Tóm tắt: Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của Việt Nam; nơi lực lượng sản xuất nông nghiệp đang biến đổi mạnh dưới tác động của khoa học - công nghệ, thích ứng biến đổi khí hậu và yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển. Bên cạnh những tiến bộ, quá trình cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất và phát triển nông nghiệp xanh, đang bộc lộ sự chưa đồng bộ giữa người lao động, tư liệu sản xuất, khoa học - công nghệ và các điều kiện tổ chức sản xuất. Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, bài viết phân tích những chuyển biến, hạn chế; nhận diện các mâu thuẫn chủ yếu và đề xuất giải pháp nâng cao trình độ lực lượng sản xuất, tạo động lực cho nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long phát triển hiện đại, xanh và bền vững.
TS HUỲNH VĂN TÁNH
Học viện Chính trị khu vực IV

1. Mở đầu
Nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long đang trong bước chuyển quan trọng về chất của lực lượng sản xuất. Cơ giới hóa, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và các mô hình sản xuất xanh ngày càng thâm nhập sâu vào quá trình sản xuất. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này diễn ra chưa đồng bộ. Yêu cầu xã hội hóa và hiện đại hóa sản xuất ngày càng cao nhưng tổ chức sản xuất còn phân tán; công nghệ phát triển nhanh nhưng năng lực tiếp nhận và làm chủ của một bộ phận người lao động còn hạn chế; năng lực tạo ra khối lượng nông sản lớn nhưng trình độ bảo quản, chế biến và tổ chức chuỗi giá trị chưa tương xứng. Đồng thời, biến đổi khí hậu ngày càng làm rõ giới hạn của sản xuất nông nghiệp dựa nhiều vào khai thác tài nguyên và gia tăng đầu vào. Những bất tương xứng đó phản ánh các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình chuyển lực lượng sản xuất nông nghiệp từ mô hình dựa chủ yếu vào tài nguyên, lao động và sản lượng sang mô hình dựa ngày càng nhiều hơn vào tri thức, công nghệ, giá trị gia tăng và hiệu quả sinh thái. Bài viết phân tích thực trạng, nhận diện những mâu thuẫn chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm tạo bước chuyển về chất của lực lượng sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Tính đặc thù của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp
Lực lượng sản xuất trong nông nghiệp có những đặc thù bắt nguồn từ đối tượng lao động, tư liệu sản xuất và điều kiện tự nhiên của quá trình sản xuất. Khác với ngành công nghiệp, sản xuất nông nghiệp là sự kết hợp trực tiếp giữa quá trình lao động của con người với quá trình sinh học và các điều kiện tự nhiên. Vì vậy, trình độ lực lượng sản xuất nông nghiệp không chỉ thể hiện ở khả năng tạo ra nhiều sản phẩm mà còn ở năng lực của con người trong nhận thức, vận dụng và thích ứng với các quy luật khách quan của tự nhiên.
Thứ nhất, đối tượng lao động trong nông nghiệp mang tính sinh học. Cây trồng, vật nuôi là những thực thể sống, có quy luật sinh trưởng, phát triển và tái tạo riêng. Con người có thể tác động thông qua giống, dinh dưỡng, kỹ thuật và công nghệ nhưng khó thay thế các quy luật sinh học. Do đó, trình độ lực lượng sản xuất được thể hiện ở khả năng nhận thức và vận dụng các quy luật này để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Thứ hai, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, có giới hạn và không thể thay thế. Đất vừa là điều kiện, vừa là tư liệu trực tiếp của sản xuất nông nghiệp; chất lượng và độ phì nhiêu của đất phụ thuộc vào phương thức khai thác và sử dụng của con người. Vì vậy, phát triển lực lượng sản xuất không thể chỉ dựa vào mở rộng diện tích và tăng cường khai thác mà phải nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo vệ và tái tạo sức sản xuất của đất.
Thứ ba, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Nước, khí hậu, nhiệt độ, lượng mưa, độ mặn và hệ sinh thái có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất. Do đó, khả năng dự báo, phòng ngừa rủi ro và thích ứng với những biến đổi tự nhiên trở thành yếu tố quan trọng đánh giá trình độ lực lượng sản xuất. Đặc thù này càng thể hiện nổi bật ở đồng bằng sông Cửu Long trước tác động của hạn hán, xâm nhập mặn và biến đổi sinh thái.
Thứ tư, khoa học - công nghệ tác động đồng thời vào quá trình kỹ thuật và quá trình sinh học. Công nghệ không chỉ được vật chất hóa trong máy móc, thiết bị mà còn hiện diện trong: giống, quy trình canh tác, quản lý nước, dữ liệu, dự báo và kỹ năng của người lao động. Bởi vậy, sự phát triển về chất của lực lượng sản xuất thể hiện ở quá trình chuyển từ sản xuất dựa nhiều vào kinh nghiệm, tài nguyên và gia tăng đầu vào sang sản xuất dựa vào tri thức, khoa học - công nghệ và dữ liệu.
Thứ năm, tính mùa vụ và phân tán tạo nên yêu cầu đặc thù đối với việc kết hợp các yếu tố của lực lượng sản xuất. Sự khác biệt giữa thời gian lao động và thời gian sản xuất cùng tính phân tán về không gian đòi hỏi năng lực tổ chức, liên kết, bảo quản, chế biến và kết nối thị trường ngày càng cao. Do đó, trình độ lực lượng sản xuất không chỉ phụ thuộc vào từng yếu tố riêng lẻ mà còn được quyết định bởi khả năng kết hợp giữa người lao động, tư liệu sản xuất, khoa học - công nghệ và điều kiện tự nhiên.
Như vậy, nét đặc thù cơ bản của lực lượng sản xuất nông nghiệp là sự thống nhất hữu cơ giữa lao động của con người - quá trình sinh học - điều kiện tự nhiên - khoa học và công nghệ. Vì vậy, đánh giá trình độ phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp phải dựa trên tiêu chí sản lượng, đồng thời cả chất lượng người lao động, năng suất lao động, trình độ công nghệ, hiệu quả sử dụng tài nguyên và năng lực thích ứng sinh thái. Đây là cơ sở phương pháp luận để phân tích sự phát triển và những mâu thuẫn của lực lượng sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.
2.2. Thực trạng phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long
a) Những chuyển biến tích cực về chất của lực lượng sản xuất
Thứ nhất, năng lực sản xuất nông nghiệp tiếp tục được củng cố trên nền tảng sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Năm 2025, tốc độ tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của đồng bằng sông Cửu Long đạt khoảng 3,9%; sản lượng lúa đạt 24,057 triệu tấn, với diện tích 3,79 triệu ha, riêng vụ Đông Xuân 2024 - 2025 đạt 10,772 triệu tấn, với diện tích1,51 triệu ha (Báo Điện tử Chính phủ, 2026a). Đến năm 2026, diện tích khoảng 3,875 triệu ha lúa/năm, với sản lượng 24,63 triệu tấn, năng suất bình quân 6,36 tấn/ha; vùng đóng góp khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam (Báo Điện tử Chính phủ, 2026b). Những con số này phản ánh sức sản xuất và khả năng duy trì vị thế của vùng trong bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản.
Xét về lực lượng sản xuất, điểm đáng chú ý là những bước chuyển biến tích cực về chất. Quá trình sản xuất đang từng bước chuyển từ dựa chủ yếu vào mở rộng diện tích, lao động thủ công và gia tăng đầu vào sang những bước tiến về năng suất, chất lượng, giống, kỹ thuật và tổ chức sản xuất hàng hóa. Điều đó cho thấy sự thay đổi trong từng yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất.
Quy mô sản xuất hàng hóa lớn đã tạo điều kiện cho chuyên môn hóa, cơ giới hóa, ứng dụng khoa học - công nghệ và hình thành những cách thức tổ chức sản xuất hiệu quả hơn. Tri thức, khoa học - công nghệ và năng lực tổ chức ngày càng trở thành những yếu tố trực tiếp nâng cao sức sản xuất,
Thứ hai, khoa học - công nghệ ngày càng thâm nhập sâu vào quá trình sản xuất. Biểu hiện rõ là việc triển khai Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” (Thủ tướng Chính phủ, 2023). Kết quả bước đầu cho thấy, chi phí đầu vào giảm 8 - 24%; lượng phân bón hóa học giảm 30 - 70 kg/ha; số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 1 - 4 lần/vụ; lượng nước tưới giảm 30 - 40%; năng suất lúa tăng khoảng 7% và phát thải khí nhà kính giảm 2 - 12 tấn CO₂ tương đương/ha (Cục Thông tin, Thống kê, 2025).
Xét từ phương diện lực lượng sản xuất, giá trị nổi bật của những kết quả này không chỉ là sản xuất được nhiều hơn với chi phí thấp hơn, mà quan trọng là sự thay đổi về chất trong phương thức tạo ra sản phẩm. Tri thức khoa học từng bước được vật chất hóa vào sản xuất giống, quy trình canh tác, công cụ sản xuất và phương thức quản lý; đồng thời được chuyển hóa thành kiến thức, kỹ năng và năng lực làm chủ công nghệ của người lao động. Nhờ đó, hiệu quả sản xuất ít phụ thuộc hơn vào việc gia tăng đơn thuần diện tích đất đai, nước, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, mà phụ thuộc nhiều hơn vào trình độ tổ chức và ứng dụng khoa học - công nghệ.
Một logic phát triển mới đang hình thành: tri thức và công nghệ - đổi mới phương thức sử dụng tư liệu sản xuất - tiết kiệm tài nguyên và đầu vào - nâng cao năng suất, chất lượng - giảm phát thải - gia tăng hiệu quả kinh tế và môi trường. Đây chính là biểu hiện quan trọng của sự phát triển lực lượng sản xuất theo chiều sâu.
Thứ ba, phương thức sử dụng các điều kiện tự nhiên và đối tượng lao động đang được điều chỉnh theo hướng thích ứng sinh thái. Năm 2025, đồng bằng sông Cửu Long chuyển đổi khoảng 38.200 ha đất trồng lúa kém hiệu quả hoặc chịu ảnh hưởng của hạn, mặn; trong đó, 30.500 ha chuyển sang cây trồng hằng năm, 2.400 ha sang cây lâu năm và 5.800 ha sang mô hình lúa - thủy sản (Báo điện tử Chính phủ, 2025). Kỹ thuật rải vụ cũng được ứng dụng đối với một số loại cây ăn quả chủ lực nhằm điều tiết thời điểm thu hoạch và hạn chế áp lực mùa vụ.
Xét về chất của lực lượng sản xuất, những chuyển đổi này cho thấy, sự thay đổi trong cách thức con người nhận thức và sử dụng các điều kiện tự nhiên. Đất đai, nguồn nước và các điều kiện sinh thái không còn được khai thác chủ yếu theo tập quán và cơ cấu sản xuất cố định, mà ngày càng được sử dụng trên cơ sở đánh giá đặc tính sinh thái, biến động khí hậu và hiệu quả kinh tế. Điều đó phản ánh năng lực của người sản xuất trong lựa chọn đối tượng lao động, công nghệ và phương thức sản xuất phù hợp đã được nâng lên.
Đáng chú ý, sự chuyển đổi từ độc canh lúa sang các mô hình cây trồng hoặc lúa - thủy sản phù hợp hơn, còn thể hiện bước chuyển từ tư duy chống lại những bất lợi của tự nhiên sang chủ động thích ứng và khai thác hợp lý các điều kiện tự nhiên. Vì vậy, đây là biểu hiện của sự phát triển về chất của lực lượng sản xuất: tri thức, năng lực dự báo, khả năng thích ứng và tổ chức sản xuất ngày càng giữ vai trò lớn hơn trong quan hệ giữa con người với tự nhiên, tạo nền tảng cho phát triển nông nghiệp thích ứng, hiệu quả và bền vững.
Bảng 1. Một số chỉ báo phản ánh trình độ và điều kiện phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long
| Chỉ số lực lượng sản xuất | Giá trị / Số liệu thực tế | Ý nghĩa |
| Sản lượng và năng suất lúa (2025-2026) | 24,057 - 24,63 triệu tấn/năm; năng suất 6,36 tấn/ha; chiếm 90% gạo xuất khẩu cả nước. | Phản ánh quy mô và sức sản xuất của nông nghiệp vùng, nhưng sản lượng lớn chưa đồng nghĩa với trình độ lực lượng sản xuất cao. Đặt ra yêu cầu chuyển từ phát triển dựa vào quy mô sang nâng cao chất lượng, năng suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực. |
| Hiệu quả Đề án 1 triệu ha lúa phát thải thấp | Giảm 8-24% chi phí; giảm 30-70kg phân bón/ha; năng suất +7%; giảm 2-12 tấn CO₂/ha. | Thể hiện bước chuyển về chất của lực lượng sản xuất, khi khoa học - công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy chuyển từ gia tăng đầu vào sang phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và hiệu quả. |
| Chuyển đổi cơ cấu đất và rải vụ trái cây | Chuyển đổi 38.200 ha đất lúa; 43.000 ha trái cây rải vụ (chiếm 50,7% diện tích chủ lực). | Phản ánh năng lực nhận thức, vận dụng và thích ứng với các quy luật tự nhiên, chuyển từ khai thác theo kinh nghiệm sang sử dụng đất, nước và điều kiện sinh thái hợp lý, chủ động và bền vững hơn. |
| Chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp | Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 16,3% (2024); Năng suất lao động: 133 triệu đồng/người/năm (2026). | Cho thấy người lao động là yếu tố hàng đầu của lực lượng sản xuất, nhưng chất lượng nguồn nhân lực còn là điểm nghẽn. Năng lực lao động chưa theo kịp công nghệ làm hạn chế khả năng chuyển tiến bộ khoa học - công nghệ thành sức sản xuất hiện thực. |
| Cấu trúc lực lượng doanh nghiệp | 70.000 doanh nghiệp (siêu nhỏ >40%; siêu nhỏ theo LĐ 87,8%); doanh nghiệp nông nghiệp <5%. | Phản ánh sự chưa phù hợp giữa yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và phương thức tổ chức sản xuất. Quy mô doanh nghiệp nhỏ, phân tán hạn chế tích tụ nguồn lực, đổi mới công nghệ, liên kết chuỗi và chuyển hóa tiềm năng lực lượng sản xuất thành giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. |
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Báo Điện tử Chính phủ 2025, 2026a, 2026b, 2026c; VCCI và Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, 2026; Cục Thông tin, Thống kê, 2025.
Bảng 1 cho thấy, một trạng thái phát triển chưa đồng đều của lực lượng sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một mặt, năng lực tạo ra sản phẩm lớn, khoa học - công nghệ ngày càng thâm nhập sâu vào sản xuất và phương thức sử dụng tài nguyên từng bước thay đổi. Mặt khác, chất lượng người lao động và các điều kiện tổ chức, liên kết sản xuất chưa phát triển tương xứng. Điều đáng chú ý không chỉ là lực lượng sản xuất đã phát triển đến đâu, mà là mức độ đồng bộ giữa các yếu tố cấu thành và những điều kiện bảo đảm cho sự phát triển đó.
b) Những hạn chế, bất cập trong phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long
Một là, trình độ người lao động chưa theo kịp yêu cầu phát triển khoa học và công nghệ hóa sản xuất. Sản xuất nông nghiệp hiện đại ngày càng đòi hỏi người lao động không chỉ dừng lại ở việc có kinh nghiệm canh tác mà phải có khả năng vận hành công nghệ, sử dụng dữ liệu, quản trị quy trình, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng, môi trường. Trong khi đó, một bộ phận lao động vẫn chủ yếu sản xuất dựa trên kinh nghiệm.
Hai là, trình độ hiện đại hóa của tư liệu lao động và công nghệ còn chưa đồng bộ. Cơ giới hóa và ứng dụng công nghệ không ngừng gia tăng nhưng có sự chênh lệch giữa các ngành hàng, địa bàn và các khâu của chuỗi sản xuất. Nổi rõ là, năng lực bảo quản sau thu hoạch, chế biến sâu và công nghệ tạo giá trị gia tăng chưa tương xứng với năng lực sản xuất nguyên liệu. Điều này cho thấy, lực lượng sản xuất phát triển chưa cân đối: năng lực tạo ra sản phẩm về số lượng tương đối lớn nhưng năng lực nâng cao chất lượng và giá trị của sản phẩm còn hạn chế.
Ba là, trình độ kết hợp giữa người lao động, tư liệu sản xuất và khoa học - công nghệ chưa cao. Máy móc hiện đại hay công nghệ mới tự thân chưa tạo thành lực lượng sản xuất hiện đại nếu không được người lao động làm chủ và không phù hợp với điều kiện sản xuất cụ thể. Sự chênh lệch giữa công nghệ được đưa vào sản xuất với kỹ năng lao động, năng lực đầu tư và khả năng tổ chức vận hành làm cho hiệu quả ứng dụng công nghệ chưa đồng đều. Vì vậy, quá trình chuyển từ sản xuất dựa nhiều vào tài nguyên, đầu vào vật chất và kinh nghiệm sang sản xuất dựa trên tri thức và công nghệ còn chậm.
Bốn là, hình thức tổ chức sản xuất và liên kết kinh tế ở một số nơi chưa theo kịp tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất. Sản xuất phân tán, quy mô nhỏ gây khó khăn cho cơ giới hóa đồng bộ, số hóa, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn hóa sản phẩm. Vấn đề này thuộc phương diện quan hệ sản xuất, nhưng tác động trực tiếp đến khả năng kết hợp và phát huy các yếu tố của lực lượng sản xuất. Khi phương thức tổ chức và liên kết chậm đổi mới, những năng lực mới về công nghệ, vốn và tri thức khó được tích hợp thành sức sản xuất ở quy mô lớn.
Như vậy, hạn chế chủ yếu không phải là sự thiếu hụt riêng lẻ của từng yếu tố mà là sự phát triển chưa đồng bộ giữa người lao động - tư liệu sản xuất - khoa học, công nghệ - phương thức kết hợp và điều kiện tổ chức sản xuất. Đây là điểm nghẽn về chất của lực lượng sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là bổ sung vốn, máy móc hay công nghệ, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng người lao động, hiện đại hóa đồng bộ tư liệu sản xuất và tạo ra phương thức kết hợp hiệu quả giữa các yếu tố, qua đó chuyển những tiềm năng riêng lẻ thành sức sản xuất hiện thực, có năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cao hơn.
c) Những mâu thuẫn chủ yếu trong phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
Sự phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long đang diễn ra trong quá trình chuyển từ mô hình dựa nhiều vào tài nguyên, lao động và gia tăng sản lượng sang mô hình dựa ngày càng nhiều hơn vào tri thức, công nghệ, giá trị gia tăng và hiệu quả sinh thái. Trong quá trình chuyển đổi đó, xuất hiện ba mâu thuẫn chủ yếu.
Một là, mâu thuẫn giữa yêu cầu xã hội hóa, hiện đại hóa và đồng bộ hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với tính phân tán, thiếu đồng bộ của tổ chức sản xuất và các khâu trong chuỗi giá trị nông nghiệp. Cơ giới hóa, công nghệ số, tiêu chuẩn hóa và sản xuất quy mô lớn, đòi hỏi sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ. Trong khi đó, sản xuất còn phân tán, quy mô hộ nhỏ, năng lực bảo quản, chế biến sâu và chuyển hóa phụ phẩm chưa tương xứng với năng lực tạo ra nguyên liệu.
Hai là, mâu thuẫn giữa quá trình tri thức hóa, công nghệ hóa lực lượng sản xuất với năng lực tiếp nhận và làm chủ khoa học - công nghệ của người lao động. Tư liệu lao động ngày càng tích hợp nhiều tri thức, công nghệ và dữ liệu, đòi hỏi người lao động phải có khả năng vận hành thiết bị, quản trị quy trình và đáp ứng các tiêu chuẩn mới. Trong khi đó, một bộ phận lao động vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Đây là mâu thuẫn ngay trong cấu trúc lực lượng sản xuất giữa sự phát triển của tư liệu lao động với trình độ của chủ thể sử dụng. Nếu hiện đại hóa công nghệ không đi cùng nâng cao chất lượng người lao động, lực lượng sản xuất sẽ phát triển thiếu cân đối và công nghệ khó chuyển hóa đầy đủ thành sức sản xuất hiện thực.
Ba là, mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển sức sản xuất với giới hạn và khả năng tái tạo của các điều kiện tự nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Thâm canh, tăng vụ và gia tăng đầu vào góp phần tạo nên năng lực sản xuất lớn, nhưng cũng làm gia tăng sức ép lên đất, nước và hệ sinh thái. Trong khi sản xuất phải khai thác tự nhiên để tạo ra của cải, sự phát triển lâu dài của lực lượng sản xuất lại phụ thuộc vào việc bảo vệ và tái tạo chính những điều kiện tự nhiên ấy. Giải quyết mâu thuẫn này đòi hỏi chuyển từ khai thác tài nguyên theo chiều rộng sang sử dụng tri thức và công nghệ để nâng cao hiệu quả trên một đơn vị nguồn lực và tăng khả năng thích ứng sinh thái.
Ba mâu thuẫn trên có quan hệ chặt chẽ, cùng phản ánh sự phát triển chưa đồng bộ của lực lượng sản xuất nông nghiệp trong quá trình chuyển đổi về chất. Giải quyết các mâu thuẫn này là điều kiện để đồng bằng sông Cửu Long chuyển từ lợi thế về tài nguyên và sản lượng sang lợi thế dựa trên tri thức, công nghệ, giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
d) Định hướng giải pháp phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long
Biến đổi khí hậu đang làm thay đổi sâu sắc các điều kiện tự nhiên của sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long. Hạn hán, xâm nhập mặn, biến động nguồn nước, suy giảm phù sa và sạt lở không chỉ gây thiệt hại trực tiếp mà còn làm thay đổi đất đai, nguồn nước và các đối tượng lao động sinh học. Điều đó làm bộc lộ giới hạn của phương thức phát triển dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, gia tăng đầu vào và sản lượng. Vì vậy, phát triển lực lượng sản xuất trong điều kiện mới phải chuyển trọng tâm sang nâng cao năng lực, làm chủ khoa học - công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thích ứng với các quy luật sinh thái.
Thứ nhất, thúc đẩy chuyển hóa khoa học - công nghệ thành năng lực sản xuất hiện thực. Cần tăng cường nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sinh học, giống thích ứng hạn, mặn, cơ giới hóa, tự động hóa, nông nghiệp chính xác, công nghệ số, dữ liệu và truy xuất nguồn gốc; đồng thời, phát huy hiệu quả Đề án một triệu hécta lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Vấn đề cốt lõi không phải đơn thuần gia tăng số lượng công nghệ mà phải làm cho tri thức khoa học được vật hóa vào công cụ, quy trình và trở thành năng lực thực tế của người sản xuất.
Thứ hai, phát triển người lao động thành chủ thể làm chủ tri thức và công nghệ. Đào tạo cần chuyển từ cung cấp kỹ năng riêng lẻ sang phát triển năng lực tổng hợp về kỹ thuật, dữ liệu, kinh tế nông nghiệp, thương mại điện tử, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và sản xuất phát thải thấp. Qua đó, người nông dân từng bước chuyển từ sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sang sản xuất dựa trên tri thức và khả năng làm chủ công nghệ.
Thứ ba, điều chỉnh hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất. Cần hoàn thiện cơ chế tích tụ, tập trung và liên kết sử dụng đất phù hợp; phát triển hợp tác xã thực chất; tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và tổ chức khoa học - công nghệ. Mục tiêu không phải xóa bỏ kinh tế hộ mà tạo ra phương thức kết hợp hiệu quả hơn các nguồn lực còn phân tán.
Thứ tư, phát triển đồng bộ công nghệ sau thu hoạch và chế biến sâu. Hiện đại hóa phải mở rộng từ khâu sản xuất nguyên liệu sang bảo quản, kho lạnh, sơ chế, chế biến sâu và tận dụng phụ phẩm. Qua đó, khắc phục tình trạng năng lực tạo sản lượng phát triển nhanh hơn năng lực tạo giá trị, chuyển lợi thế về quy mô sản xuất thành lợi thế về chất lượng và giá trị gia tăng.
Thứ năm, chuyển từ khai thác tài nguyên theo chiều rộng sang sử dụng hiệu quả, tái tạo tài nguyên và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Cần phát triển cơ cấu sản xuất phù hợp từng tiểu vùng sinh thái, các mô hình lúa - tôm, lúa - cá, tiết kiệm nước, phát thải thấp, tuần hoàn và tái sử dụng phụ phẩm. Thước đo phát triển phải chuyển từ sản lượng đơn thuần sang năng suất, chất lượng và giá trị tạo ra trên một đơn vị tài nguyên với chi phí sinh thái thấp hơn.
Năm giải pháp nêu trên có quan hệ hữu cơ: vì vậy, phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long thực chất là tạo lập sự phát triển đồng bộ giữa con người - tri thức - khoa học, công nghệ - tư liệu sản xuất - phương thức tổ chức, hướng tới lực lượng sản xuất hiện đại, hiệu quả và thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu.
3. Kết luận
Phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long đang chuyển biến từ mô hình dựa chủ yếu vào tài nguyên, lao động và gia tăng sản lượng sang mô hình dựa ngày càng nhiều hơn vào tri thức, khoa học - công nghệ, giá trị gia tăng và hiệu quả sinh thái; khoa học - công nghệ từng bước trở thành yếu tố trực tiếp nâng cao sức sản xuất; đất, nước và các điều kiện tự nhiên ngày càng được sử dụng hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, lực lượng sản xuất vẫn phát triển chưa đồng bộ. Nổi lên là mâu thuẫn giữa yêu cầu xã hội hóa, hiện đại hóa với tính phân tán và thiếu đồng bộ của tổ chức sản xuất; giữa quá trình tri thức hóa, công nghệ hóa với năng lực làm chủ công nghệ của người lao động; giữa yêu cầu phát triển sức sản xuất với giới hạn và khả năng tái tạo của các điều kiện tự nhiên.
Vì vậy, phát triển lực lượng sản xuất nông nghiệp không thể chỉ dựa vào gia tăng vốn, máy móc hay sản lượng, mà phải nâng cao chất lượng người lao động, thúc đẩy khoa học - công nghệ, hiện đại hóa đồng bộ tư liệu sản xuất, phát triển chế biến và hoàn thiện các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp. Cốt lõi là tạo lập sự kết hợp hiệu quả giữa con người - tri thức - công nghệ - tư liệu sản xuất - điều kiện tự nhiên, qua đó chuyển lợi thế về tài nguyên và sản lượng thành lợi thế về năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
_________________
Ngày nhận bài: 13/9/2026; Ngày bình duyệt: 10/10/2026; Ngày quyết định đăng: 28/9/2026.
Email tác giả: huynhtanhhv4@gmail.com
Tài liệu tham khảo
Báo điện tử Chính phủ (2025). Chủ động sản xuất vụ Đông Xuân 2025 - 2026: Thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng thị trường. https://chinhphu.vn
Báo điện tử Chính phủ (2026a). Nông nghiệp ĐBSCL 2026: Chủ động thị trường, không để bị động đầu ra. https://chinhphu.vn
Báo điện tử Chính phủ (2026b). Báo cáo Kinh tế Thường niên ĐBSCL 2025. https://chinhphu.vn
Báo Điện tử Chính phủ (2026c). Doanh nghiệp phải trở thành “đầu kéo” tăng trưởng mới của ĐBSCL. https://baochinhphu.vn.
Cục Thông tin, Thống kê - Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Công nghệ mở đường cho sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo Chuyên đề Khoa học và Công nghệ.
Thủ tướng Chính phủ (2023). Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 phê duyệt Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”.
VCCI và Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (2026). Báo cáo Kinh tế Thường niên Đồng bằng sông Cửu Long 2025: Phát triển doanh nghiệp - động lực then chốt cho tăng trưởng. https://fsppm.fulbright.edu.vn.