếu nêu gương, vô cảm, hách dịch, né tránh trách nhiệm, hoặc nói không đi đôi với làm cũng có thể gây tác động tiêu cực, làm suy giảm uy tín của hệ thống trong nhân dân.
Các bài nghiên cứu chính luận gần đây cũng nhấn mạnh rằng, bảo vệ nền tảng tư tưởng trước hết phải từ nội bộ Đảng, thông qua những tấm gương sáng, người thật, việc thật trong hàng ngũ của Đảng để tạo sức thuyết phục và lan tỏa mạnh mẽ đến nhân dân. Cách đặt vấn đề này rất quan trọng. Nó nhắc rằng, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng không chỉ diễn ra ở bên ngoài, trước sự chống phá của các lực lượng thù địch, mà còn diễn ra ở bên trong, trong khả năng giữ mình, trong tự soi, tự sửa, trong văn hóa nêu gương và trong chất lượng tự rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nói cách khác, muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng một cách bền vững thì phải bắt đầu bằng việc giữ cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh từ bên trong.
Trong bối cảnh hiện nay, nêu gương còn có thêm một góc nhìn mới là nêu gương trên không gian số và trong văn hóa ứng xử công vụ. Mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ là người thực thi công vụ trong phạm vi cơ quan, mà còn là chủ thể truyền thông xã hội. Một phát ngôn thiếu chuẩn mực, một chia sẻ chưa kiểm chứng, một thái độ cực đoan trên mạng xã hội có thể gây tổn hại nhanh và rộng hơn rất nhiều so với trước đây. Ngược lại, một phong cách giao tiếp chuẩn mực, một ứng xử có văn hóa, một thái độ cầu thị trước phản ánh của dân, một tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, có khả năng lan tỏa niềm tin rất mạnh. Vì vậy, nêu gương phải được hiểu toàn diện hơn: nêu gương trong đạo đức, trong hành động, trong ứng xử, trong phát ngôn và trong trách nhiệm công vụ hằng ngày.
2.4. Những biểu hiện làm suy giảm sức thuyết phục của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Một biểu hiện đáng chú ý hiện nay là ở một số nơi, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vẫn còn được hiểu theo nghĩa hẹp, thiên về tuyên truyền, phổ biến và phản bác trực diện, trong khi chưa gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết công việc cho dân, tăng tính minh bạch của bộ máy và chấn chỉnh đạo đức công vụ. Khi đó, thông điệp chính trị dễ rơi vào trạng thái đúng về quan điểm nhưng xa rời thực tiễn, đúng về nội dung nhưng chưa gần với trải nghiệm của người dân. Trong môi trường xã hội hiện đại, khoảng cách giữa lời nói và việc làm nếu kéo dài sẽ làm suy giảm sức thuyết phục của cả hệ thống, tạo điều kiện để các thông tin xuyên tạc hoặc hoài nghi lan rộng.
Biểu hiện thứ hai là tình trạng vẫn coi đây chủ yếu là việc của cơ quan tuyên giáo, báo chí, lực lượng đấu tranh trên không gian mạng hoặc một số bộ phận chuyên trách. Cách nhìn này làm thu hẹp chủ thể của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng. Trên thực tế, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, mỗi cơ quan và mỗi cán bộ đều góp phần vào công việc này bằng kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị hằng ngày. Một cơ quan giải quyết thủ tục hành chính tốt, một đơn vị tư pháp làm đúng pháp luật, một địa phương minh bạch trong quản lý, một cán bộ cơ sở gần dân, hết lòng với dân, đều là lực lượng trực tiếp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng việc làm. Nếu chưa nhận thức đủ điều này, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng rất dễ “hành chính hóa” trong phạm vi hẹp, trong khi đây là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị.
Biểu hiện thứ ba là, có nơi vẫn nặng về xử lý phần ngọn của thông tin xấu, độc mà chưa thật sự đầu tư đúng mức cho “phần gốc” là chất lượng phục vụ, công bằng, minh bạch và khả năng phản hồi chính sách. Khi chính sách chậm được giải thích, khi phản ánh của nhân dân chậm được giải quyết, khi thủ tục còn gây phiền hà, khi công chức thái độ thiếu chuẩn mực, thì các thông tin sai lệch rất dễ tìm thấy “đất” để bám vào. Trong trường hợp ấy, việc phản bác trên mặt lý luận vẫn cần, nhưng sẽ khó đạt hiệu quả tối đa nếu không đi liền với sửa chữa các bất cập thực tế. Bởi lẽ, người dân thường đánh giá sự chân thực của thông điệp chính trị qua đối chiếu với vấn đề thật, chứ không chỉ qua cách nói về vấn đề.
Biểu hiện thứ tư là, truyền thông chính sách ở một số nơi còn chậm, khô khan, ít tính tương tác, chưa thật sự lấy người dân làm trung tâm. Trong khi truyền thông chính sách đang được nâng lên tầm chiến lược, gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thì trên thực tế vẫn còn có nơi coi truyền thông là khâu phụ, làm sau, hoặc làm theo lối hành chính. Khi chính sách không được truyền thông tốt, khoảng trống nhận thức sẽ rất dễ bị lấp đầy bằng suy diễn, tin đồn hoặc thông tin thiếu kiểm chứng. Điều này tác động trực tiếp đến niềm tin xã hội.
Từ góc độ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, truyền thông chính sách không phải việc phụ, mà là một bộ phận của năng lực cầm quyền và năng lực thuyết phục xã hội.
2.5. Củng cố niềm tin xã hội là một phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ gốc
Niềm tin xã hội không phải là trạng thái cảm xúc nhất thời. Đó là kết quả của sự tương tác lâu dài giữa đường lối đúng đắn, thể chế phù hợp, bộ máy hiệu quả và đội ngũ cán bộ có uy tín. Khi người dân tin rằng hệ thống có năng lực giải quyết vấn đề, có thiện chí phục vụ, có khả năng tự chỉnh đốn, có trách nhiệm lắng nghe và sửa sai, thì niềm tin ấy sẽ trở thành “lá chắn mềm” nhưng rất bền vững trước các quan điểm sai trái, thù địch. Các luận điệu xuyên tạc có thể gây chú ý trong ngắn hạn, nhưng khó tạo ảnh hưởng lâu dài nếu người dân có trải nghiệm thực tế tích cực với bộ máy dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Bởi vậy, củng cố niềm tin xã hội cần được nhìn như một phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng từ gốc. Nó không thay thế cho đấu tranh tư tưởng theo nghĩa truyền thống, nhưng làm cho cuộc đấu tranh ấy có nền tảng vững chắc hơn. Khi công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng đạo đức công vụ, nâng cao chất lượng thể chế và trách nhiệm nêu gương, thì nó không còn chỉ là cuộc chiến trên bình diện nhận thức, mà trở thành một quá trình đồng bộ vừa “xây” vừa “giữ”. Đó cũng là cách kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, giữa xây dựng Đảng với quản trị quốc gia, giữa công tác tư tưởng với công tác cán bộ và công tác vận động quần chúng.
Ở một nghĩa khác, đây còn là cách tiếp cận phù hợp với thời đại truyền thông số. Trong bối cảnh người dân tiếp xúc với vô số luồng thông tin khác nhau, sức thuyết phục của hệ thống không thể chỉ dựa trên khẳng định một chiều. Xã hội hiện đại đòi hỏi bằng chứng, trải nghiệm và khả năng đối thoại. Do đó, để củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, phải làm cho người dân cảm nhận được sự cải thiện thực chất trong đời sống quản trị, chính sách gần dân hơn, cán bộ có trách nhiệm hơn, bộ máy minh bạch hơn, phản hồi nhanh hơn. Những điều ấy vừa là mục tiêu của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vừa là “nguồn lực niềm tin” cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
2.6. Một số giải pháp chủ yếu
Trước hết, cần tiếp tục đổi mới nhận thức về công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo hướng toàn diện hơn. Cần quán triệt sâu sắc rằng, đây không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan làm công tác tư tưởng, báo chí, tuyên giáo hay lực lượng chuyên trách, mà là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị. Mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi cơ quan, mỗi lĩnh vực đều tham gia trực tiếp vào công tác này thông qua chất lượng thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình. Khi nhận thức được mở rộng như vậy, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mới tránh được tình trạng hình thức hoặc khoanh vùng quá hẹp.
Thứ hai, phải coi nâng cao chất lượng thực thi chính sách là giải pháp trực tiếp để củng cố niềm tin xã hội. Điều này đòi hỏi tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện kỷ luật công vụ, rút ngắn quy trình giải quyết công việc, tăng tính công khai, minh bạch và nâng cao chất lượng phản hồi đối với người dân, doanh nghiệp. Các kết quả SIPAS và PAR Index gần đây cho thấy cải cách hành chính có thể cải thiện rõ rệt mức độ hài lòng của người dân. Vấn đề là phải biến các chỉ số ấy thành thay đổi đồng đều, bền vững ở từng cơ quan, từng địa phương, đặc biệt ở cấp cơ sở, nơi người dân tiếp xúc trực tiếp nhiều nhất với bộ máy. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, theo nghĩa này, phải được hiện thực hóa qua từng trải nghiệm tích cực của người dân với Nhà nước.
Thứ ba, cần đặt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên vào vị trí trung tâm của công tác này. Quy định 144-QĐ/TW cần được quán triệt và cụ thể hóa mạnh mẽ hơn trong từng tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; không dừng ở học tập văn bản mà phải chuyển thành chuẩn mực hành vi, chuẩn mực phát ngôn, chuẩn mực ứng xử và chuẩn mực công vụ. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải nhận thức rằng uy tín cá nhân không chỉ là vấn đề đạo đức riêng, mà còn gắn với uy tín của tổ chức đảng và với hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Một người đứng đầu thật sự gương mẫu, công tâm, liêm chính, dám chịu trách nhiệm sẽ tạo ra sức thuyết phục lớn hơn rất nhiều so với những thông điệp tuyên truyền đơn thuần.
Thứ tư, cần đổi mới mạnh mẽ truyền thông chính sách theo hướng chủ động, dễ hiểu, ngắn gọn, chính xác, có tính đối thoại và phù hợp với hành vi tiếp nhận thông tin hiện đại. Chính sách nếu chỉ ban hành mà không được truyền thông tốt thì dễ bị hiểu sai, thậm chí bị xuyên tạc. Với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, truyền thông chính sách cần được xem là một trong những công cụ chủ lực để rút ngắn khoảng cách giữa chủ trương và người dân, giữa văn kiện và cuộc sống. Thông tin chính thống cần nhanh hơn, sáng rõ hơn, gần gũi hơn và có khả năng trả lời được những băn khoăn thực tế của xã hội.
Thứ năm, cần gắn chặt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không chỉ là vấn đề nội bộ tổ chức, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin của nhân dân. Mỗi vụ việc tiêu cực, mỗi biểu hiện suy thoái, nếu không được xử lý kịp thời, nghiêm minh, sẽ trở thành điểm tổn thương cho uy tín của Đảng. Do đó, chỉnh đốn Đảng, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương và xây dựng văn hóa liêm chính phải được xem là những biện pháp nền tảng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Không thể có công tác tư tưởng mạnh nếu nội bộ không đủ trong sạch, nghiêm minh và tự sửa chữa.
Thứ sáu, cần phát huy tốt hơn vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội, báo chí cách mạng và nhân dân trong việc phát hiện những điểm nghẽn thực thi, những biểu hiện lệch chuẩn của cán bộ, công chức và những bất cập của chính sách. Một hệ thống biết lắng nghe, biết tiếp nhận phản biện, biết sửa sai sẽ có sức thuyết phục lớn hơn nhiều so với một hệ thống chỉ chú trọng phản bác bên ngoài mà chậm tự điều chỉnh bên trong. Ở đây, báo chí cách mạng và các kênh phản hồi xã hội không chỉ là phương tiện thông tin, mà còn là cơ chế củng cố niềm tin, vì chúng giúp nhân dân thấy rằng hệ thống chính trị không né tránh vấn đề, không sợ đối thoại, và có năng lực tự hoàn thiện.
Thứ bảy, cần đặc biệt chú trọng bồi dưỡng văn hóa công vụ, văn hóa số và trách nhiệm phát ngôn của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong thời đại hiện nay, chỉ một hành vi thiếu chuẩn mực hoặc một phát ngôn sai lệch cũng có thể tác động tiêu cực rất nhanh tới dư luận. Vì vậy, cùng với đào tạo chuyên môn, cần huấn luyện kỹ về thái độ phục vụ, kỹ năng ứng xử với dân, kỹ năng truyền thông công vụ, kỹ năng sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm. Nêu gương không còn chỉ diễn ra trong phòng họp hay ở nơi làm việc truyền thống, mà còn hiện diện trên không gian số, trong từng bình luận, từng trả lời, từng cách ứng xử công khai. Làm tốt điều này cũng chính là tạo một “vòng bảo vệ mềm” nhưng rất hiệu quả cho uy tín của Đảng và hệ thống chính trị.
Thứ tám, cần tiếp tục cụ thể hóa quan điểm “lấy người dân làm trung tâm” trong mọi chính sách, thủ tục và hoạt động của bộ máy. Khi người dân thật sự được tôn trọng, được phục vụ, được giải quyết quyền lợi chính đáng một cách nhanh chóng và minh bạch, họ sẽ cảm nhận rõ hơn ý nghĩa của chế độ, của đường lối và của vai trò lãnh đạo của Đảng. Chăm lo lợi ích, hạnh phúc của nhân dân không chỉ là mục tiêu phát triển, mà còn là nền tảng để xây dựng sự đồng thuận, gắn bó và niềm tin xã hội.
3. Kết luận
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một nhiệm vụ chiến lược, lâu dài và ngày càng đặt ra những yêu cầu mới trong bối cảnh đất nước phát triển, xã hội thay đổi nhanh và truyền thông số tác động sâu rộng đến đời sống chính trị tinh thần. Nền tảng tư tưởng của Đảng chỉ thật sự bền vững khi được nâng đỡ bởi niềm tin của nhân dân, mà niềm tin ấy lại được gây dựng, bồi đắp mỗi ngày từ chất lượng thực thi chính sách, từ hiệu quả phục vụ nhân dân của bộ máy và từ sự nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Chính vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ việc củng cố niềm tin xã hội bằng chất lượng thực thi chính sách và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên là đòi hỏi thực tiễn hiện nay. Đây là vấn đề cốt lõi của sức mạnh cầm quyền trong điều kiện Đảng lãnh đạo toàn diện. Sức mạnh ấy chỉ bền khi lời nói đi đôi với việc làm, khi văn kiện đi vào cuộc sống, khi cán bộ xứng đáng với niềm tin của nhân dân, khi bộ máy chứng minh được tính liêm chính và hiệu quả bằng những kết quả cụ thể. Nói cách khác, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn này phải được thực hiện bằng cả lý luận đúng đắn lẫn thực tiễn thuyết phục.
Khi bộ máy thật sự chuyển từ hành chính quản lý sang phục vụ nhân dân, khi cải cách hành chính tạo thuận lợi thực chất cho người dân và doanh nghiệp; cán bộ, đảng viên coi nêu gương là danh dự chính trị; phản ánh của nhân dân được lắng nghe và xử lý có trách nhiệm, sai phạm được chấn chỉnh nghiêm minh, thì nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ được bảo vệ bằng chính niềm tin xã hội được bồi đắp hằng ngày. Đó là cách bảo vệ từ gốc, từ sớm, từ bên trong và có sức bền lâu dài nhất.
_________________
Ngày nhận bài: 17/4/2026; Ngày bình duyệt: 29/8/2026; Ngày quyết định đăng: 12/10/2026.
Email tác giả: kimthanh241970@gmail.com
Tài liệu tham khảo:
Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
Bộ Chính trị (2024). Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới.
Bộ Chính trị (2024). Kết luận số 89-KL/TW ngày 25/7/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/8/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.
Bộ Nội vụ (2025). Báo cáo SIPAS 2024 và Báo cáo PAR Index 2024.
ĐCSVN (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Nxb Chính trị quốc gia.