Thực tiễn

Nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng bộ cấp xã ở thành phố Quảng Ninh sau 01 năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp

• 19/10/2026 15:51

Tóm tắt: Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng bộ cấp xã có vai trò quan trọng. Bài viết đánh giá những kết quả đạt được và hạn chế trong năng lực lãnh đạo của đảng bộ xã, phường, đặc khu ở thành phố Quảng Ninh sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng bộ cấp xã ở thành phố Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

PGS, TS LÂM QUỐC TUẤN
ThS PHẠM XUÂN THÀNH
Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

cdn-images.vtv.vn-thumb_w-1200-66349b6076cb4dee98746cf1-2025-08-06-_z6878577467529-55dff2d3a24b6ecf6abf15ef3444e62e-28525804864944219826176.webp
Đảng bộ xã Quảng La, Quảng Ninh tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030_Ảnh: IT

1. Mở đầu

Việc tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ làm thay đổi quy mô địa giới, cơ cấu tổ chức hành chính mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản nội dung, phương thức và năng lực lãnh đạo của Đảng bộ cấp xã. Năng lực lãnh đạo của đảng bộ cấp xã giữ vai trò quyết định trong việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh thành nhiệm vụ sát với từng địa bàn, đồng thời bảo đảm hệ thống chính trị cơ sở vận hành thống nhất, hiệu lực và gần dân. Năng lực đó trực tiếp chi phối chất lượng quản trị địa phương, khả năng giải quyết những vấn đề phát sinh và việc huy động sức mạnh của nhân dân để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

Từ ngày 01/9/2026, Quảng Ninh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Sự thay đổi về vị thế hành chính đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực lãnh đạo của Đảng bộ thành phố nói chung, đảng bộ cấp xã nói riêng, nhất là trong lãnh đạo quản trị địa phương, tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đáp ứng yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp trong điều kiện mới.

Quảng Ninh là thành phố nằm ở địa đầu Đông Bắc Tổ quốc, được Trung ương xác định có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Sau sắp xếp, thành phố có “54 đơn vị hành chính cấp xã (30 phường, 22 xã và 02 đặc khu), 1.452 thôn, bản, khu phố với dân số trên 1,4 triệu người, gồm 43 dân tộc cùng sinh sống” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.1). Cơ cấu gồm phường đô thị, xã miền núi, xã biên giới và hai đặc khu Vân Đồn, Cô Tô làm cho không gian lãnh đạo của đảng bộ cấp xã ở Quảng Ninh đa dạng. Đảng bộ phường phải giải quyết những vấn đề về quản trị đô thị, dân cư, hạ tầng, công nghiệp, dịch vụ và môi trường; đảng bộ xã miền núi, biên giới phải gắn phát triển kinh tế - xã hội với công tác dân tộc, bảo vệ biên giới và củng cố hệ thống chính trị ở cộng đồng dân cư; đảng bộ đặc khu phải đồng thời lãnh đạo phát triển kinh tế biển, du lịch, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó thiên tai và giữ vững quốc phòng, an ninh trên địa bàn biển, đảo. Vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo phải được đặt trong yêu cầu phân hóa theo loại hình địa bàn, nhưng vẫn bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt của Đảng bộ thành phố.

2. Nội dung

2.1. Những kết quả đạt được

Một là, vai trò hạt nhân chính trị của đảng bộ cấp xã được giữ vững, bảo đảm sự lãnh đạo liên tục

Các đảng bộ cấp xã đã nhanh chóng ổn định tổ chức, phân công nhiệm vụ, ban hành quy chế làm việc và duy trì sự lãnh đạo đối với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức đảng trực thuộc. Tỉnh ủy đánh giá: “Sau 01 năm vận hành, mô hình hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 02 cấp trên địa bàn thành phố Quảng Ninh bước đầu khẳng định tính đúng đắn, phù hợp với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng phục vụ Nhân dân” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.30). Phương thức lãnh đạo đã bước đầu thay đổi: “Điểm nổi bật là việc kết thúc hoạt động cấp huyện đã tạo chuyển biến rõ trong phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành”; đồng thời khẳng định: “Đây là chuyển biến quan trọng từ phương thức quản lý qua nhiều tầng nấc sang quản trị trực tiếp, rõ trách nhiệm, gần dân, sát dân hơn” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.31). Quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo được thiết lập trực tiếp giữa thành phố với 54 xã, phường, đặc khu, giúp rút ngắn khâu trung gian nhưng đồng thời đặt đảng bộ cấp xã vào vị trí phải trực tiếp nắm địa bàn, lựa chọn vấn đề trọng tâm và chịu trách nhiệm về kết quả.

Hai là, năng lực lãnh đạo tiếp nhận phân cấp, phân quyền và tổ chức lại quy trình giải quyết công việc có bước chuyển rõ rệt

Khối lượng thẩm quyền được chuyển giao cho cấp xã ở Quảng Ninh rất lớn: “Khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, tổng số 1.047 nhiệm vụ, thẩm quyền của HĐND, UBND và Chủ tịch UBND cấp huyện được chuyển giao cho cấp thành phố và cấp xã thực hiện; trong đó 188 nhiệm vụ được chuyển lên cấp thành phố và 859 nhiệm vụ được chuyển xuống cấp xã” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.10). Việc tiếp nhận 859 nhiệm vụ không chỉ làm tăng khối lượng công việc của chính quyền mà còn mở rộng phạm vi lãnh đạo của đảng bộ cấp xã. Cấp ủy phải lãnh đạo rà soát lại quy chế làm việc, phân công cấp ủy viên, bố trí cán bộ chuyên môn, xác định những lĩnh vực trọng yếu và theo dõi tiến độ thực hiện. Việc phân định rõ thẩm quyền giữa Trung ương, thành phố và xã đã góp phần giảm tầng nấc trung gian, rút ngắn quy trình xử lý công việc, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của chính quyền cơ sở. Qua đó cho thấy, năng lực lãnh đạo của đảng bộ cấp xã đã bước đầu chuyển từ thực hiện nhiệm vụ chủ yếu theo sự chỉ đạo và điều phối của cấp huyện sang trực tiếp lãnh đạo chính quyền thực hiện thẩm quyền mới. Cấp ủy không làm thay công việc quản lý của UBND, nhưng phải xác định đúng những khâu dễ ách tắc, kiểm soát tiến độ, đôn đốc phối hợp và xem xét trách nhiệm của người đứng đầu.

Ba là, năng lực lãnh đạo cải cách hành chính và phục vụ người dân, doanh nghiệp được thể hiện rõ hơn, phù hợp với đặc điểm địa lý của Quảng Ninh

Cải cách hành chính là lĩnh vực phản ánh trực tiếp hiệu lực lãnh đạo của cấp ủy và chất lượng vận hành của chính quyền cấp xã. Tỉnh ủy nhận định: “Hiệu quả thực chất của mô hình mới thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực giải quyết thủ tục hành chính, cung ứng dịch vụ công và phục vụ người dân, doanh nghiệp” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.31). Cơ chế giải quyết thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới hành chính được triển khai đồng bộ, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân trong lựa chọn nơi nộp hồ sơ, giảm thời gian, chi phí đi lại, nhất là đối với địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo, đặc khu và các địa phương có phạm vi quản lý rộng sau sắp xếp. Đây là kết quả mang dấu ấn riêng của Quảng Ninh. Với địa bàn trải dài, có khu vực miền núi, biên giới, nhiều đảo và khoảng cách đi lại lớn, giải quyết thủ tục không phụ thuộc địa giới hành chính không chỉ là cải tiến kỹ thuật mà còn thể hiện sự thay đổi trong tư duy lãnh đạo: chuyển từ quản lý theo địa giới cứng sang tổ chức phục vụ theo nhu cầu thực tế. Đối với Vân Đồn, Cô Tô và các xã xa trung tâm, cơ chế này góp phần giảm chi phí tiếp cận dịch vụ công và hạn chế tác động của điều kiện giao thông, thời tiết đối với người dân, doanh nghiệp.

Bốn là, công tác cán bộ và tổ chức hệ thống chính trị ở khu dân cư được kiện toàn theo hướng tăng tính khách quan, thống nhất và trách nhiệm

Quảng Ninh tiếp tục thực hiện mạnh chủ trương bố trí cán bộ lãnh đạo chủ chốt không phải người địa phương: “Ở cấp xã, 54/54 Bí thư Đảng ủy và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy cấp xã không phải là người địa phương; 50/54 Chủ tịch UBND cấp xã không phải là người địa phương, đạt 92,6%” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.27). Đồng thời đánh giá: “Thực tiễn nhiều năm triển khai cho thấy đây là chủ trương đúng đắn, góp phần nâng cao tính khách quan, công tâm trong lãnh đạo, quản lý; hạn chế tác động của quan hệ thân quen, dòng họ, lợi ích cục bộ địa phương và tình trạng khép kín trong công tác cán bộ” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.27). Ở địa bàn dân cư, thành phố đã thực hiện: “100% số thôn, khu phố (1.452/1.452) bố trí Bí thư chi bộ đồng thời là Trưởng thôn, khu phố” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.28). Việc bố trí cán bộ không phải người địa phương góp phần tăng tính khách quan ở cấp xã; nhất thể hóa bí thư chi bộ với trưởng thôn, khu phố giúp thống nhất giữa chủ trương của chi bộ với tổ chức thực hiện tại cộng đồng.

Năm là, công tác kiểm tra, giám sát và cơ chế hỗ trợ trực tiếp của cấp thành phố đối với cấp xã được duy trì

Kiểm tra, giám sát không chỉ nhằm phát hiện sai phạm mà còn giúp nhận diện những nhiệm vụ vượt quá năng lực của cấp xã, những quy trình chưa rõ và những vấn đề cần sở, ngành hướng dẫn. Trong năm đầu tiên vận hành mô hình mới, công tác kiểm tra, giám sát được triển khai với khối lượng lớn, 587 cuộc kiểm tra và 827 cuộc giám sát (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, Phụ lục 1B, tr.49). Bên cạnh đó, cơ chế theo dõi, nắm bắt tình hình, hỗ trợ và tháo gỡ khó khăn cho cấp xã được thiết lập kịp thời, thể hiện rõ tinh thần đồng hành của cấp thành phố với cơ sở trong giai đoạn đầu vận hành mô hình mới.

2.2. Hạn chế, bất cập

Một là, khối lượng nhiệm vụ được chuyển giao chưa hoàn toàn tương xứng với năng lực thực thi của một số đảng bộ và chính quyền cấp xã

Áp lực lớn nhất hiện nay là sự mất cân đối giữa khối lượng nhiệm vụ được chuyển giao, phân cấp cho cấp xã với năng lực thực thi thực tế ở một số địa phương. Trong khi đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở một số nơi còn thiếu về số lượng, chưa đồng đều về chất lượng, thiếu cán bộ có chuyên môn sâu và kinh nghiệm thực tiễn ở các lĩnh vực phức tạp (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.34). Hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tham mưu và năng lực lãnh đạo của cấp ủy. Khi cán bộ chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu, cấp ủy khó có được những báo cáo phân tích đầy đủ, dự báo chính xác và đưa ra phương án xử lý hiệu quả.

Hai là, phân cấp, phân quyền ở một số nội dung chưa đi đôi với đầy đủ điều kiện bảo đảm

Tỉnh ủy Quảng Ninh đánh giá “Việc phân cấp, phân quyền, ủy quyền là chủ trương đúng, cần thiết, đã tạo ra tính chủ động cho cấp xã, nhưng ở một số nội dung chưa thật sự đồng bộ với điều kiện bảo đảm thực hiện” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.34). Bên cạnh đó, “Có nhiệm vụ đã giao thẩm quyền cho cấp xã nhưng hướng dẫn chuyên môn còn chậm, dữ liệu chưa đầy đủ, phần mềm chưa liên thông, cán bộ chưa được đào tạo chuyên sâu hoặc chưa có đủ điều kiện vật chất để tổ chức thực hiện” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.34). Điều này cho thấy phân cấp mới chủ yếu hoàn thành về mặt xác định thẩm quyền, trong khi năng lực thực hiện chưa được hình thành đồng đều. Nhất là xã biên giới, miền núi và đặc khu biển, đảo, sự thiếu đồng bộ về nhân lực, thiết bị, dữ liệu và hỗ trợ chuyên môn có thể làm tăng đáng kể thời gian và chi phí xử lý công việc.

Ba là, cơ chế phối hợp giữa cấp thành phố với cấp xã và giữa các cơ quan chuyên môn còn những điểm chưa rõ ràng

Đánh giá của Tỉnh ủy Quảng Ninh chỉ rõ: “Quan hệ phối hợp giữa cấp tỉnh và cấp xã cơ bản thông suốt nhưng vẫn còn một số điểm giao thoa, cần tiếp tục cụ thể hóa rõ hơn” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.35). Nếu đầu mối, quy trình và thời hạn phối hợp không rõ, cấp xã phải gửi văn bản xin ý kiến nhiều lần; cơ quan chuyên môn cấp thành phố có thể chậm phản hồi hoặc chưa xác định rõ trách nhiệm hỗ trợ. Hạn chế này càng rõ đối với vụ việc liên quan đồng thời đến đất đai, đầu tư, xây dựng, tài chính, môi trường và quốc phòng, an ninh.

Bốn là, hạ tầng số, phần mềm và cơ sở dữ liệu chưa đồng bộ

Qua tổng kết, đánh giá chỉ rõ: “Hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu và hạ tầng số tuy đã hỗ trợ tích cực cho vận hành mô hình mới nhưng vẫn là điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.35). Khi dữ liệu chưa liên thông, cán bộ phải cập nhật, đối chiếu hoặc nhập lại thông tin trên nhiều hệ thống; cấp ủy khó có được nguồn dữ liệu đầy đủ, thống nhất để đánh giá tình hình và ra quyết định. Một số nơi mới sử dụng nền tảng số chủ yếu để gửi, nhận văn bản và giải quyết thủ tục, chưa khai thác hiệu quả dữ liệu cho công tác dự báo, kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ và quản trị địa bàn.

Năm là, năng lực thích ứng, phối hợp và xử lý nhiệm vụ mới của một bộ phận cán bộ chưa đồng đều

Một số cán bộ vẫn quen với phương thức làm việc theo từng lĩnh vực hẹp, phụ thuộc vào hướng dẫn của cấp trên, trong khi mô hình mới đòi hỏi năng lực phối hợp liên ngành, phân tích dữ liệu, xử lý tình huống, đối thoại với nhân dân và chịu trách nhiệm về kết quả. Đối với cán bộ được điều động đến địa phương mới, yêu cầu còn bao gồm khả năng nhanh chóng nắm đặc điểm địa bàn, văn hóa cộng đồng, sinh kế, quan hệ dân tộc, tôn giáo và những vấn đề lịch sử cụ thể.

Sáu là, việc tổng kết thực tiễn, đánh giá hiệu quả và phản hồi chính sách chưa thật sự sâu

Thực tế cho thấy, “Công tác tổng hợp, đánh giá thực tiễn và phản ánh chính sách tuy đã được quan tâm nhưng cần tiếp tục được thực hiện sâu hơn, thực chất hơn” (Tỉnh ủy Quảng Ninh, 2026, tr.36). Một số cấp ủy vẫn chú trọng nhiều đến việc hoàn thành kế hoạch, số lượng văn bản hoặc số cuộc họp, trong khi chưa lượng hóa đầy đủ kết quả đầu ra, mức độ giải quyết vấn đề và sự chuyển biến của địa bàn. Việc đánh giá năng lực lãnh đạo chưa được phân hóa rõ giữa xã miền núi, phường đô thị và đặc khu; chưa phản ánh đầy đủ mức độ phức tạp, chi phí thực hiện và điều kiện khách quan của từng địa bàn.

2.3. Giải pháp tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng bộ cấp xã ở thành phố Quảng Ninh trong tình hình mới

Một là, nâng cao năng lực xác định nhiệm vụ chính trị trọng tâm phù hợp với từng loại hình địa bàn

Mỗi đảng bộ phải xác định đúng những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự ổn định và phát triển của địa phương, không dàn đều sự lãnh đạo vào toàn bộ công việc hành chính. Hằng năm, cấp ủy chỉ nên lựa chọn một số vấn đề trọng điểm, xác định rõ mục tiêu, nguyên nhân, lực lượng thực hiện và kết quả cần đạt để tập trung lãnh đạo đến cùng. Đối với phường đô thị, công nghiệp và khai khoáng, trọng tâm là quản lý đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, hạ tầng, dân cư và đời sống người lao động. Đối với xã miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc, phải tập trung phát triển sinh kế, bảo đảm dịch vụ thiết yếu, củng cố đoàn kết cộng đồng, công tác dân vận và giữ vững an ninh địa bàn. Đối với Vân Đồn, Cô Tô và khu vực biển, đảo, cần lãnh đạo đồng bộ phát triển kinh tế biển, du lịch, quản lý tài nguyên, môi trường, giao thông thủy, phòng, chống thiên tai, cứu hộ và quốc phòng, an ninh. Năng lực lãnh đạo phải được thể hiện trước hết ở việc lựa chọn đúng vấn đề và tạo được chuyển biến rõ trên địa bàn.

Hai là, đổi mới việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết của cấp ủy

Nghị quyết của đảng ủy xã, phường, đặc khu phải được xây dựng từ khảo sát thực tế, dữ liệu địa bàn, ý kiến của cơ quan chuyên môn, tổ chức đảng trực thuộc và nhân dân; không sao chép chỉ đạo cấp trên hoặc liệt kê lại nhiệm vụ của chính quyền. Trước khi ban hành nghị quyết, cấp ủy phải làm rõ vấn đề cần giải quyết, nguyên nhân chủ yếu và nội dung nào thuộc trách nhiệm lãnh đạo của Đảng. Nghị quyết phải ngắn gọn, rõ mục tiêu, nhiệm vụ, người phụ trách, thời hạn và kết quả cần đạt. Sau khi ban hành, ban thường vụ phải phân công cấp ủy viên trực tiếp theo dõi từng nhiệm vụ; định kỳ kiểm tra tiến độ, xử lý ngay những khâu chậm và điều chỉnh nội dung không còn phù hợp. Kết quả thực hiện nghị quyết phải trở thành căn cứ đánh giá tổ chức đảng, cấp ủy viên và người đứng đầu. Qua đó, chuyển từ lãnh đạo nặng về ban hành văn bản sang lãnh đạo bằng tổ chức thực hiện và kết quả thực tế.

Ba là, hoàn thiện quy chế làm việc, nâng cao năng lực điều hành và phối hợp giải quyết công việc liên ngành

Đảng bộ cấp xã phải phân định rõ thẩm quyền của ban chấp hành, ban thường vụ, thường trực cấp ủy, bí thư, phó bí thư và chính quyền. Cấp ủy tập trung quyết định phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm, công tác tổ chức, cán bộ và kiểm tra, giám sát; không làm thay ủy ban nhân dân trong giải quyết hồ sơ, thủ tục hoặc hoạt động chuyên môn. Chính quyền chủ động quản lý, điều hành theo pháp luật và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện. Mỗi nhiệm vụ phải giao một người chịu trách nhiệm chính, khắc phục tình trạng phân công cho nhiều cơ quan nhưng không xác định chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng. Những vấn đề liên quan đồng thời đến đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, môi trường, tài chính và an ninh phải được cấp ủy lãnh đạo theo cơ chế phối hợp liên ngành, có đầu mối điều phối và thời hạn giải quyết cụ thể. Đối với Vân Đồn, Cô Tô và các địa bàn biển, đảo, cần duy trì cơ chế phối hợp thường xuyên giữa chính quyền, công an, quân sự, biên phòng, cơ quan cảng, y tế, doanh nghiệp du lịch, chủ phương tiện và cộng đồng ngư dân. Cấp ủy phải đủ năng lực chỉ huy, điều phối thống nhất khi xảy ra thiên tai, sự cố môi trường, tai nạn trên biển hoặc tình huống quốc phòng, an ninh.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cấp ủy viên và cán bộ tham mưu có năng lực quản trị địa bàn

Việc nâng cao năng lực lãnh đạo phải bắt đầu từ chất lượng bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ, cấp ủy viên và đội ngũ tham mưu. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải chuyển từ lý luận chung sang rèn luyện năng lực phân tích địa bàn, xây dựng nghị quyết, tổ chức thực hiện, phối hợp liên ngành, đối thoại với nhân dân, xử lý tình huống và chịu trách nhiệm về quyết định. Quảng Ninh cần xây dựng chương trình bồi dưỡng riêng cho từng nhóm cán bộ. Cán bộ phường đô thị, công nghiệp phải nắm chắc quản trị đô thị, đất đai, xây dựng, môi trường và quan hệ lao động. Cán bộ xã miền núi, biên giới phải giỏi dân vận, công tác dân tộc, phát triển sinh kế, quản lý địa bàn và phối hợp với lực lượng vũ trang. Cán bộ ở đặc khu phải có kiến thức về kinh tế biển, du lịch, tài nguyên, môi trường, giao thông thủy, cứu hộ và quốc phòng, an ninh. Đối với cán bộ lãnh đạo không phải người địa phương, phải chú trọng hơn việc khảo sát, nắm địa bàn, đối thoại với chi bộ, thôn, khu phố, người có uy tín, doanh nghiệp và nhân dân. Tính khách quan của cán bộ ngoài địa phương phải gắn với sự sâu sát cơ sở, hiểu rõ lịch sử, dân cư, sinh kế và các quan hệ lợi ích tại địa bàn. Đánh giá cán bộ phải căn cứ vào sản phẩm, kết quả giải quyết công việc, khả năng phối hợp và mức độ tín nhiệm của nhân dân, không chủ yếu dựa vào bằng cấp hoặc thâm niên.

Năm là, đổi mới phương thức nắm tình hình và lãnh đạo trên cơ sở dữ liệu gắn với bám sát cơ sở

Mỗi đảng bộ cần xây dựng hệ thống thông tin phục vụ trực tiếp hoạt động lãnh đạo, tích hợp tiến độ thực hiện nghị quyết, nhiệm vụ trọng tâm, phản ánh của nhân dân, hồ sơ chậm xử lý và các biến động của địa bàn. Dữ liệu phải giúp cấp ủy phát hiện sớm vấn đề, xác định đúng khâu yếu, kiểm tra đúng nơi và xử lý trước khi vụ việc trở nên phức tạp. Nội dung dữ liệu phải phù hợp với từng địa bàn. Phường đô thị cần theo dõi dân cư, quy hoạch, xây dựng, hạ tầng và môi trường; xã biên giới cần nắm dân cư, sinh kế, tình hình an ninh và hoạt động qua biên giới; đặc khu cần quản lý dữ liệu về tàu thuyền, khách du lịch, môi trường biển, vận tải, y tế, cứu hộ, điện, nước và thời tiết. Địa bàn biển, đảo phải có hệ thống kết nối, sao lưu và dự phòng để duy trì lãnh đạo, điều hành khi xảy ra thiên tai hoặc gián đoạn giao thông. Lãnh đạo bằng dữ liệu không thay thế việc đi cơ sở. Cấp ủy phải kết hợp phân tích dữ liệu với kiểm tra thực địa, tiếp xúc nhân dân và thông tin từ chi bộ, thôn, khu phố. Dữ liệu giúp nhận diện dấu hiệu; bám sát cơ sở giúp xác định đúng nguyên nhân và lựa chọn quyết định lãnh đạo phù hợp.

Sáu là, nâng cao chất lượng kiểm tra, tự đánh giá và phát huy vai trò của tổ chức đảng, nhân dân ở cơ sở

Kiểm tra, giám sát phải tập trung vào việc thực hiện nghị quyết, trách nhiệm của cấp ủy viên, người đứng đầu và những lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm như đất đai, quy hoạch, đầu tư công, tài sản công, tài nguyên, khoáng sản, môi trường, giải phóng mặt bằng, thủ tục hành chính và quản lý không gian biển. Kiểm tra phải đánh giá cả kết quả và quá trình tổ chức thực hiện; mỗi kết luận phải xác định rõ nội dung cần khắc phục, người chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành. Mỗi đảng bộ phải định kỳ tự đánh giá chất lượng phương thức lãnh đạo: có xác định đúng vấn đề không, nghị quyết có khả thi không, phân công có rõ không, phối hợp có hiệu quả không và nhân dân có đồng thuận không. Tiêu chí đánh giá phải được phân hóa theo từng loại hình địa bàn, không dùng một thước đo chung cho phường đô thị, xã miền núi, xã biên giới và đặc khu. Đồng thời, phải phát huy thực chất vai trò của 1.452 bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, khu phố trong nắm tình hình, hòa giải, vận động nhân dân và phản ánh vấn đề với cấp ủy. Đảng ủy cấp xã phải duy trì chế độ tiếp nhận, xử lý và phản hồi thông tin từ cơ sở; tạo điều kiện để nhân dân góp ý, giám sát cán bộ và đánh giá kết quả lãnh đạo. Năng lực lãnh đạo chỉ được khẳng định khi địa bàn chuyển biến, những vấn đề bức xúc được giải quyết và niềm tin của Nhân dân được củng cố.

3. Kết luận

Sau một năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các đảng bộ cấp xã ở Quảng Ninh đã cơ bản giữ vững vai trò hạt nhân chính trị, bảo đảm hoạt động của hệ thống chính trị không bị gián đoạn, đồng thời từng bước nâng cao tính chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Sự chuyển đổi từ quản lý qua nhiều tầng nấc sang quản trị trực tiếp, việc tiếp nhận khối lượng lớn nhiệm vụ phân cấp, cải cách hành chính, đổi mới công tác cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát là những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, năng lực lãnh đạo chưa đồng đều giữa các địa bàn; khối lượng nhiệm vụ chuyển giao có nơi chưa tương xứng với số lượng, năng lực cán bộ, dữ liệu và điều kiện vật chất; phối hợp liên ngành, liên cấp và hạ tầng số còn những điểm nghẽn. Đặc biệt, hai đặc khu Vân Đồn và Cô Tô đặt ra những yêu cầu lãnh đạo khác với phường đô thị và xã đất liền, đòi hỏi tư duy quản trị tích hợp giữa phát triển kinh tế biển, du lịch, môi trường, dịch vụ công, ứng phó thiên tai và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Trọng tâm trong thời gian tới là nâng cao năng lực phát hiện và lựa chọn đúng vấn đề cần lãnh đạo; đổi mới việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết; phân định rõ trách nhiệm giữa cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu; xây dựng đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ tham mưu có năng lực quản trị địa bàn; tăng cường lãnh đạo dựa trên dữ liệu nhưng luôn bám sát cơ sở; đồng thời nâng cao chất lượng kiểm tra, tự đánh giá và phát huy vai trò của tổ chức đảng, nhân dân. Các yêu cầu này phải được cụ thể hóa khác nhau đối với phường đô thị, công nghiệp, khai khoáng; xã miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc; xã biển, đảo và đặc khu, không áp dụng một khuôn mẫu chung cho mọi địa phương. Trong bối cảnh Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, những yêu cầu trên càng có ý nghĩa cấp thiết, đòi hỏi năng lực lãnh đạo của các đảng bộ cấp xã phải tương xứng với vị thế mới, không gian phát triển mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao của thành phố. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các đảng bộ cấp xã tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, phát huy tính chủ động, sáng tạo và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Năng lực lãnh đạo của đảng bộ cấp xã ở thành phố Quảng Ninh được thể hiện thông qua khả năng giữ vững đoàn kết, xác định đúng nhiệm vụ, tổ chức thực hiện hiệu quả, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh và củng cố niềm tin của nhân dân. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ tạo cơ sở để các đảng bộ cấp xã ở Quảng Ninh phát huy đầy đủ vai trò trung tâm lãnh đạo trực tiếp trong mô hình mới, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững và giữ vững quốc phòng, an ninh.

_________________

Ngày nhận: 05/8/2026; Ngày bình duyệt: 8/9/2026; Ngày quyết định đăng: 11/10/2026.

Email tác giả: phamxuanthanhxddhcma@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Tỉnh ủy Quảng Ninh (2026). Báo cáo số 300-BC/TU ngày 08/6/2026 sơ kết 01 năm vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Nâng cao năng lực lãnh đạo của đảng bộ cấp xã ở thành phố Quảng Ninh sau 01 năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp