DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.4340
Tóm tắt: Trên cơ sở luận giải gia đình là “tế bào của xã hội” và những thách thức đương đại (nghèo đa chiều, bất bình đẳng giới, bạo lực gia đình, già hóa), bài viết phân tích, làm rõ làm rõ hệ giá trị gia đình và định hướng “xây dựng văn hóa gia đình” theo tinh thần Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV, đồng thời đề xuất hàm ý chính sách, bộ chỉ báo theo dõi, nhằm hiện thực hóa hệ tiêu chí gia đình trong giai đoạn mới.
TS BÙI PHƯƠNG ĐÌNH
Học viện Hành chính và quản trị công
PGS, TS LÊ THỊ THANH HÀ
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Mở đầu
Gia đình là “tế bào của xã hội”, nơi duy trì nòi giống, là không gian lưu giữ, giáo dục và trao truyền các giá trị văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại cho từng thành viên. Trong giai đoạn phát triển mới, khi mục tiêu quốc gia chuyển mạnh sang “phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”, việc hoàn thiện hệ tiêu chí xây dựng gia đình mang ý nghĩa nền tảng. Tiêu chí gia đình không chỉ là “đích đến” của chính sách xã hội mà còn là “động lực” nội sinh thúc đẩy chất lượng nguồn nhân lực, gắn kết xã hội và năng suất lao động dài hạn, những động lực thật sự cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Quan tâm đến gia đình là đúng, vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt(1) và ngược lại. Để xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa cần có những gia đình mới và những con người mới. Tư tưởng của Người đã được Đảng và Nhà nước ta quán triệt và cụ thể hóa thành các tiêu chí cụ thể trong nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng, trong các bộ luật và chiến lược, kế hoạch xây dựng gia đình trong đổi mới.
2. Nội dung
2.1. Quá trình hình thành và phát triển tiêu chí xây dựng gia đình qua các kỳ Đại hội Đảng
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII (năm 1991) thông qua, Đảng ta nêu tiêu chí: xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ. Đến ngày 12-7-1993, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 04-NQ/TW về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới. Nghị quyết khẳng định: Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. So với Đại hội VII, Nghị quyết 04/NQ-TW đã bổ sung tiêu chí xây dựng gia đình: bình đẳng và hạnh phúc, bỏ tiêu chí hòa thuận. Điều này là phù hợp với sự phát triển về mặt lý luận vì tiêu chí “bình đẳng” và “hạnh phúc” đã bao hàm cả hòa thuận.
Tại Đại hội VIII, tiêu chí xây dựng gia đình được Đảng ta khẳng định: Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Các tiêu chí này tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng: Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội. Tại Đại hội XI, Đảng ta xác định tiêu chí gia đình là: Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc. Đồng thời: Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; thực hiện tốt bình đẳng giới, sự tiến bộ của phụ nữ; chăm sóc, giáo dục và bảo vệ quyền trẻ em. Điều này cho thấy, Văn kiện của Đảng đã bổ sung vai trò của phụ nữ, sự tiến bộ của phụ nữ, yêu cầu thực hiện bình đẳng giới từ trong gia đình và chăm sóc, bảo vệ quyền của trẻ em đã được quan tâm trong xây dựng gia đình ở thời kỳ này.
Cụ thể hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội XI, ngày 29-5-2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 629/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Một trong những quan điểm của Chiến lược là: Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc. Tại Ðại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh: Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Điểm phát triển so với Đại hội XI là xây dựng gia đình Việt Nam văn minh. Đây là quan điểm đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại trong bối cảnh Việt Nam đã tiến hành hội nhập quốc tế sâu rộng. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh cần: thực hiện các chuẩn mực văn hóa gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh; đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ.
Triển khai quan điểm của Đại hội XIII, ngày 24-6-2021, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới. Chỉ thị nêu rõ: Công tác xây dựng gia đình vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, môi trường lưu giữ, giáo dục, trao truyền các giá trị văn hóa dân tộc cho các thành viên trong gia đình. Xây dựng gia đình hạnh phúc chính là tạo nền tảng để xây dựng xã hội hạnh phúc, là vấn đề hết sức hệ trọng của dân tộc ta. Chỉ thị đặt ra yêu cầu về xây dựng, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới; xây dựng Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam giai đoạn 2021-2030, định hướng đến năm 2045. Mục tiêu chung của Chiến lược là: Xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội.
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV (bản điện tử công bố ngày 15-10-2025) khẳng định hệ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc là: hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Về gia đình, dự thảo báo cáo chính trị đã chỉ ra hạn chế tồn tại nhiều năm nhưng chưa được khắc phục đó là: chậm xác định hệ giá trị gia đình(2). Hạn chế này liên quan và có tác động lớn đến văn hóa gia đình, đến văn hóa lối sống của một bộ phận nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Từ đó Dự thảo đã đề ra các tiêu chí: ...tích cực xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, văn minh, ấm no, hạnh phúc
“Tiến bộ, Văn minh”: nội hàm văn hóa - tri thức - chuẩn mực hiện đại
“Văn minh” bao gồm tri thức, công nghệ, đạo đức, văn hóa; gắn với việc kế thừa giá trị truyền thống và tiếp thu tinh hoa mới của nhân loại. Ở bình diện gia đình, “văn minh” thể hiện qua đối thoại tôn trọng, lắng nghe khác biệt, nuôi dưỡng đạo đức số, phòng, chống tệ nạn, thái độ học tập suốt đời và bảo tồn văn hóa tốt đẹp(3). Như nhiều nghiên cứu gợi ý, nội hàm “văn minh” bao hàm phần “tiến bộ”, do vậy có thể rút gọn tiêu chí theo hướng dễ truyền thông, không làm mất nội dung cốt lõi.
“Ấm no”: nền tảng vật chất và an sinh xã hội
“Ấm no” gắn với mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bảo đảm tiếp cận dịch vụ cơ bản (giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin) và an sinh theo chu kỳ sống gia đình. Công tác giảm nghèo của nước ta thời gian qua cho thấy kết quả tích cực: tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống còn 1,3% năm 2025. Tuy nhiên tỷ lệ hộ cận nghèo đa chiều toàn quốc còn 7,52%; riêng vùng dân tộc thiểu số cao gấp khoảng 3,5 lần mức chung, phản ánh thách thức lớn đối với “ấm no”(4). Vì vậy, tiêu chí “ấm no” vẫn là đòi hỏi trọng yếu trong bối cảnh phấn đấu “giàu mạnh, phồn vinh”(5).
“Gia đình hạnh phúc”: tế bào của xã hội hạnh phúc
Tiêu chí xây dựng gia đình “hạnh phúc” là phù hợp với khát vọng ngàn đời của dân tộc Việt Nam và khi đặt tên nước cũng như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nước Việt Nam: “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Theo đó, gia đình hạnh phúc là “tế bào” lành mạnh cho một xã hội hạnh phúc. Khi từng gia đình hạnh phúc, xã hội sẽ hạnh phúc. Xây dựng gia đình hạnh phúc không chỉ mang lại lợi ích cho từng thành viên trong gia đình mà còn góp phần vào mục tiêu: “nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”. Dự thảo văn kiện Đại hội XIV đã chính thức đưa tiêu chí “hạnh phúc” vào mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc Việt Nam(6).
2.2. Đề xuất bổ sung tiêu chí “bình đẳng” trong tiêu chí xây dựng gia đình trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc
Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc mang đến nhiều đặc điểm nổi bật phản ánh sự chuyển mình mạnh mẽ và phát triển toàn diện của xã hội và gia đình. Trong kỷ nguyên mới này, dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, Việt Nam xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Để đạt được điều này, cần sự chung tay của toàn xã hội, trong đó có gia đình - “tế bào” của xã hội.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, các quốc gia và khu vực ngày càng gắn kết, tạo điều kiện, tiền đề cho nhau phát triển. Việt Nam đã tham gia công ước về bình đẳng giới, đặc biêt là công ước CEDAW - Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ và 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc, trong đó có mục tiêu số 5 và 10 về bình đẳng giới. Trong kỷ nguyên phát triển mới, giáo dục không chỉ tập trung vào kiến thức mà còn chú trọng đến kỹ năng, tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi với thay đổi mà còn cần sự gắn kết chặt chẽ giữa gia đình và xã hội... Vì vậy, vai trò của gia đình, của phụ nữ trong gia đình và xã hội là rất lớn trong kỷ nguyên mới. Để xây dựng gia đình trở thành “tế bào” lành mạnh của xã hội rất cần đến sự “bình đẳng” trong gia đình. Cụ thể:
Một là, gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững đất nước. Để xã hội phát triển bền vững thì gia đình cũng cần phát triển bền vững. Mà muốn phát triển bền vững thì mục tiêu xây dựng gia đình “bình đẳng”, đặc biệt vợ - chồng; mẹ chồng - con dâu; con trưởng - con thứ; con trai - con gái cần phải được đối xử bình đẳng trong gia đình. Bình đẳng không chỉ trong mối quan hệ giới tính giữa người vợ - người chồng mà còn được tiếp nối trong mối quan hệ và cư xử giữa ông bà, cha mẹ với con trai hay con gái. Trong xã hội hiện đại, đi cùng với nền giáo dục chú trọng xây dựng nhân cách con người, phát triển con người toàn diện thì cần chú ý xây dựng mối quan hệ gia đình vừa dựa trên các giá trị truyền thống về kính trên, nhường dưới, vừa có sự bình đẳng giữa các thế hệ trong các quyết định của gia đình, nhất là các quyết định liên quan trực tiếp đến thế hệ trẻ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới bình đẳng giới trong xã hội và gia đình. Hiến pháp năm 1946 do Người làm Trưởng ban soạn thảo cũng “tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới: phụ nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân”(7). Hồ Chí Minh khẳng định rằng, sự phát triển của đất nước không thể thiếu sự đóng góp của phụ nữ và việc bình đẳng giới cần được thể hiện qua giáo dục, việc làm, gia đình và sự tham gia tích cực của phụ nữ trong các hoạt động xã hội và chính trị.
Quyền bình đẳng của phụ nữ không chỉ được hiến định tại Hiến pháp, mà còn được chú trọng khi xây dựng Luật Hôn nhân và gia đình. Năm 1959, khi Luật Hôn nhân và gia đình lần đầu tiên được Quốc hội thông qua, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Luật Hôn nhân và gia đình có quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta. Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình đẳng, gia đình thật sự hạnh phúc”(8). Để tiến tới bình đẳng nam, nữ một cách thực sự, theo Hồ Chí Minh cần phải thực hiện bình đẳng nam, nữ từ gia đình, hạt nhân của xã hội, phải giải phóng phụ nữ thoát khỏi sự bất công trước hết từ chính gia đình của họ. Bình đẳng nam, nữ trong gia đình chính là cơ sở cho bình đẳng nam, nữ ngoài xã hội, bởi khi được quan tâm, chia sẻ công việc và được tạo điều kiện thuận lợi, người phụ nữ sẽ có điều kiện tham gia những hoạt động xã hội, phát triển kinh tế - chính trị - xã hội để phát huy hết tài năng, trí tuệ của mình, như vậy mới thật là bình đẳng và mới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Hai là, trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, vấn đề bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong gia đình chưa được nhắc tới, trong khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định cần lồng ghép giới và đánh giá tác động giới trong các văn bản luật. Nhưng luật là cụ thể hóa chủ trương của Đảng, do vậy cần có chủ trương về bình đẳng giới, trước hết là bình đẳng giới trong gia đình sẽ là cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình và các lĩnh vực khác.
Ba là, ngày nay, tình trạng bạo lực gia đình ở Việt Nam vẫn còn khá phổ biến và đây là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ ly hôn cao trong những năm gần đây. Báo cáo Điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 cho thấy, cứ 03 phụ nữ thì có gần 02 phụ nữ (khoảng 63%) bị một hoặc hơn một hình thức bạo lực: thể xác, tình dục, tinh thần và bạo lực kinh tế. Gần 6.000 phụ nữ trong độ tuổi từ 15 - 64 được phỏng vấn và kết quả cho thấy ở Việt Nam hầu hết bạo lực đối với phụ nữ thường do chồng gây ra. Ở Việt Nam, phụ nữ bị chồng bạo lực nhiều hơn so với việc bị người khác bạo lực. Đặc biệt, tỷ lệ phụ nữ bị chồng bạo lực tình dục trong đời năm 2019 (13,3%) cao hơn so với năm 2010 (9,9%). Đồng thời, theo báo cáo, năm 2023 có hơn 3.100 hộ xảy ra bạo lực gia đình với hơn 3.200 vụ (năm 2002 hơn 4.400 vụ). Trong đó, bạo lực thân thể xảy ra nhiều nhất: 1.520 vụ, tiếp đến là bạo lực tinh thần 1.400 vụ, bạo lực kinh tế 230 vụ và bạo lực tình dục 110 vụ. Nhiều vụ xung đột khi phân chia tài sản trong gia đình có nguyên nhân từ bất bình đẳng trong gia đình như trọng nam, khinh nữ... Những con số bất bình đẳng trong gia đình nêu trên cho thấy, việc bổ sung tiêu chí “bình đẳng” trong mục tiêu xây dựng gia đình vào Văn kiện Đại hội đại biểu XIV là cần thiết.
Bốn là, các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình có nguyên nhân từ bất bình đẳng giới vẫn còn nhiều, nhất là các gia đình dân tộc thiểu số. Chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh cao là do còn tình trạng trọng nam, khinh nữ. Bản chất của điều này là do bất bình giới, trước hết là trong gia đình. Tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh còn cao (năm 2023 là 112 bé trai/100 bé gái). Ở một số vùng dân tộc thiểu số vẫn có tình trạng tảo hôn: dân tộc Mông có tỷ lệ tảo hôn cao nhất với 51,5% dân số kết hôn trước tuổi quy định, tiếp đến là dân tộc Cơ Lao (47,8%), Mảng (47,2%), Xinh Mun (44,8%). Một số dân tộc có tỷ lệ tảo hôn thấp (dưới 7%) như: Hoa, Tày, Thổ, Si La.... Điều này gây những ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe bà mẹ, trẻ em; làm suy giảm chất lượng dân số; nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi; và là một trong những lực cản thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.
Từ những phân tích, dẫn chứng và lập luận trên, cần thiết bổ sung tiêu chí xây dựng gia đình trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc là: “ấm no, bình đẳng, tiến bộ, văn minh, hạnh phúc”. Hệ tiêu chí về gia đình này vừa hướng tới mục tiêu giàu mạnh, phồn vinh, vừa bảo đảm mọi gia đình được hạnh phúc, xây dựng gia đình kế thừa thành tựu giá trị văn hóa của nhân loại, vừa tiếp nối được truyền thống gia đình giàu văn hiến của Việt Nam.
2.3. Hàm ý chính sách và khung giám sát chính sách
Gia đình là đơn vị căn bản làm phát sinh và nội sinh hóa chuẩn mực, nghĩa vụ và vốn xã hội. Các chuẩn mực được “học” đầu tiên trong gia đình định hình hành vi công dân, lựa chọn giáo dục nghề nghiệp và năng lực hợp tác(9). Nếu gia đình được bảo đảm nền tảng ấm no (dịch vụ, sinh kế), được trang bị kỹ năng (làm cha mẹ, đối thoại, văn minh số), được bảo vệ bởi thể chế bình đẳng (pháp luật, chuẩn mực) và được dẫn dắt bởi hệ giá trị gia đình rõ ràng, thì hành vi tích cực sẽ gia tăng, bạo lực giảm, hạnh phúc cải thiện và năng suất xã hội tăng. Đầu vào gồm tài chính công, nguồn nhân lực công tác xã hội, học liệu mở, hạ tầng số và khung pháp lý. Hoạt động gồm truyền thông thay đổi hành vi, đào tạo kỹ năng, cung cấp dịch vụ chăm sóc, tư vấn, hòa giải, bảo vệ nạn nhân. Đầu ra là số lượng về dịch vụ, người thụ hưởng, ca bạo lực được xử lý. Kết quả trung gian là tăng thời gian cha mẹ chất lượng với con, tăng tỷ lệ chia sẻ việc nhà, giảm bạo lực, tác động hướng tới gia đình hạnh phúc, xã hội văn minh. Do đó, chính sách gia đình có tác động lan tỏa sang hiệu quả giáo dục, y tế, an sinh, thị trường lao động và quản trị trong tương lai. Đây chính là căn cứ cho việc xây dựng chính sách xã hội theo vòng đời. Hoàn toàn có thể khẳng định rằng, những chính sách đúng đắn cho gia đình trong giai đoạn hiện nay sẽ có tác động quyết định đến thành công của thế hệ trẻ trong tương lai, qua đó tác động mạnh mẽ đến việc đạt được các mục tiêu phát triển đất nước năm 2030 và năm 2045.
Đề xuất bộ chỉ báo theo dõi - đánh giá
Thứ nhất, nhóm ấm no: “Tỷ lệ hộ có tiếp cận đủ 5 dịch vụ cơ bản” được tính bằng số hộ đáp ứng ngưỡng tối thiểu từng dịch vụ (giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin) trên tổng số hộ; “Khả năng chống chịu” đo bằng chỉ số tổng hợp gồm dự phòng tài chính, bảo hiểm, mạng lưới hỗ trợ xã hội.
Thứ hai, nhóm hạnh phúc: “Chỉ số hài lòng cuộc sống gia đình” đo bằng thang 0–10; “Tỷ lệ bạo lực gia đình” phân theo bạo lực thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế.
Thứ ba, nhóm bình đẳng: “Quyền quyết định tài chính hộ” đo bằng tỷ lệ quyết định chung; “Tỷ lệ nam giới nghỉ chăm con” đo theo % cha có nghỉ trong 12 tháng đầu sau sinh; “Sử dụng dịch vụ chăm sóc” đo bằng % hộ có sử dụng dịch vụ chính quy cho trẻ/người cao tuổi; “Thời gian việc nhà không trả công theo giới” đo bằng phút/ngày.
Thứ tư, nhóm văn minh: “Văn minh gia đình” đo bằng bộ hành vi: (i) thực hành văn hóa gia đình (hiếu - nghĩa - nhân ái - kỷ cương); (ii) tham gia học tập suốt đời; (iii) tham gia cộng đồng; (iv) tuân thủ pháp luật; (v) hành vi văn minh số; không phát tán thù ghét, tôn trọng quyền riêng tư, đối thoại thay vì mạt sát, kiểm soát thời gian màn hình; “Tham gia học tập suốt đời” đo bằng số giờ học/năm của người lớn trong gia đình.
Cụm tiêu chí “ấm no, bình đẳng, văn minh, hạnh phúc” là nền tảng, nhưng để trở thành “hệ điều hành” của gia đình Việt Nam thời kỳ mới, cần tiếp tục thử nghiệm chính sách dựa trên bằng chứng tại địa phương; đánh giá tác động đối sánh; phát triển bộ công cụ giảng dạy hệ giá trị gia đình theo độ tuổi; và nghiên cứu liên ngành về hạnh phúc gia đình trong bối cảnh số hóa. Những bước tiếp theo gồm xây dựng chuẩn dữ liệu mở về gia đình, thử nghiệm chỉ số hạnh phúc gia đình và tích hợp kết quả vào hoạch định chính sách xã hội quốc gia.
3. Kết luận
Gia đình là không gian khởi nguồn của hệ giá trị, là động lực nội sinh cho phát triển bền vững. Việc chuẩn hóa và vận hành cụm tiêu chí “ấm no, bình đẳng, văn minh, hạnh phúc” - song hành với xây dựng văn hóa gia đình và làm rõ hệ giá trị gia đình Việt Nam thời kỳ mới sẽ góp phần hiện thực hóa mục tiêu một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Cách tiếp cận này kế thừa các quan điểm chủ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về gia đình, phù hợp bối cảnh mới, tạo nền tảng chung và tiếp nối giữa tư duy lý luận với tổng kết thực tiễn và hoạch định triển khai chính sách gia đình nói riêng và chính sách xã hội nói chung trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
_________________
Bài đăng trên số đặc biệt năm 2026 chào mừng Đại hội XIV của Đảng
Ngày nhận bài:14-12-2025; Ngày bình duyệt: 26-12-2025; Ngày duyệt đăng: 05-01-2026.
Email tác giả: bpdinh2010@gmail.com
(1), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.300, 427, 427.
(2), (3) ĐCSVN: Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV, Hà Nội, 2025, truy cập tại: https://dangcongsan.vn
(4) Xem: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Kết quả rà soát hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025, Hà Nội, 2022; Ủy ban Dân tộc - Tổng cục Thống kê: Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019, Nxb Thống kê.
(7), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.491, 491.
(9) Bộ Chính trị: Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 12-7-1993 về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới.