Đào tạo - Bồi dưỡng

Phát triển nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập

02/02/2026 10:41

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.4080
Tóm tắt: Bài viết làm rõ đặc trưng của nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập, từ đó đánh giá thực trạng, phân tích những khó khăn, nguyên nhân và đề xuất những nhiệm vụ, giải pháp mang tính đột phá nhằm phát triển nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và nhu cầu học tập của người dân.

GS, TS LÊ NGỌC HÙNG
Đại học quốc gia Hà Nội

khai-giang-nam-hoc-moi.jpg
Học sinh trường THCS Bình Trị Đông B, TP. Hồ Chí Minh chào đón năm học mới. Ảnh: NGUYỆT NHI.

1. Mở đầu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, giáo dục đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia và nền tảng bảo đảm phát triển bền vững. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong ba đột phá chiến lược, đồng thời là động lực căn bản để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong dòng chảy phát triển đó, yêu cầu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập, mở và liên thông không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là nhiệm vụ cấp bách, nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận công bằng giáo dục cho mọi người dân, thúc đẩy học tập suốt đời và hình thành xã hội học tập.

Tuy nhiên, quá trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, như sự mất cân đối về cơ hội học tập, chất lượng giáo dục chưa đồng đều giữa các vùng miền, hạn chế trong tự chủ và quản trị giáo dục, cũng như áp lực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Do vậy, việc nhận diện đúng thực trạng, phân tích rõ nguyên nhân và xác định được những nhiệm vụ, giải pháp mang tính đột phá có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đây không chỉ là yêu cầu từ thực tiễn phát triển đất nước, mà còn là cơ sở khoa học để định hình chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn mới, bảo đảm sự đồng bộ, hiện đại và hội nhập của toàn hệ thống giáo dục quốc dân.

2. Nội dung

2.1. Đặc trưng của nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng phát triển nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập, bảo đảm đáp ứng nhu cầu học tập của người dân và các yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước. Trong nội dung các nghị quyết: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22- 8-2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo có ba nhóm đặc trưng chủ yếu của nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập, gồm:

Thứ nhất, nền giáo dục quốc dân hiện đại là hệ thống giáo dục mở, liên thông bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, bảo đảm mở rộng cơ hội tiếp cận công bằng giáo dục chất lượng cao ở tất cả các cấp, bậc, trình độ giáo dục và đào tạo, từ giáo dục mầm non đến đào tạo nghề, giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên và học tập suốt đời. Đặc trưng này có thể cụ thể hóa qua những mục tiêu theo từng giai đoạn phát triển của nền giáo dục quốc gia, như: phổ cập giáo dục mẫu giáo, giáo dục bắt buộc hết trung học cơ sở tiến đến hết trung học phổ thông, đào tạo nghề, bảo đảm tăng tỷ lệ người học sau trung học phổ thông; giáo dục đại học, bảo đảm tăng tỷ lệ người nhập học đúng tuổi và tăng tỷ lệ người lao động đạt trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên.

Thứ hai, nền giáo dục quốc dân hiện đại được đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ giáo dục đủ “tâm, tài, tín”; hiện đại hóa, quốc tế hóa với từng bước nâng cao mức độ đạt chuẩn quốc gia, chuẩn quốc tế về cơ sở vật chất, trang thiết bị, trình độ công nghệ, trình độ trí tuệ nhân tạo (AI), trình độ ngoại ngữ, nhất là trình độ tiếng Anh và trình độ nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số gắn với đào tạo và ứng dụng thực tiễn; từng bước tăng tiến để “sánh vai” với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Thứ ba, phát triển nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập bảo đảm mỗi người dân có cơ hội học tập suốt đời, phát triển tối đa tiềm năng cá nhân; bảo đảm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài khoa học, công nghệ và bảo đảm trở thành động lực và lợi thế cạnh tranh cốt lõi của đất nước, góp phần đưa Việt Nam thành nước có thu nhập cao, phát triển bền vững, bao trùm, công bằng, dân chủ, văn minh, hạnh phúc(1).

2.2. Nền giáo dục hiện đại, hội nhập qua phân tích số liệu thống kê

Mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục: tỷ lệ đi học chung giảm và tỷ lệ đi học đúng tuổi tăng

Một đặc trưng cơ bản của sự phát triển nền giáo dục hiện đại, hội nhập là việc mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng thể hiện qua tỷ lệ đi học chung và tỷ lệ đi học đúng tuổi của dân số đạt mức cao. Tỷ lệ đi học chung (Gross Enrollment Ratio - GER) là số lượng học sinh (ở bất kỳ độ tuổi nào) đang học một cấp giáo dục tính trên 100 người trong độ tuổi đến trường của cấp học đó. Tỷ lệ đi học đúng tuổi là số lượng học sinh trong độ tuổi của một cấp học đang học chính cấp học đó tính trên 100 người trong độ tuổi đến trường của cấp học đó(2).

Số liệu thống kê cho thấy, năm 2024, tỷ lệ đi học chung cấp tiểu học là 98,7%; cấp trung học cơ sở là 95,6% và trung học phổ thông là 79,9% (Bảng 1). So sánh thành thị với nông thôn có thể thấy, ở cấp tiểu học, sự khác biệt về tỷ lệ đi học là không đáng kể, nhưng càng lên cấp học cao hơn thì tỷ lệ đi học chung ở nông thôn giảm đi và cách xa so với thành thị. So sánh sáu vùng kinh tế - xã hội, có thể thấy ở cấp tiểu học, tỷ lệ đi học chung tương đối đồng đều (cao nhất là 98,8% và thấp nhất là 97,9%). Tuy nhiên, càng lên cấp học cao thì khoảng cách giữa các vùng miền càng lớn, thí dụ ở cấp trung học cơ sở có vùng đạt tỷ lệ đi học chung là 99,1% nhưng có vùng chỉ đạt 89,9%.

Tình hình cũng tương tự với tỷ lệ đi học đúng tuổi: ở cấp tiểu học, các tỷ lệ này chênh lệch không lớn, điều này chứng tỏ Việt Nam đã đạt trình độ phổ cập giáo dục cấp tiểu học. Ở cấp trung học cơ sở, tỷ lệ đi học đúng tuổi đạt trên dưới 95%, trừ vùng đồng bằng sông Cửu Long với mức thấp nhất là 89,4%, điều này cho thấy Việt Nam đang hoàn thành phổ cập giáo dục. Trong khi đó, tỷ lệ đi học đúng tuổi đã tăng và đạt gần 80% năm 2024. Trong sáu vùng kinh tế - xã hội, vùng đồng bằng sông Hồng đang tiến đến đạt phổ cập giáo dục trung học phổ thông với 93%. Vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt mức thấp nhất là 66,4% (Bảng 1).

Việc phát triển nền giáo dục theo xu thế mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đã góp phần làm tăng tỷ lệ đi học đúng tuổi và giảm tỷ lệ đi học chung và hai loại tỷ lệ này đều đang tiến đến gần nhau, điều này chứng tỏ cơ hội giáo dục đang tăng lên và phân bổ công bằng. Tình hình này đặt ra vấn đề, một mặt củng cố các thành quả phổ cập giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và mặt khác cần hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở và tiến nhanh, mạnh đến phổ cập giáo dục trung học phổ thông.

Biến đổi quy mô và cơ cấu nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập

Thứ nhất, số lượng và tỷ lệ người học ở giáo dục mẫu giáo, giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học đều tăng, nhưng giảm ở cấp giáo dục tiểu học và giáo dục cao đẳng

Căn cứ tính toán số liệu thống kê về giáo dục, Bảng 2 trình bày số lượng và tỷ lệ người học chia theo cấp học và trình độ đào tạo năm 2001, 2013, 2024 và trung bình từ năm 1995 đến năm 2024(3). Số lượng người học được tính là số lượng người học bình quân một năm học của cấp học hoặc trình độ đào tạo tương ứng. Thí dụ năm 2001, tổng số học sinh mẫu giáo 3 tuổi, 4 tuổi, 5 tuổi là 2.212 triệu em được chia cho 3 năm là 737.333 em /một năm mẫu giáo (Bảng 2). Tỷ lệ % so với với tiểu học (=100) được tính bằng cách lấy tổng số học sinh của một năm của một cấp học chia cho tổng số học sinh một năm tiểu học nhân với 100. Thí dụ, lấy số lượng 737.330 học sinh mẫu giáo chia cho số lượng học sinh tiểu học là 1948.220 nhân với 100 được tỷ lệ là 37.8. Số liệu này cho biết: năm 2001, cứ 100 học sinh tiểu học có 37-38 học sinh mẫu giáo (Bảng 2).

Số lượng học sinh các cấp học (giáo dục mẫu giáo, giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông) và đào tạo trình độ đại học đều tăng, trong đó số lượng sinh viên đại học tăng mạnh nhất, gấp trên 2,6 lần: từ gần 225 nghìn người năm 2001 lên trên 589 nghìn người năm 2024, tiếp đến là số lượng học sinh mẫu giáo tăng gấp 1,9 lần: từ trên 737 nghìn người lên gần 1,4 triệu người trong cùng thời gian tương ứng. Tuy nhiên, số lượng học sinh tiểu học không tăng mà giảm từ trên 1,9 triệu người năm 2001 xuống còn gần 1,8 triệu người từ đến năm 2024.

So với số lượng người học trung bình của cả giai đoạn 1995-2024, số lượng học sinh, sinh viên năm 2024 đều tăng cao hơn, ngoại trừ trường hợp giáo dục cao đẳng bị giảm sút. Cụ thể: tổng số sinh viên tốt nghiệp trình độ cao đẳng năm 2024 là gần 139 nghìn người, thấp hơn số lượng trung bình của hai năm 2023-2024 với gần 142 nghìn người, bởi số lượng học sinh tốt nghiệp trình độ cao đẳng năm 2023 cao hơn với trên 144 nghìn người. Do vậy, một cách tương ứng, năm 2024, cứ 100 học sinh/năm tiểu học chỉ có gần 8 sinh viên tốt nghiệp trình độ cao đẳng, thấp hơn số lượng trên 8 sinh viên tốt nghiệp trình độ cao đẳng tính trung bình cho năm 2023-2024.

Tỷ lệ phần trăm (%) so với số lượng 100 học sinh tiểu học (=100) cho biết, cứ 100 học sinh một năm tiểu học năm 2001 thì có 11-12 sinh viên đại học, trên 37 học sinh trung học phổ thông, trên 75 học sinh trung học cơ sở và gần 38 học sinh mẫu giáo trong cùng năm 2001. Các số liệu này đều tăng lên, trong đó số lượng sinh viên đại học tăng gần gấp ba lần đến trên 33 sinh viên năm 2024 và số học sinh mẫu giáo tăng gấp đôi từ gần 38 người đến gần 78 người (Bảng 2).

Thứ hai, nền giáo dục quốc dân có sự biến đổi hình tháp

Căn cứ tỷ lệ phần trăm các cấp học và trình độ đào tạo (so với học sinh tiểu học =100) tính trung bình cho cả giai đoạn 1995-2024 và năm 2024 có thể sơ đồ hóa được hai hình tháp của nền giáo dục quốc dân (H1 và H2). Cả hai hình tháp đều cho thấy sáu cấp học và trình độ đào tạo từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học đều có đáy hẹp và càng lên trên càng nhỏ và bị “thắt lại” ở trình độ giáo dục cao đẳng rồi tăng lên ở giáo dục đại học. Hình tháp giáo dục quốc dân biến đổi theo xu thế tăng tỷ lệ % so với giáo dục tiểu học (=100.0) đối với tất cả các cấp giáo dục và trình độ đào tạo, ngoại trừ giáo dục nghề nghiệp trình độ cao đẳng bị giảm nhẹ từ 8,7% (H1) xuống còn 7,8% (H2).

Với việc mở rộng cơ hội giáo dục và đào tạo, sự phát triển nền giáo dục quốc dân của Việt Nam sẽ trở nên bền vững hơn với nền tảng giáo dục mẫu giáo tăng từ mức trung bình 62% năm 1995-2024 lên 77,6% năm 2024 và cần tiếp tục tăng mạnh thêm nữa để đạt mức phổ cập (trên 95%) trong thời gian tới. Giáo dục trung học cơ sở đang tiến đến mức phổ cập với mức trên 95%. Cơ hội tiếp cận giáo dục trung học phổ thông đã được mở rộng và tăng từ 49% lên 56,1% và sẽ tiếp tục tăng để đạt mức của giáo dục phổ thông bắt buộc, tiến tới phổ cập giáo dục trung học phổ thông.

Những điều này có thể trái ngược với kỳ vọng của xã hội và nỗ lực xây dựng nền giáo dục hiện đại, hội nhập, đến nay giáo dục nghề nghiệp chậm phát triển đến mức số lượng và tỷ lệ người tốt nghiệp trình độ cao đẳng không tăng mà thậm chí có nguy cơ giảm sút và nhìn chung chiếm một tỷ lệ rất nhỏ: cứ 100 học sinh /năm tiểu học chỉ có trên dưới 8 người tốt nghiệp trình độ cao đẳng hàng năm. Giáo dục đại học đang tăng lên và đến năm 2024 cứ 100 học sinh tiểu học có trên 33 sinh viên đại học (H2), cao hơn mức trung bình gần 26 sinh viên của cả giai đoạn 2001-2024 (H1).

Các đầu ra của nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập góp phần tạo động lực phát triển nhanh, bền vững đất nước

Thứ nhất, nâng cao dân trí nhưng vẫn còn chênh lệch lớn giữa các vùng kinh tế - xã hội

Một mục tiêu hàng đầu của nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập là nâng cao dân trí. Tính đến ngày 1-4-2024, trong dân số từ 15 tuổi trở lên của Việt Nam, chỉ có 10,6% dân số “chưa tốt nghiệp tiểu học” và trong số gần 90% “đã tốt nghiệp tiểu học” có 40% “tốt nghiệp trung học phổ thông” trở lên (Bảng 3). Chênh lệch về trình độ học vấn giữa thành thị và nông thôn còn cao, ví dụ có tới 13,6% dân số thành thị “chưa tốt nghiệp tiểu học” nhiều hơn gấp đôi so với tỷ lệ 6% dân số ở thành thị. Sự chênh lệch về trình độ dân trí còn rất cao giữa các vùng kinh tế - xã hội, thí dụ có tới 20,7% dân số trên 15 tuổi ở đồng bằng sông Cửu Long chưa tốt nghiệp tiểu học, nhiều hơn gấp sáu lần so với tỷ lệ 3,3% ở đồng bằng sông Hồng. Dân số đã tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên ở đồng bằng sông Hồng là 52,3% gấp hơn hai lần so với vùng đồng bằng sông Cửu Long (23,5%).

Thứ hai, đào tạo nhân lực trình độ cao cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, nhưng vẫn còn chênh lệch lớn giữa các vùng kinh tế - xã hội

Trong tổng dân số từ 15 tuổi trở lên của Việt Nam vẫn còn 73,6% không có trình độ chuyên môn kỹ thuật và trong số 26,4% còn lại chỉ có 11,6% có trình độ đại học trở lên (Bảng 4). Cấu trúc trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân số từ 15 tuổi trở lên của Việt Nam là: cứ 1 người trình độ đại học thì có 1,3 người trình độ kỹ thuật (sơ cấp, trung cấp hoặc cao đẳng) và 6,3 người không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong sáu vùng kinh tế - xã hội, vùng đồng bằng sông Cửu Long có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp nhất với 84% dân số từ 15 tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật và trong số 16% còn lại chỉ có 6,8% có trình độ đại học trở lên (Bảng 4).

Cấu trúc trình độ chuyên môn kỹ thuật của dân số từ 15 tuổi trở lên của vùng đồng bằng sông Cửu Long là: cứ 10 người có trình độ đại học trở lên thì có 28 người có trình độ chuyên môn kỹ thuật và trên 120 người không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Chênh lệch về tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có trình độ đại học trở lên giữa vùng đồng bằng sông Hồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long là gần 2,3 lần.

Khó khăn, hạn chế trong phát triển nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập

Để có thể phát triển được nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập cần “nhìn thẳng, nhìn thật” và đánh giá thật đúng những khó khăn, nguyên nhân và đề ra những nhiệm vụ, giải pháp để giải quyết những vấn đề đặt ra.

Các văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW đã chỉ rõ những khó khăn, hạn chế cơ bản của giáo dục và đào tạo, cơ bản trên các chiều cạnh sau: Thứ nhất, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu. Thứ hai, cơ sở vật chất trường, lớp, trang thiết bị, kỹ thuật, công nghệ còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn. Thứ ba, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục và phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục còn lạc hậu, thiếu thực chất; giáo dục đạo đức, thể chất, thẩm mỹ chưa được quan tâm đúng mức và chưa hiệu quả. Thứ tư, hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các hình thức giáo dục, đào tạo. Thứ năm, hệ thống giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp phát triển manh mún, lạc hậu; thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; thiếu gắn kết với ứng dụng, sản xuất, kinh doanh và thị trường lao động, việc làm. Thứ sáu, hiện tượng tiêu cực, bệnh hình thức, bệnh thành tích trong giáo dục và đào tạo còn phổ biến, gây bức xúc xã hội.

Các khó khăn, hạn chế này gây ra những hệ lụy và những vấn đề cản trở sự phát triển cần phải được giải quyết. Trong số đó, nổi bật là những vấn đề: Thứ nhất, cơ hội tiếp cận giáo dục mặc dù được mở rộng nhưng vẫn còn thấp và còn bất bình đẳng giữa các vùng kinh tế - xã hội và nhất là giữa các giai tầng xã hội; Thứ hai, chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đáp ứng chưa đầy đủ nhu cầu học tập của người dân, nhất là trong xu thế học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; Thứ ba, giáo dục và đào tạo cùng với khoa học, công nghệ chưa thực sự trở thành động lực then chốt cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số.

Đồng thời, các Nghị quyết trên đã phân tích, chỉ rõ bốn nhóm nguyên nhân cơ bản, chủ yếu của những khó khăn, hạn chế trong phát triển nền giáo dục quốc dân, gồm: Thứ nhất, chưa nhận thức và thực hiện đầy đủ, quyết liệt quan điểm về giáo dục và đào tạo là “quốc sách hàng đầu”, là “sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân”; Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu đúng và chưa được thực hiện đúng, thí dụ có nơi, có lúc còn xem nhẹ giáo dục đạo đức, chưa chú trọng giáo dục thẩm mỹ và nhất là chưa coi trọng giáo dục thể chất; Thứ hai, tư duy về quản lý giáo dục và phát triển giáo dục chậm đổi mới, quan niệm về tự chủ chưa đúng và cách tiếp cận xã hội hóa giáo dục chưa phù hợp; còn nhiều biểu hiện của cách nghĩ, cách làm mang tính bao cấp với tư duy nặng nề “không quản được thì cấm”, làm hạn chế khả năng huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển nền giáo dục hiện đại, hội nhập. Thứ ba, chế độ, chính sách đối với nhà giáo còn bất cập, chưa kịp thời đổi mới, chưa được hoàn thiện; nguồn lực đầu tư cho giáo dục còn thấp, chính sách phân bổ nguồn lực thiếu hợp lý, chính sách sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả, cơ chế tài chính thiếu bền vững; đặc biệt là thiếu chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; thiếu cơ chế gắn kết nghiên cứu với giáo dục, đào tạo và ứng dụng thực tiễn trong khi “hành chính hóa” nặng nề đối với các hoạt động chuyên môn giáo dục và hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Thứ tư, tâm lý trọng danh vị trong xã hội còn nặng nề, chính sách sử dụng cán bộ còn coi trọng bằng cấp hơn thực lực, các quy định đo lường và đánh giá trong giáo dục và khoa học còn nặng về các tiêu chuẩn, tiêu chí mang tính hình thức, thiếu thực chất, thiếu giá trị mới có ích cho sự phát triển con người và phát triển nhanh, bền vững.

2.3. Giải pháp phát triển nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập trong kỷ nguyên phát triển mới

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước gắn liền với đổi mới tư duy về giáo dục và đổi mới tư duy quản lý giáo dục theo hướng phục vụ, kiến tạo sự phát triển.

Thứ hai, đổi mới thể chế, chính sách huy động các nguồn lực ưu tiên đầu tư hiệu quả phát triển giáo dục.

Thứ ba, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập, học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập; coi trọng giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ, văn hóa, nghề nghiệp và xây dựng con người mới Việt Nam.

Thứ tư, đột phá phát triển giáo dục gắn với nghiên cứu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, siêu trí tuệ và ứng dụng thực tiễn đổi mới, khởi nghiệp và phát triển.

Thứ năm, phát triển đội ngũ nhà giáo bảo đảm thực hiện đầy đủ vai trò quyết định trong bảo đảm chất lượng giáo dục từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học.

Thứ sáu, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đủ tâm, tài, tín để phục vụ, kiến tạo nền giáo dục hiện đại, hội nhập trở thành động lực then chốt cho sự phát nhanh, bền vững đất nước.

Thứ bảy, tập trung xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp, trang thiết bị giáo dục, bao gồm cả hạ tầng số bảo đảm đáp ứng yêu cầu hiện đại, hội nhập.

Thứ tám, hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, bảo đảm đào tạo nhân lực trình độ cao và bồi dưỡng nhân tài.

Thứ chín, chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế sâu rộng, hiệu quả trong giáo dục, gắn với nghiên cứu và ứng dụng phát triển đất nước.

Thứ mười, đổi mới cơ chế, chính sách, quản lý phát triển nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập trên một số cấp học và trình độ đào tạo theo các hướng sau:

Đối với giáo dục mầm non, cần tập trung mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục theo hướng củng cố thành quả phổ cập giáo dục mẫu giáo cho trẻ 5 tuổi, thực hiện phổ cập giáo dục mẫu giáo cho trẻ 4 tuổi, trẻ 3 tuổi và tăng nhanh cơ hội giáo dục nhà trẻ.

Đối với giáo dục phổ thông, song song với việc thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông (2018), cần củng cố thành tựu phổ cập giáo dục tiểu học, nâng cao mức độ phổ cập giáo dục trung học cơ sở và từng bước tiến tới phổ cập giáo dục trung học phổ thông trên cơ sở thực hiện bộ sách giáo khoa phổ thông miễn phí trong cả nước.

Đối với giáo dục nghề nghiệp, cần đổi mới và phát triển hệ thống đào tạo nghề sau trung học phổ thông vừa nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập và vừa tiến tới đào tạo nghề trình độ cao gắn với công nghệ hiện đại, hội nhập, ví dụ công nghệ số hóa với bậc trình độ cao nhất trong khung trình độ quốc gia. Rất cần thiết đổi mới thể chế, chính sách để thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển đào tạo nghề trình độ cao gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và xây dựng xã hội học tập như một cách tiếp cận mới trong tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.

Đối với giáo dục đại học, tiếp tục thực hiện mục tiêu mở rộng cơ hội tiếp cận công bằng giáo dục đại học bảo đảm tiếp tục tăng số lượng sinh viên đại học trên 10.000 dân, từ 173 người năm 2019 lên gần 235 người năm 2023 và tăng đến 260 người năm 2030. Đồng thời, cần đổi mới mạnh thể chế, chính sách đầu tư theo hướng phát triển hệ thống giáo dục đại học hiện đại, hội nhập theo mô hình gắn kết đào tạo với nghiên cứu và ứng dụng, theo hướng đẩy mạnh nghiên cứu, đào tạo và vận dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của thế giới vào các cơ sở giáo dục đại học để tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

3. Kết luận

Phát triển nền giáo dục quốc dân theo hướng hiện đại, hội nhập, mở và liên thông là con đường tất yếu để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài và nâng tầm trí tuệ quốc gia. Đây cũng là điều kiện căn bản để Việt Nam nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong những thập niên tới.

Để thực hiện được mục tiêu đó, cần triển khai đồng bộ các giải pháp: hoàn thiện thể chế giáo dục mở và liên thông; đổi mới căn bản công tác quản trị giáo dục; tăng cường tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục; phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng chuẩn nghề nghiệp mới; nâng cấp cơ sở vật chất - hạ tầng công nghệ; bảo đảm cơ hội học tập công bằng cho mọi người dân và thúc đẩy mạnh mẽ học tập suốt đời. Bên cạnh đó, việc tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục và nâng cao chất lượng đánh giá độc lập cũng sẽ tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy hệ thống giáo dục quốc dân tiệm cận các chuẩn mực khu vực và thế giới.

Với tầm nhìn chiến lược, quyết tâm chính trị cao và sự đồng thuận của toàn xã hội, nền giáo dục Việt Nam hoàn toàn có thể chuyển mình mạnh mẽ, trở thành trụ cột của phát triển bền vững, góp phần xây dựng một quốc gia thịnh vượng, dân chủ và văn minh trong thời đại mới.

_________________

Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng

Ngày nhận bài: 17-11-2025; Ngày bình duyệt: 27-12-2025; Ngày duyệt đăng: 05-01-2026.

Email tác giả: lengochungvnu2021@gmail.com

(1) Lê Ngọc Hùng: Lý thuyết các khoa học giáo dục: Học tập, Lãnh đạo, Hành chính, Quản lý, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, năm 2025.

(2) Tổng cục Thống kê: Kết quả chủ yếu điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ: Thời điểm 0 giờ ngày 01-4-2024, Nxb Thống kê, Hà Nội.

(3) Cục Thống kê: Số liệu thống kê truy cập tại https://www.nso.gov.vn/giao-duc/ ngày 2-11-2025.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Phát triển nền giáo dục quốc dân hiện đại, hội nhập
    POWERED BY